Lời ai điếu cho văn học Xô Viết

Minh hoa 3

V. Erofiev

Đào Tuấn Ảnh dịch

Lời người dịch
Năm 1989, phong trào Perestroika ở nước Nga phát triển tới đỉnh cao và lan rộng khắp mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn học Nga, vốn phân hoá thành nhiều thành phần, khuynh hướng, bước vào giai đoạn này đã bộc lộ sự khủng hoảng sâu sắc. Nó đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình, nay đứng trước nguy cơ đánh mất độc giả vì không còn theo kịp bước chân thời đại và trình độ nghệ thuật nhân loại. Để hồi sinh trong một tương lai sáng sủa buộc phải sòng phẳng và “chân thực tới đáy” nhìn lại bản thân. Bài viết của nhà văn V. Erofiev Lời ai điếu cho văn học Xô Viết đã thực hiện điều này và lúc đó nó từng hứng chịu búa rìu của tất cả các phe phái, khuynh hướng văn học.
Cho tới nay, gần 20 năm trôi qua, văn học Nga đã và đang đi theo con đường mà nhà văn thấy trước, để trở thành nền văn học “không lớn hơn, cũng không nhỏ hơn văn học“.
Giới thiệu bài viết này cho độc giả tham khảo, chúng tôi mong muốn tái hiện phần nào không khí tranh luận nóng bỏng trong giới văn học Nga giai đoạn đầu của thời kì hậu Xô Viết. Theo tôi, văn học Xô Viết đã kết thúc. Có thể, thậm chí đó là một cái xác đã nguội lạnh, một nhà tư tưởng đầu to lặng lẽ và như thể e thẹn, từ giã cõi đời. Không sao, tôi sẽ là người cuối cùng khóc trên lễ tang, song tôi cũng sẽ vui lòng đọc lời ai điếu.
Evgeni Zamiatin, tác giả tuyệt vời của cuốn tiểu thuyết Chúng ta đã từng nhận xét vào năm 1920, rằng, nếu đất nước chúng ta không có tự do ngôn luận, thì nền văn học Nga chỉ có mỗi một tương lai – đó là quá khứ của nó. Giờ đây, với niềm hi vọng thận trọng, có thể nói rằng văn học Nga, nếu như được hồi sinh, nó sẽ có tương lai của mình – trong tương lai.
Ở giai đoạn Xô Viết, đương nhiên, có nhiều nhà văn tài năng đã sống, nói đúng hơn, sống sót hoặc sống lay lắt, song, nếu vận dụng cách nói mang tính luận chiến của Gorki giai đoạn cuối, thì họ chỉ là “những công dân máy móc” của nền văn học Xô Viết, nền văn học trở thành khuôn mẫu cứng nhắc [1] , thậm chí đối với cả những kẻ cuồng tín của thế giới mới như Maiakovski. Những thập niên cuối hậu Stalin, văn học Xô Viết dần từng tí một độc quyền các nhà kinh điển đã chết của thế kỉ XX, đưa họ vào đội ngũ của mình và cứ như không, hôn khuôn mặt chết của họ bằng nụ hôn đao phủ và rỏ những giọt nước mắt cá sấu, tuyên bố mình là nền văn học nhân đạo nhất quả đất. Nó sẵn sàng phong thánh cho hầu hết những nạn nhân lừng lẫy của mình – từ Andrei Belyu tới Pasternakh, từ Zosenko tới Platonov. Tính tạp thực “nhân đạo” cổ lỗ đó chỉ là dấu hiệu của sự già nua, bất lực, thoái hoá bên trong, sự vô tài và đạo đức giả của nó. Tôi không biết người nào viết Sông Đông êm đềm, Solokhov hay ai đó, song bản thân việc nghi ngờ bản quyền tác giả lôi cuốn các nhà ngữ văn thật đáng kinh ngạc như một biểu tượng về sự hư hỏng cố hữu từ bên trong của văn học Xô Viết.
