Trăng nguyên sơ (kỳ 1)

Tiểu thuyết

Nam Dao


“Trăng nguyên sơ” là cuốn tiểu thuyết tổng hợp từ nhiều thể loại sáng tác trên cơ sở một cấu trúc văn bản mang tính tự truyện nhiều hơn là hư cấu nghệ thuật. Mặt khác, ta cũng có thể coi đây là cuốn sách mang phong cách du ký, mà trong đó, tác giả sử dụng các dữ liệu lịch sử, văn hóa, đạo đức truyền thống như một phương tiện để chuyển tải tư tưởng thẩm mỹ của mình về thời cuộc dưới dạng những ẩn dụ.

Văn Việt trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn cuốn tiểu thuyết độc đáo này.

Văn Việt

Em về mấy thế kỷ sau

Hỏi trăng còn có nguyên mầu ấy không

Bùi Giáng

Cấu trúc tiểu thuyết này kết hợp nào là phóng sự, kịch, rồi cả chưởng với thể cổ điển, tức một món lẩu có đủ yếu tố “hậu hiện đại” có thể gây sốc cho người đọc. Nay cẩn cáo.

Nam Dao

14-11-2007

14-03-2009

1. Đi và tìm

Nghiêng mắt nhìn xuống, nghe người bên cạnh bảo đê sông Hồng đấy, năm nay lại phải đắp đê chống lũ. Con nước mầu nâu đục ánh sắc đỏ lững lờ, xung quanh ruộng đồng sau vụ gặt nằm dài trơ trẽn. Lẳng lặng, tôi bấm chiếc Palm, tìm địa chỉ ghi trong bộ nhớ.

Cách đây hai tháng, hắn chắc cũng như tôi, cũng nhìn xuống sông khi máy bay lượn vòng trước khi đáp xuống. Khi đó, mùa gặt, ruộng chưa hoang vu. Cứ theo trí nhớ những đoạn văn học thuở vỡ lòng, thế nào mà chẳng có đàn cò trắng phau bay về đậu trên những mô đất đợi dăm hạt lúa rơi. Hẳn là thế, khác thế nào được. Hắn xuống máy bay. Rồi hắn về một khách sạn nào đó, đưa hộ chiếu. Lên phòng, hắn viết nhật ký như một thói nghiện ngập. Ở đấy, hắn khôn ngoan chuyển qua email ngay về cho tôi, dặn giữ hộ, đất này lắm kẻ rình mò trấn lột, kể cả nhật ký. Hắn viết:

11-03

“…chiếc xe Toyota của Việt Nam Airline chạy chậm dần, chậm dần. Có người hô, xuống xe, sửa soạn qua cầu vào Kinh. Thế là nhốn nháo lên, xô đẩy nhau. Đặt chân xuống đất, tôi chao người suýt ngã. Đất bùn trơn như mỡ, mầu đỏ như mầu tiết lợn nhầy nhụa. Ngước lên, ô kìa, sao lại chỉ thấy toàn xe trâu kéo. Xe thồ đủ thứ. Giường chõng, bàn ghế, nồi niêu, chăn màn… Nhìn quanh, thật lạ lùng. Mới đây là cô tiếp viên thơm mùi nước hoa Gucci. Bây giờ? Tôi hỏi đi đâu thế này? Có tiếng véo von khúc khích:

“…anh giai ơi, ta di đô từ Hoa Lư về Thăng Long mà”

Tôi quay lại. Cô bé gái vừa cất tiếng nói mở miệng cười, vết quết trầu đỏ thắm, hàm răng nhuộm đen tuyền như những hạt na ánh lên dưới nắng trưa ngột ngạt. Mùi cứt trâu bốc lên thối hoắc. Tôi đành bịt mũi. Mắt liếc như dao bổ cau, cô bé trêu “…chưa về đến Kinh mà anh giai đã văn minh ngay rồi à?”. Thế là các cô đi xung quanh cùng ré lên cười lăn cười lóc.

Chúng tôi nối đuôi nhau, chân bám vào bùn, tay xách nách mang trong tiếng cười nói tung bừng. Nhìn cô bé, tôi ngập ngừng:

“ …lối này đi đến cầu Long Biên, phải không?”

Cô ấy ngạc nhiên:

“Cầu gì thì em không biết, nhưng từ Hoa Lư, trai tráng đã đến bến sông đóng bè ghép lại tháng trước”.

Tôi buột miệng:

“cầu Long Biên do Tây nó xây, xưa gọi là cầu Doumer…”.

Cô bé lại ngặt nghẽo:

“ Thôi đừng lỡm em, anh giai…Anh người trại nào?”.

Ngây người, tôi không biết trả lời làm sao. Cô bé thấy tôi im lặng, nguýt dài, lại trêu “ chẳng phải ngô, chẳng phải khoai…Chàng đi em biết nhớ ai, em chờ”. Nói xong, cô chạy ra sau, miệng hát:

Yêu nhau, cởi yếm, í à, cho nhau

Về nhà, dối rằng, cha với mẹ

Rằng ra ối a qua cầu

Tình tình tình gió bay…

Đám chị em vây quanh nàng đồng thanh “ tinh tình tình gió bay” rồi phá lên cười nắc nẻ, tiếng hát tiếng cười vút lên đậu trên mây chín tầng chót vót. Tiếp tục dấn bước, tôi ngoái nhìn phía sau, nhưng chỉ thấy đôi mắt tinh nghịch xanh mầu cốm non nheo lại chọc ghẹo. Đến gần bờ sông, đám con gái rẽ lên phía thượng lưu. Người con gái hát lúc nãy bấy giờ mới chạy ra sau, nói với lại “ Chúng em đến hồ Dâm Đàm định cư. Có hỏi thì hỏi họ Đào, tên Hạ Trang, quê ở Đống Hải nhé”.

