Lời dặn của người xưa

Minh hoa 3

Nguyễn Đức Dương

 

1.

Gái thương chồng đương đông buổi chợ; trai thương vợ nắng quái chiều hôm là một câu tục ngữ (TN) ý vị. Vậy, ta thử tìm hiểu xem ông bà ta muốn dặn chúng ta điều gì?

2.

Trước khi trả lời câu hỏi ấy, chắc hẳn chúng ta nên cùng nhau đọc lại lời diễn giải từng được sách vở ở ta dẫn lại nhiều nhất: lời diễn giải của sách Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (1988) do GS. Hoàng Văn Hành (chủ biên) cùng các cộng sự biên soạn hết sức công phu và từng được in đi in lại nhiều lần kể từ ngày ra mắt.

Theo sách trên, câu TN này muốn nêu rõ ba điều:

(a) “[…] phản ánh sự chênh lệch, bất bình đẳng trong quan hệ yêu thương vợ chồng. Tình cảm người phụ nữ bao giờ cũng đậm đà, đầy đặn, mặn mà như buổi chợ đương đông, bởi ngoài lí do giới tính ra, người phụ nữ còn chịu sự ràng buộc của tam tòng tứ đức. Ngược lại, tình thương yêu của người con trai đối với vợ thường nhạt nhẽo, thoáng qua, ví như nắng quái chiều hôm le lói một lát rồi tắt ngấm khi mặt trời lặn;

(b) […] phản ánh mức độ khác nhau trong tình yêu vợ chồng. Người con gái luôn luôn thương yêu chồng bằng tình yêu đậm đà, mặn mà, đầy đặn khác nào đương đông buổi chợ. Còn tình cảm của người con trai chỉ đôi lúc nhưng mãnh liệt như cái nắng quái chiều hôm vậy. Nắng quái chiều hôm tuy ngắn ngủi nhưng sức nóng, sức cháy bỏng của ánh nắng xiên khoai này thật là ghê gớm;

(c) […] nói về tính chất biểu hiện tình thương vợ chồng. Khi đã thương yêu chồng, tình cảm của người con gái được thể hiện ra bằng sự hoạt bát, vui nhộn như đương đông buổi chợ. Và người chồng chẳng khó khăn gì trong việc tìm hiểu tình cảm của vợ đối với mình. Ngược lại, chàng trai thâm trầm hơn trong tình yêu. Thậm chí, có khi tình yêu thương của chàng được thể hiện cả bằng sự cáu gắt, khắt khe, nghiệt ngã như nắng quái chiều hôm(tr. 166).

3.

Mấy lời diễn giải kiểu “vọng văn sinh nghĩa” vừa dẫn e khó lòng thuyết phục được ai. Ấy là chưa kể lối diễn giải đó còn để lộ thêm hai điểm yếu rất nên tránh khi diễn giải TN.

Thứ nhất là đã quá sa đà vào việc miêu tả dài dòng, một lối diễn đạt rất xa lạ đối với TN, vì TN, như chúng ta đều biết, là thể loại sáng tác dân gian chỉ chuộng lối nhận định súc tích (kiểu Ruồi vàng; bọ chó; gió Than Uyên - Chó treo; mèo đậy - Vàng gió; đỏ mưa - Nhà gỗ xoan; quan ông nghè, v.v và v.v.) hoặc lối nhắn nhủ cô đọng (kiểu Chị ngã em nâng – Ăn đấu trả bồ – Ra đường hỏi già; về nhà hỏi trẻ – Yêu trẻ trẻ đến nhà; kính già già để tuổi cho – Ăn cây nào rào cây ấy, v.v. và v.v.).

Thứ hai, có lẽ GS. Hoàng Văn Hành cùng các cộng sự đã nhầm khi coi đây là câu so sánh(tức Gái thương chồng NHƯ đương đông buổi chợ; trai thương vợ NHƯ nắng quái chiều hôm, bất chấp một sự thật là trong câu chẳng hề có một từ “như” nào và câu cũng chẳng hề có một dấu hiệu hình thức tường minh hoặc ẩn mặc nào đòi hỏi chúng ta phải diễn giải như thế cả.

Lời diễn giải chẳng mấy thuyết phục đó, đến lượt mình, còn đẩy các tác giả tới chỗ phải phạm thêm một sơ suất nữa: buộc họ phải xử lý hai cụm “đương đông buổi chợ” và “nắng quái chiều hôm” như là hai bộ phận chỉ phương thức/ mức độ của động từ “thương”. Đã lỡ xử lý thế rồi, nên họ đành gán cho hai cụm ấy nhiều nội dung mà nó chẳng hề có và cũng khó lòng có thể có được cho dù xuất hiện trong bất cứ ngôn cảnh nào khác.

Sự khiên cưỡng quá lộ liễu ấy như thầm nhắc chúng ta: hãy tránh đi vào vết chiếc xe đổ ấy. Tức là nên tránh coi câu đang xét như là câu so sánh, mà hãy xử lý nó như là câu rút gọn (tỉnh lược), một lối diễn đạt vốn được TN sử dụng với một tần suất còn cao hơn là so sánh gấp cả trăm lần.

Và một khi đã xử lý như thế thì câu có thể được viết lại như sau:

“Gái thương chồng [thì hãy cư xử như thế nào để có thể bày tỏ được tấm lòng yêu thương ấy ngay cả khi] đương đông buổi chợ (tức đang lúc có cơ buôn may bán đắt); trai thương vợ [thì hãy cư xử như thế nào để có thể bày tỏ được tấm lòng yêu thương ấy ngay cả khi đang khn khổ với cái] nắng quái ác lúc xế chiều”.

Đến lúc này thì việc cần làm chắc hẳn chỉ còn là đi tìm hai biểu thức ngôn từ [linguistic expression] súc tích nhưng vẫn đủ để diễn đạt thỏa đáng các phần đã bị lược bỏ. Do đề tài được câu bàn là tình yêu vợ chồng nên biểu thức ngôn từ tương thích hơn cả có lẽ sẽ là: “HÃY HẾT LÒNG CÙNG CHỒNG/HÃY HẾT LÒNG CÙNG VỢ”.

Bây giờ, ta thử thay hai biểu thức vừa đề nghị vào mấy chỗ bị rút gọn bên trên, rồi kiểm nghiệm lại xem câu có còn đúng ngữ pháp nữa không và, nhất là, có còn giữ nguyên được cái nghĩa vốn có không.

Kết quả thu được từ phép thử này tỏ ra hết sức đáng khích lệ: “Đã thương chồng thì người vợ HÃY HẾT LÒNG CÙNG CHỒNG ngay cả khi buổi chợ còn đang đông đúc; đã thương vợ thì người chồng HÃY HẾT LÒNG CÙNG VỢ ngay cả khi đang phải khốn khổ với cái nắng quái ác lúc xế chiều”.

Từ những gì vừa trình bày, chúng ta đã có thể đi đến kết luận: hai biểu thức ngôn từ vừa đề nghị chắc hẳn là những điều mà ông cha ta muốn nhắn gửi cùng con cháu mai sau. Nói cách khác, ông cha ta muốn dặn chúng ta rằng: đã thực lòng yêu nhau thì hãy hết lòng cùng nhau ngay cả khi ít có cơ may bày tỏ được tấm lòng yêu thương mặn mòi ấy.

Tác giả gửi Văn Việt.

Comments are closed.