Có thơ và văn xuôi Nga thời kỳ Xô Viết, cũng như có thơ và văn xuôi các dân tộc khác trên lãnh thổ Liên Xô, nhưng nói về văn học Xô Viết như sự gắn kết tất cả những cái đó vào một chỉnh thể thống nhất – có nghĩa đã đắm chìm trong ảo tưởng. Nhiều năm trời các nhà văn vì kế sinh nhai đã phải thoả hiệp không chỉ với lương tâm mình, mà với cả nghệ thuật của mình – điều tàn phá họ không kém. Một số người đã thích nghi, số khác bán mình (song cũng chẳng ai thoát khỏi cái roi khủng bố), loại thứ ba treo cổ tự vẫn, nhưng tất cả những nỗi thống khổ đó, cùng với sự khoá miệng, chọc mắt, bẻ chân tay của kiểm duyệt, sao có thể trở thành thứ xi măng tốt để xây tháp Babylon văn chương được.
Tháp không phải bằng ngà, mà bằng xương của các nhà văn Nga, được xây không phải từ tổng thể những thoả hiệp, mà từ sự chuyên chế của đơn đặt hàng xã hội đòi hỏi văn học không phải sự phục vụ trung thành, mà là phục tùng mù quáng đường lối chung và những dích dắc của nó là sự nhạo báng ngay cả chính những cái đã được kiểm tra, là sự thử thách không phải độ bền vững của đức tin, mà thử thách bản chất con người trước sự đê tiện.
Văn học Xô Viết là con đẻ của quan điểm hiện thực xã hội chủ nghĩa được nhân lên bởi sự yếu đuối của cá tính con người nhà văn lo bảo vệ miếng cơm manh áo của mình và mơ ước vinh quang cùng chỗ đứng bên cạnh quyền lực, cạnh những kẻ, nếu không bôi nhọ thánh thần, thì cũng bôi nhọ tư tưởng nhân loại. Sức mạnh chính quyền, sự yếu đuối của bản tính con người; tổ hợp mang tính xã hội của văn học, theo ý kiến của nhà triết học tinh anh đầu thế kỷ XX Vasili Rozanov, là lỗi lầm chính của cách mạng. Tính lộng hành của những kẻ lỗ mãng mượn màu cách mạng biến thành tính không tưởng của cuộc “cách mạng văn hoá” và cuối cùng chủ nghĩa manhikhéistvo [2] kiểu Stalin – tất cả điều đó cùng hàng loạt những cái nằm trong nền tảng công cuộc xây dựng nền văn học Xô Viết, và, khi “ván xây dựng” những năm 20 bị rời ra, thì quả có cái để mà kinh ngạc.
Toà tháp khổng lồ của văn học Xô Viết hiện thực xã hội chủ nghĩa theo thiết kế của Stalin và Gorki mang phong cách barok, nhiều phòng, được tính xây cho muôn đời và sống trong đó là những Aleksi Tolstoi, những Fadeev, Pavlenko, Glagkov và Gaida – tất cả không thể đếm xuể. Mặc dù được xây cẩu thả (có quá nhiều bột nhão rẻ tiền), toà tháp này tồn tại qua hàng thập niên, được phiên bản ở những nền văn hoá hiện thực xã hội chủ nghĩa kề cận khác.
Giờ đây nghĩ tới sức sống, sự bền bỉ của nền văn học này, ta thấy kinh ngạc trước sự kết hợp lạ lùng giữa tính hiện thực và tính hoang đường viển vông của nó. Nó hiện thực trong tính hoang đường điên loạn và hoang đường vì tính hiện thực vụng về của mình. Nó có vẻ như rất dễ bóc trần từ bên ngoài bởi tính nguỵ tạo tư tưởng, điều chỉ cần chọc chích bằng cây kim châm biếm là nó thể nổ tung như bóng bay. Nhưng dù có châm chích như thế nào nó cũng vẫn không nổ, là bởi chính tính giả tưởng của nó còn có những người bên ngoài tôn sùng và phục vụ như Aragon. Và tính giả tưởng, nguỵ tạo này, dù thật hay không thật như tiền giấy, được đảm bảo bằng tất cả nguồn dự trữ quốc gia.
Giờ đây tất cả những thứ đó đều đã đổ vỡ. Ngôi nhà bị nứt móng, quả bóng bay đã bị nổ, sự đảm bảo bằng vàng đã hết, bắt đầu sự phá sản. Mà mới chiều hôm qua mọi cái còn gắn kết với nhau tốt đẹp tới thế – nhà văn, trợ thủ của Đảng, nghệ thuật phục vụ nhân dân.