Xe trâu phải vòng xuống hạ lưu, nơi nước cạn ngang lưng để sang sông. Đoàn người khoác gùi trên vai trèo lên những mảng bè cột chặt bằng những sợi chão làm từ vỏ cây sồi bện lại. Sang đến bờ bên kia, lại phải chờ xe trâu. Trời sẫm xuống. Mặt trời tím lịm phớt lên mặt nước mầu hoa cà se sẽ chao đi trong gió chiều. Một kỵ sĩ cưỡi con ngựa ô ở đâu xồ tới, nhẩy xuống, đến thì thào vào tai cụ già râu trắng như cước. Ông cụ nói lớn cho mọi người nghe, “ qua đêm ở đây, mai tốt ngày mới được phép vào Kinh, nghe chưa!”. Đoàn người ồ lên, rồi chia nhau tìm những gò đất khô ráo. Họ túm năm tụm ba thổi lửa, nấu cơm,thỉnh thoảng có kẻ cất tiếng hò lên gọi nhau. Tìm một gốc cây, tôi ngả lưng, nhắm mắt nhưng chẳng sao ngủ được. Chẳng lẽ thoắt một cái tôi từ đầu kỷ 21 lộn ngược gần 1000 năm quay vể thời nhà Lý đang dời đô đến Thăng Long. Thật hay mơ? Không, mùi cứt trâu thối hoăng lên có thật. Tôi đưa tay sờ mặt đất ẩm bùn, bốc một bốc, bóp vụn ra. Đất rơi tơi tả. Đất có thật. Tôi xuống bờ sông rửa tay. Bùn đất trôi đi, tay tôi sạch, và thế là nước có thật. Đất nước có thật, nhưng còn cô bé Hạ Trang họ Đào? Tôi đứng lên, tản bộ đi tìm. Đêm len vào bịt mắt cản đường. Cứ thế, tôi bước, tôi chong mắt nghển cổ ra nhìn. Không thấy Hạ Trang đâu. Có thể Hạ Trang không có thật. Hoặc là tôi đã quay về kỷ 21, thời điểm cách lúc này chưa hơn vài giờ trước khi tôi lên máy bay? Hoặc giả chính tôi không có thật ?”.

*

Đúng như hắn dặn dò, tôi hỏi lấy phòng 403 hoặc 503 tại khách sạn BK. Cô bé tiếp viên lật hộ chiếu, ghi chép, nheo mắt hỏi “ anh về nước lần đầu?”. Tôi lắc. “ Ai bảo mà anh biết phòng 403 để đòi ở đó?” . Tôi đáp “ Ông anh tôi về ở đây độ hai tháng trước bảo tôi thế!”. Nhân dịp, tôi hỏi :

“ Anh ấy thấp người, đeo kính trắng, cũng đến từ Canada…Em có gặp anh ấy không?”

Cô bé lắc đầu, mời tôi xuống Bar ở tầng dưới uống nước, đợi cô làm thủ tục nhận phòng.

Trưa, trời hầm hập, mồ hôi đổ ra như tắm hơi. Đợi đâu mươi lăm phút, điện thoại từ tiếp tân gọi xuống. Tôi lên. Bà quản lý khách sạn, tuổi sồn sồn, tươi cười “ Chúng tôi tiếp thu nhu cầu của khách, nhưng phải tính tiền dịch vụ, chỉ năm đô thôi”. Ngạc nhiên, tôi hỏi “ Phòng trống thì để tôi ở, còn dịch vụ gì…”.

“ Dạ, khách thích mà được chúng tôi thỏa mãn thì trả phí, ở đây như thế. Thoả mãn được, là ở quyền hạn quản lý của chúng tôi mà…Năm đô là lần này thôi, giá phòng thì vẫn 20 đô một ngày, như mọi phòng khác! Phòng 403 là phòng tốt nhất đấy, vừa yên, lại nhìn được ra hồ…”.

Cố lấy vẻ thản nhiên như không có chuyện gì lạ, tôi lẳng lặng thò tay móc túi.

Nhoài người nằm thườn ra, tôi nhắm mắt lấy lại sức. Ngồi trên máy bay gần hai mươi giờ, không kể thời gian đợi chuyển máy bay ở Tokyo, những bắp thịt trong người nhừ ra như bị giần, đầu không còn sức đề kháng, tôi gần như mê mụ. Nửa thức nửa tỉnh, tôi chợp đi, tai nghe loáng thoáng tiếng hắn nghiêm trọng Sắp tìm thấy nó rồi, hãy về giúp một tay, cần lắm! hệt như trong cái mail cuối cùng tôi nhận được cách đây vài tuần.

Người ngoài tưởng tôi và hắn là anh em ruột, nhưng không phải vậy. Tôi vốn là một đứa con rơi, bố mẹ nuôi tôi nhặt về trong vụ đói năm Ất Dậu. Khi đó, hắn mới lên hai. Mẹ nuôi tôi nựng hắn, chỉ tôi, bảo… cho con có bạn. Còn bé, tôi nào hiểu tôi là một thứ đồ chơi. Đến năm lên sáu, tôi mới biết. Phận tôi, nó thế. Bài học đầu tiên là phải biết cam phận. Khi nó cắn cấu, chỉ được khóc. Và chạy. Khi ăn, nhận phần ít. Và có thèm chút âu yếm thì lần xuống nơi U già, một người đàn bà lớn tuổi mắt đã lòa thường ngồi ở góc bếp chẻ rau, vo gạo…Thỉnh thoảng U giấu được cái bánh, cái kẹo, giấm giúi vào tay, giục…” ăn đi, cho U xem!”. Mắt lòa, U nào thấy gì! Nói thế nhưng tôi chẳng oán trách gì bố mẹ nuôi. Không chết đói, đã là may lắm, U thỉnh thoảng dặn tôi đừng quên. Chẳng qua phận tôi nó thế!