Nền văn học này còn chưa kịp chết, mà ta đã nghĩ liệu nó có từng tồn tại hay không? Chẳng bao lâu nữa các nhà nghiên cứu văn học – những vị khách du lịch sẽ ngó xuống cái đống đổ nát của nó – quả một cuộc tham quan thú vị.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa – đó là một thứ xạ khí văn hoá, là sự điên loạn của văn chương bị nhốt trong một không gian chật hẹp khép kín, đó là loại nhà văn sadomazo vô thần bán rẻ linh hồn mà anh ta không tin. Có một đất nước tên là Tukhlandia [3] . Chúng ta sống ở đó đã nhiều năm. Đất nước này có nền văn học của mình, nền văn học Tukhlandia.
Những năm cuối đời, qua được cú sốc Stalin, văn học Xô Viết tồn tại (theo quán tính – cái gọi là life after life – những người kế tiếp nó vẫn còn đang tồn tại đến bây giờ) ở ba bộ phận. Từng bộ phận hiện đang nếm trải khủng hoảng.
Tôi nói về văn học chính thống, văn học nông thôn văn học liberal, hiểu rõ tính ước lệ của cách chia này, bởi những bộ phận văn học ấy thường xuyên có hiện tượng xâm nhập lẫn nhau. Ngoài ra, mỗi nhà văn có tài ở mức độ nào đó đều có thước đo riêng của mình và thường là không xếp vừa vào một sơ đồ nào. Tuy nhiên, tính sơ đồ gần như bao giờ cũng là cơ sở cho cái nhìn phân tích, và những mất mát do nó đem lại được đền bù bằng tính rõ ràng của bức tranh chung.
Văn học chính thống mang truyền thống Stalin và dựa trên nguyên tắc tính Đảng được xác định vào những năm 30–40 của thế kỉ trước. Bản chất của văn học này là khát vọng hừng hực hướng tới những nhiệm vụ ngoài văn học, xây dựng con người mới mà giới li khai gọi bằng thuật ngữ homo sovieticus và dẫn tới chức năng xã hội đơn điệu. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa dạy phải nhìn thực tại trong khí thế cách mạng, chính vì vậy nó phủ nhận thực tại vì tương lai, mang định hướng khắc phục cái đang diễn ra, tràn ngập những hứa hẹn trống rỗng và sự hằn thù giai cấp không giới hạn.
Trong thời kì Bregienev, cũng như xã hội nói chung, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mắc tệ tham nhũng nặng nề. Nếu như vào thời Stalin các nhà văn phục vụ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì thời Bregienev, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa phục vụ quyền lợi của nhà văn. Tác giả sử dụng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải để khẳng định lí tưởng, mà để tự khẳng định mình. Bề ngoài điều này không dễ nhận ra, song bên trong nó phá vỡ dần bản thân tinh thần phục vụ vô điều kiện, và về thực chất, đã góp phần cho sự suy đồi của toàn bộ hệ thống, cuối cùng dẫn tới việc xã hội bắt đầu biến đổi mô hình của mình. Chính trong lòng chủ nghĩa Bregienev đã nảy mầm perectroika.
Đặt câu hỏi đại loại: kiểu nhà văn chính thống thời Bregienev, chẳng hạn như G. Markov, tin tưởng bao nhiêu vào những điều anh ta viết, xem ra có vẻ không đúng chỗ, bởi không được lịch thiệp cho lắm. Về điều này chẳng những không bàn đến, mà còn không cả nghĩ đến. Bệnh tâm thần phân liệt toàn xã hội tạo nên một kiểu nhà văn đặc biệt, trở thành người thể hiện tư tưởng quốc gia ở đằng sau bàn giấy và người sùng bái xã hội tiêu thụ ở nhà nghỉ của mình. Điều này thì can hệ gì tới văn học? Chỉ cần nói tới một điều ít nhiều ai cũng thấy là quan trọng, đó là văn học chính thống có hàng trăm nghìn độc giả mà nó góp phần hình thành sở thích và biến đổi ý thức của họ. Trong điều kiện một xã hội đóng kín, khi mỗi người có vừa đủ cái quyền mà anh ta nhận được bởi vị trí xã hội của mình, loại văn học “nô bộc” [4] không hiếm khi đầu cơ những đề tài bị cấm đoán hoặc nửa cấm đoán. Văn học này, như người ta gọi, là văn học thư kí, được viết bởi những tổng thư kí có ảnh hưởng của Hội nhà văn và chính vì vậy nó được bảo vệ khỏi sự tấn công của kiểm duyệt, cũng như của phê bình.
Các đề tài huý kị bao gồm: Stalin (đề tài được phát triển chẳng hạn như trong các tiểu thuyết lịch sử của A. Chaikovski), những đặc điểm của tính cách Nga (ở đây văn học chính thống gần gũi với mặt bảo thủ của văn học nông thôn), phong trào tập thể hoá, phong trào li khai, di tản, những vấn đề của thanh niên, v.v. Không cần phải nói, ai cũng biết những đề tài này đã bị bóp méo và người đọc bị lầm lạc một cách có ý thức. Nhưng khi những đề tài này xuất hiện trên những ấn phẩm của xuất bản kiểm duyệt, trở thành độc quyền của văn học chính thống, ngang với loại đề tài giật gân về hoạt động ở bên ngoài của phản gián Xô Viết, hay chiến tranh Afganistan, độc giả đại chúng bị đói thông tin hăng hái lao theo những cuốn sách văn học “thư kí” và lấy làm thoả mãn bởi được tiếp xúc với những đề tài hiếm, nóng bỏng này và cùng lúc bị trả giá: đầu óc của họ trở nên hỗn loạn. Bằng điều đó văn học chính thống, nếu không thực hiện nhiệm vụ giáo dục người đọc theo tinh thần cộng sản đến cùng, thì cũng kịp làm cho họ lầm lạc và ngu muội.
Bắt đầu Cải tổ, văn học chính thống bị lúng túng. Nó những tưởng đó là một mưu chước gì đó ở phía trên mà mình không có khả năng hiểu được. Thời gian trôi đi, chính bản thân nó đã lĩnh đòn giáng xuống. Mất mát của nó lớn tới nỗi nó đã mất cả cái raison d’être của mình.
Trước tiên nó đánh mất vai trò nhà tư tưởng và vị thế bất khả chạm tới. Là sản phẩm của một xã hội bịt kín, văn học chính thống chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện của môi trường khép kín. Tuy vậy, phê bình liberal bắt đầu lôi nó ra để cười nhạo, chỉ ra sự bất lực, đần độn và tính khuôn sáo của nó.
Văn học chính thống trở thành kẻ chống đối không khoan nhượng những thay đổi. Sự chống đối rõ rệt hơn cả thể hiện ở những phát biểu của Iu. Bondarev, người so sánh những lực lượng mới trong văn học với bọn phát xít tấn công Liên Xô năm 1941, điều từ miệng người lính cựu đã trở thành lời buộc tội quyết liệt.
Đứng trước sự đổ vỡ của bản thân, lẽ ra văn học chính thống phải dựng lên được những bi kịch tầm cỡ Shakespeare diễn ra với thế hệ lớn tuổi gần 70 năm mới nhận ra sự tồn tại vô nghĩa của mình ở đời, bởi đã dâng hiến nó cho những lí tưởng giả trá trong khi hoàn toàn không tin vào những giá trị siêu hình. Nhưng văn học chính thống quá yếu đuối để phản ánh những xung đột thực sự và luôn chỉ ưa thích đấu tranh bằng những âm mưu chính trị, lợi dụng những mối quan hệ cũ của mình. Có một vài nhà văn chính thống cũng muốn “đổi màu”, song lại sợ người ta không đưa tay cho mình.
Như vậy, văn học chính thống gặp phải vai trò hoàn toàn không thích hợp với nó – vai trò của phong trào chống đối. Đây là vai trò mà nó không có khả năng đảm nhận, bởi về thực chất nó hoàn toàn không có nguyên tắc, và trong hoạt động của mình chỉ biết dựa vào uy tín của người khác. Tuy vậy nó cũng sẵn sàng tìm kiếm những con đường mới, tiến tới gần trào lưu dân tộc mà trước đây nó đã từng kín đáo ủng hộ. Sự có mặt của nó trong trào lưu văn học dân tộc xem ra có vẻ buồn cười (bởi vốn dĩ nó từng ngợi ca tinh thần quốc tế!), nhưng chớ có cười nhạo cái misadventure hiện tại của nó mà bỏ qua việc, nếu như quá trình cải cách bị thất bại, thì khó mà hình dung những đao phủ, những nhà tư tưởng chống đối cải cách điên cuồng hơn là các nhà văn “thư kí”.