Nhưng cũng vì thế mà tôi thực tế. Từ năm lên mười, tôi hiểu để tồn tại, tôi phải mở mắt ra nhìn những người chung quanh. Họ thế nào? Ai thương ai, ai ghét ai? Và nhất là đối với chính mình thì họ ra sao? Tôi không tranh ăn, tranh chơi, lỉnh đi khi bố mẹ nuôi tôi phát thuốc tễ, thuốc bổ…cho đám bốn đứa con đẻ. Tôi biết nhanh nhẩu góp tay vào bất cứ chuyện gì làm được, nhất là khi bố mẹ nuôi tôi có mặt. Tôi cố gắng nói thật ít, không bao giờ tỏ ra ranh mãnh, che giấu tất cả bằng thứ cung cách ngu ngơ hiền lành. Được đi học, lại học cùng lớp, tôi làm sao cho điểm của hắn lúc nào cũng nhỉnh hơn điểm của tôi, tránh thành đối tượng của so đo ganh tị…Tóm lại, tôi không còn tuổi thơ, sống hai mặt, một là cho riêng tôi. Mặt kia là tôi dưới mắt người khác, nhợt nhạt, không cá tính và đôi khi ngu ngu dở dở nhưng hiền lành. Nhưng khi chỉ có tôi đối mặt với tôi, tôi giữ một góc mơ mộng tư riêng. Tôi tưởng tượng gốc gác tôi là con một vị quan lang Mường ở chân núi Tản. Cha đẻ tôi cầm đầu dân quân chống Pháp, tử thương trong một trận giáp chiến. Mẹ tôi bế tôi chạy đến một ngôi chùa, bỏ tôi đấy rồi nhảy xuống giếng tự vận. Sư ông ngôi chùa tôi đặt tên là chùa Thiên Phương ở Lạng Sơn nhặt tôi, rồi vì nhà chùa nghèo không đủ ăn nên phải tìm người khá giả nhờ nuôi. Thế là cái duyên đến buộc tôi vào gia đình bố mẹ nuôi, lúc ấy tản cư từ Hải Phòng. Họ Nguyễn là họ của bố nuôi. Tôi họ gì? Tìm đọc sách nói về dân tộc Mường, tôi tự gán cho tôi họ Bạch. Vâng, tôi họ Bạch, một dòng quan lang xưa oanh liệt nhưng nay thất cơ lơ vận. Và để tạo cho thiếu niên họ Bạch này sinh khí, tôi cho mình đóng vai một điệp viên nhị trùng, xông vào cuộc đời với nhiệm vụ còn nằm trong bí mật. Trong khi chờ đợi, tôi nhận lệnh phải học hành thế nào cho giỏi, đợi ngày thoát ly. Và động cơ ấy khiến tôi chong đèn, học, nhưng học kín, không để ai dòm ngó.

*

Ngủ mê mệt, khi tôi thức thì trời đã chập choạng tối. Với tay rót một cốc nước, tôi uống, đầu óc tỉnh táo dần. Tôi lên sân thượng khách sạn, ngồi hóng gió, gọi một chai Ashahi, đưa mắt nhìn về phía bờ Hồ . Những trụ đèn đã mọc lên, khác thời tôi về Hà Nội mười năm trước. Uống xong cốc bia, tôi mở Palm xem tin nhắn. Không có gì. Tôi lại tìm đọc những bức email lưu trữ :

20-02

“ … Hai thằng Rậm ria và Tiểu quỉ báo sắp đến, tôi hẹn chúng ra Huế nhưng không hiểu sao tôi cứ đợi và đợi. Lần đó, dân đồn “ông về”, nô nức trả tiền vé vào để chiêm ngưỡng” Ông”, đấng sẽ thế thiên hành đạo. Báo chí có loan tin (dĩ nhiên với hoài nghi của những kẻ thực dụng làm báo phải đạo chính thống), và mặc dầu hy vọng là thật, tôi vẫn giữ vẻ e dè, cùng đám nghệ sĩ thuộc ty văn hóa đất Thần Kinh lên đò sông Hương, đi nghe hò Huế trong một đêm tối trời có đủ mưa, đủ gió, và những người đàn bà giọng mặn mà nữ tính của đế đô xưa.

“ Thuyền từ Đông Ba thuyền qua Đập Đá. Thuyền rời Vĩ Dạ tới ngã ba Sình….Lờ đờ bóng ngả trăng chênh …Điệu hò xa vắng đượm tình nước non “ . Giọng ngân dài như không dứt được trong khi chúng tôi đợi người đi dò tin “ Ông” vẫn chưa về. Mưa vẫn mưa rơi, tiếng tí tách buồn bã. Mặt sông lấp loáng ánh dao liếc lạnh rùng rợn. Người đàn bà vừa dứt câu hò nhìn tôi, lo lắng :

“ Ông về thiệt hỉ, anh?”

Ôi đôi quầng mắt thẫm bóng những đêm dài ngước đợi. Tôi nhỏ giọng “ Về…” Ông” sẽ về, nhất định thế!”. Bàn tay nào mượt mà nắm lấy tay tôi, mơn man, như đòi vỗ về, như nhắc một chút ân tình đến từ một mối duyên chẳng ai chờ ai đợi. Nhắm mắt, tôi khẽ nắm lấy bàn tay ấy thay lời cảm ơn, giật mình khi người đi kiểm tin “ông về” đột ngột xuất hiện, miệng cười hô hố, nói lớn : “ Không có “Ông” nào đâu. Một đồn mười, mười đồn trăm, dân xếp hàng mua vé năm ngàn đồng vô xem ông cầm kiếm, miệng giáng những câu tiên tri. Nhưng tui chỉ thấy hình ảnh phập phồng một cái mang cua sống, khá lớn, nhìn có thể tưởng tượng là người cầm gươm, nhưng đâu có nghe thấy chi! Một con nhỏ xưng là cô đồng thì nghe thấy hết, nói lại cho người vô xem. Nhưng công an Thừa Thiên bắt nó tội dùng mê tín dị đoan làm loạn lòng người, và bắt cả chủ nhà tội lừa đảo, buộc hoàn lại tiền vé …”.

Tôi nghe một tiếng thở dài bên cạnh. Bàn tay đó buông tay tôi ra. Tôi với chụp. Vô vọng. Gió lên. Tiếng chèo khuơ nước nhịp thời gian. Trời chợt trở lạnh hơn bao giờ. Tôi biết tôi vẫn còn phải đi tìm…Người đàn bà vừa nắm tay tôi đứng dậy, bước những bước chòng chành lên bờ, để lại cho tôi đúng một cái nhìn ánh màu tuyệt vọng …

Không, tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Câu hát của người bạn rong ca vang lên. Chết, mới tuyệt vọng. Chúng ta chưa có niềm ân sủng cho phép phủi tay ra đi. Và nhất là tôi lại vừa mang ơn một bàn tay níu vào tay mình trong khoang con thuyền chòng chành gió. Mới năm nào tôi viết : Nhan sắc vẽ vời / Lý tưởng viển vông/ Chợt rụng rời giữa có và không/ Mày xanh mi biếc môi hồng/ Tỉnh ra sóng đã bềnh bồng cuộn trôi/ Tôi ơi hỡi, tôi ơi! Mới năm nào tôi đã định tự đi vào miên viễn mà không hỏi phép bất cứ đấng Cao Xanh nào. Nếu đến từ một niềm tuyệt vọng thì tôi ơi, tôi chỉ đáng có đến thế sao. Trong khi từ đỉnh non đến ven biển đấu trường với toàn những kẻ trục lợi tranh danh đang âm thầm tuốt kiếm chém những nhát không khoan nhượng vào đồng loại? Trong khi những người nắm thế quyền đoạt nhà chiếm đất rồi bắt hằng hà sa số nạn nhân cùng nhau hát vang lên bài ca cho ngày mai?

Không thế được, tôi ơi, đừng tuyệt vọng!

Suốt ba ngày, tôi đợi tin Rậm ria và Tiểu quỉ. Tôi lang thang trên những con đường của Huế. Qua cầu Tràng Tiền, ghé chợ Đông Ba, đến Gia Hội… Vòng lại Bến Ngự, ngơ ngẩn ngắm bức tượng Phan Sào Nam xếch mắt nhìn vào tiền đồ. Rồi tôi lại đi. Vào Hoàng Thành, ngơ ngác giữa đám du khách. Tôi luẩn quẩn với một quá khứ nặng như chì buộc vào chân. Tôi lê về phía trước với những bộc phá bom đạn còn ghi nguyên vết ghẻ lở đậu mùa chi chít khoét đục những bức tường cổ đổ nát. Tôi đến chân Khiêm Cung thì gặp người đàn bà tối nọ. Đến gần, người đàn bà ấy làm như không thấy tôi, cúi mặt nhìn những bó hương bó nhang để cạnh chồng giấy vàng giấy bạc. Nàng thoa chút phấn hồng trên má, môi thoáng vết son rất dịu, mắt vẫn đẫm bóng tối ngay khi nắng lên ngang đầu. Tôi im lặng. “ Ông” không về, tôi biết. Nàng ngước lên cười, cái cười không kém thê thảm lần nàng nhìn tôi khi lên bờ tối hôm nọ. Thình lình, nàng bâng quơ :

“ Ai tìm được cho em hy vọng, em nguyện làm vợ, hiến thân này cho, cho hết …”

Tôi hốt hoảng. Lát sau, tôi nghẹn ngào, cố nói :

“ Tôi về là để tìm điều đó cho em, cho tôi, cho tất cả chúng ta…”

Nàng khẽ quay người, thì thào :

“ Thì anh đi đi, chừ cứ đứng đó làm sao thấy!”

Từng câu, từng chữ, nàng thuật lại cho tôi chuyện người ta đổ đi tìm ở dưới Mỹ Sơn, nơi cách Hội An đâu hơn hai ba chục cây số. Rồi giục “… chừ anh đi nghe anh! Bữa mô tìm thấy thì về đây với em!”.

Sáng sớm hôm sau, tôi bắt xe hàng xuống Đà Nẵng.

*

Lần theo bản đồ chi chít tên đường, tôi tìm được phố Lý Quốc Sư. Trước mặt một quảng trường, Nhà Thờ nghễu nghện chọc trời, tường xám xịt dấu vết những tháng năm không chăm sóc tu bổ. Dưới nắng rừng rực chực bốc lửa, tôi vội bước, nhìn số nhà rồi rẽ vào một cái ngách. Chục năm trước, tôi có đến đây một lần nhưng bây giờ chẳng còn nhận ra gì nữa. Quán rượu ngày xưa nay là căn nhà ba tầng bằng gạch, cửa sắt khóa bằng một sợi giây xích sắt to bằng ngón tay cái. Tôi bấm chuông. Một đứa bé ra bảo “ ông cháu đau, không xuống được!”. Tôi nhờ cháu lên gác báo, khẩn khoản dặn : “ cháu cứ nói thế, chắc ông cho gặp! “. Quả vậy. Uốn người, tôi leo một cái cầu thang hẹp, bậc không đều, cao thấp khó lường.