Thật ra còn một con đường sám hối, song đi trên đó chỉ có đôi ba người và đó cũng không phải là những đại diện tiêu biểu cho văn học chính thống. Những người khác chủ yếu tự biện hộ cho mình, giải thích việc đàn áp những người khác chính kiến – từ Pasternakh đến những văn nghệ sĩ tham gia vào hợp tuyển Metropol – là do chấp hành mệnh lệnh.
Sự phân hoá và tan rã của văn học chính thống không có ý nghĩa nhiều lắm đối với sự phát triển tiếp tục của văn học, vì giữa các nhà văn chính thống thực ra cũng không có người tài (sự giễu nhại sắc sảo mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa rất phổ biến ở các nhà văn trẻ thuộc trường phái ý tưởng), song sự phá sản của họ dẫn tới những thay đổi có thể cảm nhận được của các thang giá trị trong văn học–xã hội.
Sự suy sụp của văn học nông thôn nhạy cảm hơn đối với đời sống văn học, bởi đây là nói về những nhà văn có tài hơn, và về mặt xã hội là những người có nhân cách hơn.
Văn học nông thôn hình thành trong thời kì hậu Stalin, mô tả hoàn cảnh khủng khiếp của nông thôn Nga do công cuộc tập thể hoá và những bất hạnh của chiến tranh và thời kì hậu chiến mang lại. Dòng văn học này đã dựng lên được những chân dung không phải không chói sáng về những kẻ kì quặc ở nông thôn, các triết gia “cây nhà lá vườn”, những nhà thông thái dân gian, tham dự vào sự phát triển quá trình tự ý thức dân tộc. Nhân vật trung tâm của dòng văn học này là hình tượng người phụ nữ mộ đạo (chẳng hạn như trong truyện ngắn “Sân nhà Matrona” của A. Solzenisin, một truyện ngắn gần với văn học nông thôn), mặc dù phải chịu đựng gánh nặng cuộc đời vẫn mang trong mình thiên tính tôn giáo.
Vào những năm 1970 văn học nông thôn đạt được sự độc lập của mình thông qua những đại diện xuất sắc Astafiev, Belov và Rasputin, truyền bá tinh thần yêu nước. Chính tinh thần yêu nước của văn học nông thôn là thứ mà văn học chính thống rất khoái, song nó không đủ độ quốc gia, và không ít khi bị nghi ngại. Tuy vậy, người ta vẫn cố gắng làm cho văn học nông thôn thích hợp với những nhu cầu tư tưởng, biến nó thành đồng minh trong cuộc đấu tranh với phương Tây, tung ra đủ loại phần thưởng, huân, huy chương. Không phải bao giờ điều đó cũng thành công: văn học nông thôn có sự cao ngạo tôn giáo, thậm chí cao ngạo chính trị, dũng cảm tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường.
Với thời gian, mọi sự đã thay đổi. Và sự thay đổi này diễn ra từ trước Cải tổ, nhưng trong thời gian Cải tổ trở nên sâu sắc hơn. Sự phát triển của phong trào sùng phương Tây trong xã hội Xô Viết, tuy hỗn độn và không được y chuẩn, song lại rất chắc chắn, khiến trong đất nước xuất hiện cơ sở xã hội cho những cải cách, dẫn đến những xung đột ngày càng tăng giữa văn học nông thôn và xã hội. Văn học nông thôn tố cáo, than vãn nhiều hơn là ca tụng. Xuất hiện ba kẻ thù không đội trời chung đối với nó.
Kẻ thù thứ nhất, cũng thật lạ, chính là phụ nữ. Nếu như trước đây trong vai trò người mộ đạo người phụ nữ còn là nhân vật tích cực, thì bây giờ, trong hình tượng người đàn bà nhạy cảm, thậm chí sa đoạ, nhân vật này lại là mầm mống của ác quỷ. Chính là người phụ nữ, trong cơn săn lùng những khoái lạc cuộc đời, đã trở thành (theo tinh thần sô vanh đàn ông) kẻ phái hoại mẫu gia đình Nga và tạo ra loại đàn ông yếu đuối.