Nhà thơ ngước mắt nhìn tôi. Ông ta đây sao? Mười lăm năm trước, ông đã đứng tuổi nhưng vẫn cường tráng mặc dầu khi tôi gặp, ông mới bị quản chế đâu gần 3 năm vì cái tội chính thức là bán rượu lậu. Tội không chính thức, ai cũng biết, là tội chuyển thơ của ông ra ngoại quốc. Chính hắn cũng bị liên quan. Bị cấm cửa không có nhập cảnh cho tới thời kỳ Đổi Mới mới lại được về, hắn nói hắn oan, có tội thì là cái tội gà chưa sáng đã gáy, kiến nghị chính sách kinh tế gì đó. Nay, tóc ông bạc phau, móm mém, mắt lờ đờ, nằm nghiêng phì phò thở.

“Nhà thơ chắc không nhận ra…tôi!”

Ông lắc. Tôi nhắc lại buổi tôi gặp ông với hắn cách đây mới thế mà đã mươi lăm năm. Ông mỉm cười :

“Lâu nhỉ! Mình trí nhớ kém rồi…Lại mới ngã cầu thang, xương chậu bị vỡ, ngồi lên không được! Xin lỗi phải tiếp khách trong cái thế khó coi này ! “, ông khẽ cười.

Hỏi ông đã gặp hắn chưa, ông nhắm mắt, đáp :

“Bao giờ về cậu ấy cũng đến thăm tôi. Sau dịp Tết vừa qua, cậu ấy từ Đà Nẵng vào…”

“Anh ấy có nhắc sẽ đi tìm chùa Báo Thiên…Thưa nhà thơ, chùa ấy ở đâu?”

“À…Chùa xây cuối đời Lý, bị phá thế kỷ trước mất rồi…Người Pháp xây Nhà Thờ Lớn ngay trên móng nhà chùa, ở góc phố. Làm gì còn chùa Báo Thiên ? Khi cậu ấy hỏi, tôi đã bảo vậy!”

Tôi cân nhắc, rổi ngập ngừng :

“Nhà thơ có biết anh tôi đi tìm gì không?”

“Biết…”

“Nhưng đó là một niềm hoang tưởng…”

Tôi nhẩn nha kể lại cho nhà thơ nghe nội dung những bức email tôi nhận được và kết luận :

“Sợ anh ấy hoang tưởng ở mức bệnh hoạn…Cho nên tôi mới về gấp!”

Nhà thơ mỉm cười, từ tốn :

“Đừng sợ. Một thứ vật quí hiếm như vậy, có hoang tưởng thì cũng tự nhiên thôi. Vả lại, người nghệ sĩ nào chẳng hoang tưởng. Động cơ tái tạo mọi hiện thực phải rẫy bỏ để giải phóng sáng tạo… Hoang tưởng càng lớn thì khả năng nghệ thuật càng cao. Như cái cái nghiệp ấy mà!”.

Ngưng lại lấy hơi, nhà thơ thều thào tiếp :

“ Lấy cái số phôn của Thụy, gọi hỏi xem…Tay này giao du rộng, cũng quen biết anh cậu.”

Bấm đốt ngón tay, ông lẩm nhẩm một mình :

“ …thế là tháng nay không thấy mặt, chẳng hiểu đã tìm ra chưa, rõ cơ khổ! “

Ra đường, tôi vòng lại Nhà Thờ. Đứng dưới mái hiên một cửa hàng bán Mỹ Nghệ cho khách du lịch, tôi ngước nhìn cây Thập Tự cao vút chọc vào nền trời sáng lóa mắt, tưởng tượng cảnh xe bò chở tượng Phật đi để lấy tượng Chúa thay vào thế chân trong một cuộc đuổi nhà đổi chủ. Thế quyền và tâm linh phải chăng là hai mặt một đồng xu trong một thể cân bằng không bao giờ ổn định. Đống xu quay sau cái búng tay của tên làm ảo thuật, quay tít thò lò, và tiếng hô, “ nào đặt cược nào, xấp hay ngửa! ”.

*

Khát đến khô cổ, tôi vào một quán giải khát. Chọn một góc trống, ngồi mở Palm đọc lại những bức mail .

21-02

từ Lăng Cô nhìn xuống, cây xanh lấp loáng nắng vạch một vòng chặn biển sóng uốn lượn cứ như chực tràn vào đất. Xe khách ngừng nửa giờ. Tây-ba lô xuống xe, tay lắc lắc khi đám trẻ con bán Postcard chồm đến, mắt ngước lên nhìn, miệng răng khấp khểnh nhấp nhô ngọng nghịu “pho taodần, bli-bli” ( four thousands, please, please). Đến Đà Nẵng, tôi ghé vào Bảo Tàng Chàm nằm gần bến sông, định mua một tấm bản đồ Mỹ Sơn, xưa là thánh địa của dân tộc đã gần như bị xóa sổ này. Cô bé bán hàng lưu niệm lắc đầu, bảo tôi ra nhà sách. Gọi taxi, tôi vừa nói thì anh tài hỏi liền “ Việt kiều hỉ! Hổng có chỗ nào bán bản đồ đâu, đi mô tui chở cho! ”. Đi đâu? Nói thế nào bây giờ? Tôi vừa kể tôi nghe đồn là có nhiều người đi kiếm thì anh tài cười lớn: “Rồi, tui biết! Đi đào vàng phải hông?Nhưng tui chở chú tới chớ có được vô đào hay không thì còn phải qua “ải” mấy trùm, tui không bảo đảm”. Anh hạ giọng:

“ Ở đây thì cứ có đô xanh là cái gì cũng được, lo chi …”

Xe chạy được khoảng gần một giờ, đỉnh tháp Chàm nhô lên từ đầu những ngọn cây xa xa khiến tôi hoang mang. Tôi đâu có ý định đi tìm vàng. Mặc dầu anh tài “xin” thêm năm đô để giúp tôi móc nối với đường dây một ông trùm anh quen thân, tôi vẫn không mấy yên lòng. Chắc chắn ông trùm sẽ hỏi, không tìm vàng thì tìm chi? Trả lời thế nào nghe cho xuôi tai đây? Thôi, để hạ hồi, linh động đối phó chứ làm sao biết được mọi tình huống! Anh tài chỉ một rặng núi xanh rì đằng trước, kêu : “ trong kia là chỗ mình tìm đó, chú ! “.

Đến eo núi, anh tài thắng xe, móc điện thoại di động, không nói gì nhưng bấm tin nhắn. Lát sau, anh rồ máy, quẹo xe vào một con dốc, nhấn ga. Đi chừng ba trăm thước, một người vai đeo AK ở đâu xô ra, tay làm dấu, quát : “ ngừng!”. Mắt trừng trừng, anh ta bảo chúng tôi xuống xe. Anh tài ghé vào tai thì thào thế nào mà anh ta gật gật. Tôi theo anh gác cửa đi vào con đường bụi bờ quanh co đến trước một cái lán. Lại một người khác đeo AK trỏ tay vào cái ghế đẩu trong góc, lạnh lùng bảo “ chờ đấy!” rồi quay lưng châm điếu cầy rít thuốc, tiếng kêu sằng sặc như bị bóp cổ.

Lúc ấy, mặt trời xế bóng nhưng vẫn nóng gay gắt. Tôi xin một ly nước, lẳng lặng uống, mắt nhìn về chỏm tháp Chàm lung linh chớm nắng. Nhớ lại câu nói của người đàn bà hôm rời Huế, tôi buột miệng “ chắc anh sẽ về, chỉ mai mốt… “. Anh gác nghe, cười khẩy “ muốn thế thì đừng để rắn cắn, rắn độc nhất là rắn mang hình người!”. Được thể, tôi bắt chuyện, hỏi. Anh ta giảng giải “ ai đào được vàng thì kẻ đồng loại bên cạnh trở thành rắn ngay, có lần hết người nọ đến người kia hóa rắn, cắn nhau cướp vàng chết cả đàn. Giọng thương hại, anh tiếp – vì vậy, người ta đi đào đi một tốp năm ba người. Anh đi một mình thì đào không thấy là sống, mà thấy thì chắc toi, hiểu chưa?”.

“ Nhưng tôi có định đi đào vàng đâu! Tôi buột miệng.”

Anh gác hạ khẩu AK trên vai xuống, lùi một bước, mắt lừ lừ nhìn tôi như thôi miên. Chết chưa, tôi đã nói thật, nguy rồi…

*

Theo lời nhà thơ, tôi gọi cho Thụy nhưng máy điện thoại di động hoặc bị tắt, hoặc ở nơi không nhận được sóng. Sáng sáng, tôi lên sân thượng khách sạn ngắm trời Hà Nội lúc còn mờ sương, đợi lúc xuống đi bộ quanh hồ Hoàn Kiếm. Tôi nghĩ về tôi, những được mất, và về cái thời niên thiếu đầy những phút trạnh lòng tủi phận. Thời đó, giấc mơ một ngày sẽ cao bay xa chạy khiến tôi âm thầm trui rèn thứ võ khí thoát thân là học thế nào để có cái may mắn được một học bổng đi ra ngoại quốc. Đó là mơ ước hình như bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng có. Ở tuổi mười tám, chúng tôi có thể bị gọi đi quân dịch nếu thi trượt Tú Tài 2. Nếu đỗ Tú Tài 1 thì đi Thủ Đức ra trường thành Chuẩn Úy, còn không thì vào Quang Trung, chẳng cai chẳng đội tất binh nhì, thế nào cũng bị đem “thí chốt” nếu không khả năng chạy chọt. Chiến tranh đã luẩn quẩn tới ven Thành Phố. Sợ chưa hẳn sợ, nhưng vui thì chẳng mấy vui, đối với một kẻ như tôi chỉ có một giấc mơ là ra đi.

Nhưng hắn, không vậy. Hắn là con đầu lòng, được nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa. Hắn hay ngồi “chầu rìa” hóng chuyện “người lớn”. Chả là bố nuôi tôi quen biết giới báo chí truyền thông, khi gặp nhau” người lớn” bàn chuyện chính trường thời Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, chuyện chống Cộng, rồi chuyện đám nhân sĩ Bắc di cư bị chính quyền Diệm hắt hủi…Hắn được mớ chuyện chính trị tiêm nhiễm, tự cho mình một phận vụ thiêng liêng, tìm sách về nghệ thuật hùng biện trước công chúng, soi gương hoa chân múa tay tập nói cái câu của Tổng Thống Mỹ Kennedy, nhưng bằng tiếng Việt, “ đừng hỏi đất nước làm chi cho ta, mà phải hỏi, ta đã làm gì cho đất nước…”. Tôi cố nhịn cười, tránh tham gia vào những dự án đổi đời của hắn. Không nhúm được ngọn lửa thiêng trong lòng tôi, nhưng có lẽ thương hại, hắn chỉ thỉnh thoảng nhắc chuyện chí làm trai của Nguyễn Công Trứ, xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan. Phải nói hắn thuyết phục được một số bạn bè cùng lứa và viết lách in thơ in truyện trên báo.