Kẻ thù thứ hai là thanh niên và gắn với nó là văn hoá hưởng thụ. Nhạc Rock–‘N–Roll gây cho các nhà văn nông thôn nỗi căm thù nhục thể. Thứ âm nhạc này, theo họ, là anh em về mặt tinh thần với sida. Nỗi căm ghét tương tự gây ra nơi họ còn là aerobik. Với lối suy nghĩ đơn giản, họ cho đó là một thứ khiêu dâm thực thụ. Và cũng không chỉ có thể, bất cứ sản phẩm nào của phương Tây làm thương tổn tới cái gọi là tinh thần Nga thuần khiết cũng đều làm cho họ căm ghét. Trong văn học nông thôn, cũng như trong văn học dân gian cổ, có sự phân chia quyết liệt giữa “người mình” và “kẻ khác”: ta với chúng ăn mặc, suy nghĩ khác nhau và không thể nào hoà hợp ở phương diện con người.
“Kẻ khác” còn là dân Do Thái và những người khác giống nói chung (kẻ thù thứ ba có mặt khắp nơi). Đây là đề tài tế nhị của các nhà văn nông thôn. Họ triển khai đề tài này một cách thầm lén, mờ ảo, vòng vèo, song không hề biết mệt mỏi. Các nhà văn nông thôn thực sự lo ngại ảnh hưởng của người Do Thái đối với vận mệnh của lịch sử Nga. Ý thức “ảm đạm” của họ được tạo bởi mong muốn có từ trong lịch sử: đổ trách nhiệm lên “người lạ” về những thảm hoạ xảy ra trong đất nước, tìm kiếm kẻ thù và bằng lòng thù hận đối với nó khuấy động các phong trào dân tộc. (Mới hiểu tại sao một đất nước chiến thắng phát xít Đức nay lại là nơi phát sinh và bành trướng những phong trào phát xít mới! – Đào Tuấn Ảnh).
Nói một cách ngắn gọn, văn học nông thôn không phải là đề tài mà là một khái niệm thuộc thế giới quan. Ở nước Nga, cũng như ở các nước có số lượng lớn người làm nông nghiệp (Canada, Ba Lan v.v…), loại văn học này có truyền thống lây nhiễm tinh thần cứu chuộc tôn giáo, sự kết hợp kì lạ của hỗn tạp giữa tính vượt trội dân tộc, tính đặc biệt tôn giáo với hàng loạt những thiếu hụt về chất lượng. Cứ xem văn học nông thôn của chúng ta thì thấy rõ. Nó nằm trên trục của văn xuôi tình cảm–trữ tình và tôn giáo. Ngôn ngữ của nó ngập tràn phương ngữ, nhưng cùng lúc lại thống thiết cao cả, nhiều lúc gây nhức nhối khó chịu thậm chí cả khi mô tả những bi kịch thực sự của cách mạng và phong trào tập thể hoá. Các nhà văn nông thôn xem ra không bị cuốn theo các giá trị Xô Viết, song giọng điệu cổ hủ của họ gây ức chế người đọc bởi sự tẻ nhạt, vô vị.
Sự cứu vãn tình thế họ nhìn thấy trong ước mơ thần quyền mờ ảo đầy chất lãng mạn tôn giáo, thay thế những mơ tưởng hão huyền của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là tư tưởng không kém phần quái dị, ở đó lòng hận thù ghen tức chiến thắng tình yêu, và sự suy sụp hiện tại của dòng văn học học này hoàn toàn không ngẫu nhiên: được nuôi dưỡng bằng thù hận nó không tránh khỏi tự tàn phá, làm người đọc hoặc ngạc nhiên, hoặc chán ghét.
Vấn đề quan trọng nhất của văn học Nga luôn là sự phì đại đạo đức, bệnh gây áp lực đạo đức thái quá lên người đọc. Bệnh này mang tính lịch sử, có nghĩa là căn bệnh mãn tính. Có thể tìm thấy nó ngay ở các nhà cổ điển thế kỉ XIX, Dostoevski và Tolstoi. Căn bệnh này luôn được tiếp nhận như một nét đặc trưng của văn học Nga và đúng là đối với người đọc nước ngoài đó là cái một cái gì đấy lạ lẫm, hấp dẫn. Theo tôi, cái khác lạ đó trong sự phát triển thái quá quan điểm xã hội rất thường hay đưa văn học Nga ra khỏi những nhiệm vụ mỹ học, đi vào lĩnh vực rao giảng đạo đức tẻ nhạt. Văn học thường xuyên được đo bằng mức độ gay cấn và tính cấp thiết của những vấn đề xã hội. Tôi không nói rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là không cần thiết, cứ để cho mọi cái tồn tại, song coi văn học dân tộc chỉ là nền văn học có khuynh hướng xã hội, thì đó quả là khổ sai và buồn tẻ!