Năm ấy là năm học sinh sinh viên “ xuống đường” trong vụ đàn áp Phật giáo của chính quyền Diệm. Trong thành phố, giáo dân và Phật tử xung đột tứ tung. Tin rỉ tai : sắp đảo chính. Hắn không biết thế nào mà “mua” được một số vũ khí của Điạ Phương quân, đem chôn giấu chục khẩu súng trường thời đệ nhị thế chiến, dăm quả lựu đạn… chờ thời cơ khởi nghĩa “ chống độc tài Diệm-Nhu”. Vô tình biết chuyện không phải là đùa này, tôi buộc phải báo bố nuôi. Ông ta cho hắn một trận mắng chửi ra trò. Chỉ kịp chỉ mặt tôi quát “ đồ mách lẻo” thì đã có người đến hỏi hắn. Hóa ra tôi chẳng mách thì mật vụ Nhu-Diệm cũng đã biết, cho rình rập quanh xóm. Thế là bố nuôi tôi phải tìm cách giấu hắn lên Hóc Môn. Và hè năm đó, hắn không thi Tú Tài 2. Đây là lần đầu tôi học, và đi thi, không có hắn bên cạnh. Chạy chọt với công an, bố nuôi tôi lại mang hắn về Sài Gòn để hắn thi kỳ 2, đỗ nhưng điểm không vào hạng xuất sắc. Làm cách mạng, chuyện học thứ yếu thôi, tất nhiên.

Năm sau, tôi lẳng lặng nộp đơn và nhận được một học bổng đi Canada. Đợi đến khi chỉ còn một tháng là lên đường, tôi mới báo cho bố mẹ nuôi tôi biết để xin phép đi du học. Lúc đó, tôi đã 18 tuổi, thành niên rồi, đi hay ở chỉ tùy tôi. Ngày đầu, bố mẹ nuôi tôi không nói gì, vui buồn khó đoán. Phần tôi, tôi sửa soạn hành lý, mặc dầu chẳng có gì để mang theo trừ một xấp thư của N tôi mới gặp hè qua. Ít ngày sau, bố nuôi tôi thân mật ôm vai, nhỏ nhẹ : “ tao định cho anh mày đi cùng, nhà không dư giả nhưng cũng có thể lo được một phần chi phí. Đi xa có anh có em, học bổng của con cũng là cái đỡ đần được…cho bớt lo. Anh mày ở đây thì còn rầy rà với mật vụ, sớm muộn chúng nó cũng tìm cách đẩy vào lính cho mà xem…Con thấy thế được không?”.

Tôi lên đường. Lần đầu ngồi máy bay, tôi ngắm những đám mây trắng ngang tầm mắt, không thấy luyến tiếc bất cứ gì. Giấc mơ suốt thiếu thời đang chắp cánh vượt những khoảng xa tôi ngợ chẳng bao giờ lấp cho nổi. Ba tháng sau, hắn cũng đến Quebec, nơi tôi đi học. Khi đó, chính quyền Diệm-Nhu bị lật, cả hai bị bắn chết. Chắc chắn hắn không còn bị mật vụ nào rầy rà. Hắn lấy hộ chiếu, đi dạng tự túc, hớn hở kể ngày cách mạng thành công và kết “ tiếc là không có mi ở đó, vui lắm…”.

*

Mất ba ngày tôi mới liên lạc được với Thụy. Anh ta đi quay phim ờ Quảng Bình, về đến Hà Nội mới mở e- mail , nhận tin tôi và gọi điện thoại. Hỏi, anh đáp :

“ Tôi gặp anh ấy đâu tháng trước, cùng đi với hai người bạn! Tôi không biết tên, nhưng một cậu cao to, để râu, nói giọng Bắc. Còn cậu kia, trẻ hơn, da trắng như da con gái, nói eo éo, giọng lai nửa Bắc nửa Nam…Hình như họ là Việt Kiều cả. Họ rủ nhau đi tìm…”

“ Tìm gì hả anh ?”

“ Chịu, giời mới biết được! Chỉ thấy họ nóng nẩy ra mặt. Mấy ngày sau, anh ấy hỏi tôi cách xuống đáy núi Nùng, và làm thế nào móc nối được một người dẫn đường… Tôi giới thiệu một tay xưa là đặc công, từng xung phong vào chiếm Tân Sơn Nhất ngày Giải Phóng!”

“ Rồi sao, anh ?”

“ Sau thì tôi đi xa nên không biết gì thêm. Nhưng anh đợi tôi hỏi thăm cô bé Trang xem sao. Tôi gặp anh ấy uống bia với cô Trang chỗ nhà Thủy Tạ ở ven hồ…Chỉ sợ cô ta về quê rồi! “

“ Vâng, mong anh giúp cho. Tôi lo, anh ấy …có vẻ không mấy bình thường!”

“ Lo gì cơ ? “

Không muốn nhắc đến những bức mail quái lạ, tôi bịa:

“ Anh tôi bị tiểu đường, thuốc insulin mang theo lại hết!”