Văn học nông thôn và văn học liberal, mỗi thứ phì đại đạo đức theo cách của mình.
Văn học liberal, con đẻ của thời kỳ “ấm dần” Khrupsov, đã và đang được coi là một khuynh hướng văn học trung thực. Dòng văn học này tạo dựng nền nếp cho chính phạm trù văn chương và bằng điều đó một thời gian dài đã lôi cuốn được độc giả, lớp độc giả đói sự thật.
Khát vọng của văn học liberal là làm sao nói lên sự thật nhiều nhất, điều đi ngược lại chính sách kiểm duyệt. Kiểm duyệt ở đây đã thể hiện ảnh hưởng của mình ở phương diện cơ cấu hình thức, làm cho văn học liberal suy đồi bằng cuộc chiến với mình và luôn làm nó bị ám ảnh bởi những ảo tưởng; kiểm duyệt đồng thời cũng làm hỏng cả người đọc luôn thích thú mỗi khi nghi ngờ nhà văn che đậy thái độ chống đối, miệt thị [5] . Nhà văn bị chuyên môn hoá về khoản “chống đối, miệt thị” đó thôi không còn suy nghĩ, sáng tạo nữa.
Văn học liberal rất hoan nghênh perestroika và ở vào giai đoạn đầu nó đóng vai trò mà từ lâu đã mơ ước: vai trò thẩm phán luận tội xã hội theo luật định đạo đức và lẽ phải. Song niềm vui sướng không kéo dài: perestroika, khác với thời kỳ “ấm dần” Khrúpsov, đối với văn học liberal là không có đáy và trong cái giếng đó rất nhiều tác phẩm đã bị chìm nghỉm – những tác phẩm mới chiều hôm qua còn được coi là dũng cảm.
Thật thú vị khi một khối lượng lớn văn học li khai bắt nguồn chính từ văn học liberal qua được sự kiểm duyệt dễ dãi thời kỳ hậu Stalin, tức là nhiều tác phẩm li khai một cách ngẫu nhiên. Song ở phương Tây, nơi không bị sự hạn chế của kiểm duyệt, phần lớn những tác phẩm đó đều đã tắc thở bởi có quá nhiều không khí. Các nhà văn liberal, theo logic sự vật, cần phải cảm tạ sự không tự do tiện lợi, những kẻ thông minh nhất trong số họ đã làm như vậy.
Giờ đây sự tự do của tổ quốc, dù nó đầy đủ tới mức nào, đã nhanh chóng làm cũ đi những tác phẩm “dũng cảm”, điều thấy rất rõ ở những tác phẩm như Những đứa con phố Arbát của Rybakov hoặc những vở kịch liberal của Satrov.
Một mảng văn học to lớn được gọi là văn học liberal, đã chết, mang theo mình công sức lao động bao năm trời của rất nhiều các nhà văn. Tôi còn nhớ cái khoảnh khắc đầy kịch tính khi các nhà thơ, lần đầu tiên đứng trên sân khấu, tự do đọc những bài thơ bí mật của họ sáng tác vào thời kì Bregenev, đã lần lượt bị thất bại. Các nhà thơ không còn cần thiết đối với những thính giả trẻ tuổi, những kẻ đã vỗ tay nhạo báng, huýt sáo đuổi họ xuống sân khấu.
“Nhà thơ ở nước Nga còn lớn hơn nhà thơ” – Evtusenko nói, hi vọng bằng câu nói đó tôn vinh vị thế của nhà thơ ở nước Nga. Nhưng ông không hiểu được rằng chính trong vị thế đó nhà thơ trở nên nhỏ hơn nhà thơ, bởi vì anh ta đã bị suy thoái với tư cách nhà thơ. Ở nước Nga, nhà văn cùng lúc phải đóng nhiều vai trò: vừa là cha đạo, vừa là thẩm phán, là nhà xã hội học, tư vấn về tình yêu và hôn nhân, vừa là nhà kinh tế, lại vừa là nhà thần bí. Đóng nhiều vai như vậy không hiếm khi nhà văn hoá ra lại chẳng là ai cả, không cảm nhận được đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy hình tượng khác thường của văn học. Anh ta thuê mượn phong cách như thể rent–a–car, chỉ để đạt được cái mục đích chức năng xã hội của mình. Chính vì vậy, trước nay ở ta hài hước, giễu nhại bị đối xử một cách nghi ngại, bị coi là sự phá hoại cái nhìn nghiêm túc đối với văn học với tư cách là người khai sáng xã hội, cũng chính vì vậy yếu tố trò chơi trong nghệ thuật làm các nhà quản lý văn học nổi giận chẳng kém gì thái độ chính trị của Soljenisin.
Văn học chống đối xã hội cứng nhắc trong vị thế liberal và li khai đã hoàn thành sứ mệnh xã hội mà than ôi văn học đã buộc phải gánh vác trong thời kỳ của nhà nước khép kín. Trong xã hội hậu không tưởng đã đến lúc phải quay trở về với văn học theo đúng nghĩa của nó.
Văn học mới, văn học tương lai, nền văn học thế chỗ cho cái đã chết, sẽ được trợ giúp bởi kinh nghiệm của Nabokov, Joice, Zamiatin, Platônov, Dobychin, những người khai lập “văn học phi lí Nga”, các nhà văn giờ đây đang được “phục hồi” ở ta. Kinh nghiệm này quý giá bởi nó hướng tới ngôn từ như một thực tại mang ý nghĩa độc lập. Lời – một giá trị tự tại, một sự vật mang nghĩa vật thể. Trong tiểu thuyết, điều quan trọng không chỉ là xây dựng hình tượng con người, tính cách xác định, mà còn là cái mà tôi có thể gọi tên một cách giản dị – văn xuôi.
Giờ đây xuất hiện một văn học khác, một nền văn học đối lập với văn học cũ trước hết bởi nó sẵn sàng đối thoại với mọi nền văn hoá, kể cả nền văn hoá xa xôi nhất về mặt không gian và thời gian, để kiến tạo một cấu trúc đa nghĩa, đa phong cách dựa trên kinh nghiệm của triết học Nga từ Tradaev tới Florenski, kinh nghiệm hiện sinh của nghệ thuật thế giới, những phát hiện của triết học bản thể thế kỷ XX, những cái, nhìn chung, từng nằm bên ngoài văn hoá Xô Viết, để thích ứng với điều kiện của tự thể hiện tự do và khước từ tính đầu cơ báo chí.
Đối với chúng ta, đối thoại với những nền văn hoá khác cần thiết như khí trời để thở. Trong sự cách li văn hoá, một lần nữa, chúng ta đánh mất cơ may có được để vượt qua chủ nghĩa tỉnh lẻ và sự chai lì hủ lậu.
Sự kết thúc nền văn học mang gánh nặng của tính xã hội thái quá cả ở mảng chính thống cũng như mảng li khai của nó có nghĩa bắt đầu khả năng của một cuộc hồi sinh. Những mầm mống của một nền văn học khác, dù chúng có nhỏ bé như thế nào, cũng làm cho chúng ta hi vọng.
Như vậy, đó là những lễ an táng may mắn, trùng khớp với lễ an táng nền chính trị–xã hội đồi bại, những lễ an táng mang lại hi vọng rằng ở nước Nga, một đất nước theo truyền thống có rất nhiều tài năng, sẽ xuất hiện một nền văn học không lớn hơn, cũng không nhỏ hơn văn học.

1989


[1]Nguyên văn: prokrustoe loze.
[2]Manhikheistvo: học thuyết nhị nguyên do nhà tiên tri người Iran Mani (216–277) sáng lập.
[3]Từ chữ tukhlyu – lờ đờ, xám xịt, đờ dại.
[4]Nguyên văn: literaturnaia nomenklatura, xuất phát từ từ gốc latinh nomenclator chỉ người nô lệ thời kì La Mã cổ đại có nhiệm vụ phải biết và hô tên khách tới nhà hay tới những buổi tiệc tùng, và cả những món ăn được bưng ra… Từ nomenclatura chỉ danh sách tên người hay danh mục của các lĩnh vực khoa học nghệ thuật. Ngoài ra nó còn chỉ nhóm người có chức quyền thuộc cơ quan của nhà nước.
[5]Nguyên văn “figa v karmane” – figa – t. Nga – “nắm đấm thò ngón tay trỏ ra ngoài” – một cử chỉ thô bỉ tỏ ý khinh miệt.

Theo talawas.

Comments are closed.