“ Ở đây thì cứ có đô xanh là cái gì cũng có…”

*

Đầu tháng 6, Hà Nội là lò lửa nung cho thân người chảy thành nước. Ngủ không được. tôi dậy từ lúc trời còn chập choạng tối, lên sân thượng khách sạn ngồi. Nhìn xuống, nước hồ Hoàn Kiếm lóng lánh gợn ánh đèn quanh hồ, tháp gươm mơ hồ ẩn hiện. Bên kia, chiếc cầu sơn đỏ bắc vào đền Ngọc Sơn nhìn như vành môi mếu xệch của một thiếu phụ mỏi mòn. Thỉnh thoảng, dăm ba người lầm lũi bước, bóng khấp khểnh trên hè phố. Lòng đường vắng xe an bình chứ không dọa dẫm, và thật là thần tiên khi tai không nghe tiếng xe máy khằng khặc hầu như suốt ngày, từ sáng sớm cho đến quá nửa đêm.

Quái, có tiếng gà gáy nghe ngay giữa thành phố. Trời sáng dần. Bóng người lao chao trên con đường ven hồ. Hàng đoàn, họ đi ngược, đi xuôi. Tiếng người bắt đầu xôn xao. Tôi xuống đường, nhập vào đám đông, đi theo đoàn người chuyển động theo chiều kim đồng hồ. Họ bước những bước dài, hít thở theo nhịp chân, nét mặt còn chút thư giãn đầu ngày. Ở những quãng rộng, có người chăng lưới đánh cầu lông. Gần nhà Thủy Tạ, hơn ba chục người xếp thành ba hàng, tay đưa lên, chân co vào, chuyển mình theo tiếng của ai đó gọi tên thế múa những bài quyền Thái Cực. Tôi bước. Người bên cạnh bước. Người đàng trước bước. Người đàng sau cũng bước. Thật an toàn khi có những người, hệt như mình, cùng một động tác, cùng một hướng đi. Khỏi phải nghĩ. Cứ thế mà tiến đến phía trước, như mọi người. Cùng với mọi người. Cảm giác chỉ là một thứ hạt cơ bản quay vòng vòng mà không cần gì đến ý thức khiến tôi lâng lâng bay bổng. Cứ thế, tôi để tâm trí trống rỗng trên quĩ đạo những bước chân vòng vòng quẩn quanh, cứ đúng 30 phút lại quay lại khởi điểm là chân cầu Thê Húc.

Đi đến vòng thứ sáu, hạt cơ bản bị một cái sốc ngoại sinh. Đó là một con bé con khoảng mười hai muời ba tuổi. Tôi từng thấy nó lê la ở góc phố Hàng Trống và Bảo Khánh, nơi tôi ghé uống cà phê mỗi sáng. Không biết từ lúc nào cái hạt bé bỏng đó bước theo bước chân tôi, nhưng đến vòng thứ sáu nó mới níu áo tôi lại, miệng nói:

“ Chú không mệt hả?”

Tôi chậm chân, lắc đầu. Vẫn bước, tôi bảo:

“ Mỗi sáng đi bộ thế này tốt lắm…Nhất là khi chưa xe cộ, không khí còn thở được!”

“ Chú cho cháu tí tiền ăn sáng nhé. Nó ráo hoảnh – …đi theo chú đến đói giã họng ra, tí nữa thì hụt hơi! “

“ Ai bảo theo mà theo…”

Tôi ngừng bước, tay móc tiền đưa cho con bé năm nghìn.

“ Có thế thôi hả chú Việt Kiều ?”

Cơn bực mình ở đâu ùa đến. Làm sao nó biết mình là Việt Kiều? Năm nghìn chưa đủ thì bao nhiêu mới đủ? Tôi nhìn vào mặt con bé. Nó đen đủi, mắt to, mũi hơi hếch, tóc kẹp, miệng hé ra cười duyên.

“ Sao mày biết tao Việt Kiều? Bát phở Thìn ở bên kia đường chỉ tám nghìn, cho mày năm mà còn chưa đủ à? “

Con bé nghếch mặt:

“Chú Việt Kiều thì dễ biết quá, chỉ Việt Kiều mới ở khách sạn. Còn như muốn ăn bát phở thì không đủ, chú biết đấy. Nó chìa tay, giọng nũng nịu – chú cho thêm ba nghìn đi!”

Tôi lắc đầu, giật áo bước đi không ngoái lại. Loa phát thanh của khu phố lúc đó oang oang đọc tin buổi sáng. Tôi không nghe. Và hình như cũng chẳng ai nghe, người đi bộ vẫn bước, người múa quyền Thái Cực vẫn co chân giang tay. Đám đánh cầu lông cãi cọ được thua, có kẻ sẵng giọng văng tục. Anh công an đứng nhìn, tủm tỉm cười. Xe máy bắt đầu lượn vòng, mùi xăng xông lên. Tôi đến góc Lê Thái Tổ và Bảo Khánh. Một cụ bà lưng còng nhấp nhổm qua đường, mắt toét nhèm, đầu lắc lư nhìn ngang nhìn ngửa. Tôi bảo cụ nắm tay cháu, ta cùng qua. Bà cụ gật gật. Nhưng trong lòng đường, tôi nhích lên một bước rồi lại phải lùi xuống. Nhưng chiếc xe máy cứ vùn vụt lao thẳng tới. Con bé con ở đâu lại xồ ra. Nó gọn lỏn “… theo cháu” rồi cứ thế đi qua đường, không thèm nhìn trái, nhìn phải. Bà cụ hấp tấp chạy theo. Con bé đặt chân lên hè phố bên kia thì tiếng phanh rít lên, tiếng va đập và một tiếng kêu ối giời ơi, sau là tiếng chửi. Tôi xoè tay ôm mặt không dám nhìn, chỉ nghe tiếng chân người chạy. Và tiếng công an huýt còi.

N.D.

Comments are closed.