Hoài niệm Nguyễn Huy Thiệp

Thiền Zen (Paul Vân Thuyết)

Chân dung Nguyễn Huy Thiệp – ký họa của Thiền Zen (Vân Thuyết)

Nguyễn Huy Thiệp – nhà văn kiệt xuất đương đại Việt Nam – đã ra đi vào miền siêu thoát…

Sự xuất hiện của ông trên văn đàn Việt Nam đã tạo nên những chấn động dữ dội, có ma lực cuốn hút gây ấn tượng mãnh liệt đến hàng triệu bạn đọc trong nước và người Việt ở hải ngoại. Hầu hết bạn đọc đều ngưỡng mộ tài nghệ văn chương của ông… nhưng cũng có khá nhiều các đồng nghiệp ở cả trong nước và hải ngoại, trong đó không ít những kẻ ghen tỵ đố kỵ tỏ ra xem thường, dùng những ngôn từ “búa rìu” vào văn từ bút lực học thuật của Nguyễn Huy Thiệp. Đôi khi tôi thầm nghĩ: “Đồng nghiệp là kẻ thù của nhau… Và mọi sự khen chê của ta đều có thể làm tăng thêm những kẻ thù ghét ta. Có phải bản tính con người luôn là vậy!?”.

Tôi không có vinh hạnh được kết giao bạn bè với Nguyễn Huy Thiệp… chỉ tình cờ không hơn năm lần gặp tiếp xúc ở quán café phố Hàng Hành, café Lương Ngọc Quyến và ở Nhà Triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam 16 Ngô Quyền. Tôi được Nguyễn Huy Thiệp viết ký tặng tập truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát.

Tôi vẫn nhớ vào một buổi sáng mùa thu năm 1991 tình cờ gặp Nguyễn Huy Thiệp tại một quán café ở phố Lương Ngọc Quyến… Tôi nói với Nguyễn Huy Thiệp: “Anh là thiên tài văn chương. Nguyễn Huy Thiệp không nói gì, chỉ cười và cười rất tươi…

Thi thoảng nói lắp, ông giao tiếp mềm mỏng, lịch lãm, thâm trầm, là kẻ khôn ngoan tinh quái đời, rất đa nghi không tin bất kỳ ai, có vẻ ngạo mạn ngầm. Nguyễn Huy Thiệp từng có những phát ngôn táo bạo… Ví dụ như: “Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả.” (Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn, tạp chí Ngày Nay, cơ quan của Hiệp hội Các câu lạc bộ UNESCO Việt Nam, số 6 năm 2004). Đại loại thế.

Vẻ bề ngoài của Nguyễn Huy Thiệp mang tâm trạng u tịch mờ tối nhưng bên trong ông, nội tâm ông có lẽ phảng phất phát sáng đức kiên nhẫn sáng suốt sâu xa rộng lớn…

Đọc những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp: Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Con gái Thủy thần, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê, Không có vua, Trương Chi, Những ngọn gió Hua Tát, Tướng về hưu… ngoài nội dung của từng truyện ngắn (hầu hết lấy tích xưa để ngầm suy xét nghĩa lý nói về thời nay và những cái vô thường nghiệt ngã của cuộc đời), trong từng câu từng chữ, văn phong bút pháp phảng phất giọng kinh sử xưa, như sóng trào thác cuộn, trần trụi đau đớn tê buốt nhói lòng đến sâu thẳm tâm can. Ông dùng ngôn từ rất đắc địa, có khối hình chắc nịch chuyển động xoắn xuýt ma mị mang tính biểu tượng siêu thực, có dòng điện áp mạnh gây ám ảnh – tạo sự xung động nội tâm mãnh liệt, có sự trần trụi bạo liệt mang bóng dáng chất thơ đã làm khuấy động tâm can đánh động lòng trắc ẩn, khiến con tim ta rung động thao thiết… như những khúc nhạc cổ xưa được phối khí thổi hơi thở thời đại vào từng nốt nhạc…

Hồn cốt văn từ của  Nguyễn Huy Thiệp phát lộ ra phẩm hạnh của chính tâm hồn Nguyễn Huy Thiệp. Có lẽ ông là người nghiên cứu rất kỹ nghĩa lý kinh sách văn chương cổ. Mọi câu chuyện  lời văn của Nguyễn Huy Thiệp đều không nằm ngoài luân thường đạo lý con người – điều hệ trong là ông luôn phơi bày khoan sâu vào sự thật trần trụi của cuộc đời. Hầu hết các truyện của Nguyễn Huy Thiệp đều có sự hiện diện của: “danh – sắc – tài – vị” – đó là những phẩm hạnh làm nên số phận của mỗi kiếp nhân sinh. Qua diễn tả cái ác – đôi khi người ta tưởng rằng Nguyễn Huy Thiệp tuyệt tình với phẩm hạnh con người – Nguyễn Huy Thiệp bày tỏ sự đau đớn chua xót giằng xé nội tâm cho thân phận con người mà ông đã nhìn thấy nhưng bất lực không thể tham dự làm thay đổi để cuộc sống có thể trở nên tốt đẹp hơn – và chính việc phơi bày sự thật trần trụi đó đã giúp tâm hồn chúng ta được thức tỉnh được khai sáng.

Chúng ta hãy thưởng ngoạn một đoạn văn trong truyện ngắn Kiếm sắc:

Ánh họp các tướng, bàn kế hoạch đánh ra Thăng Long. Lê Văn Duyệt tâu: “Bắc Hà có nhiều danh sĩ tài giỏi. Sao cho cờ của ta đến đâu, bọn khốn nạn này mà theo thì dân chúng cũng phải theo thôi”. Ánh bảo: “Không được. Ta ủy mệnh trời, cần gì mua chuộc ai? Ta đến đâu, đào hố đến đấy, chôn chúng nó xuống, dân chúng không theo không được”. Quan tướng ai cũng thấy phải, ngồi yên lặng cả.

Ðêm ấy Ánh thao thức không ngủ được, gọi Lân đến bảo múa kiếm cho xem. Lân cầm thanh kiếm gia truyền, múa loang loáng, nghe như có gió thổi bốn bề. Ánh nhìn toát cả mồ hôi, đoạn bảo đưa kiếm cho xem. Ánh cầm thanh kiếm hai tay, phát đứt một cây hoa dại vòng gốc như cột nhà mà chỉ bằng một nhát. Nhựa cây phun ra như máu trắng. Ánh hỏi: “Kiếm của ngươi sao sắc bén vậy?”. Lân bảo: “Ðây là kiếm thần, không rõ xuất xứ, tổ phụ truyền lại”. Ánh hỏi: “Sao bây giờ ta mới thấy nó?”. Lân bảo: “Trước Chúa công chỉ thấy đầu rơi dưới kiếm, bây giờ mới nhìn rõ kiếm. Thế là sắp thanh bình thịnh trị rồi đó”. Ánh cầm thanh kiếm không muốn rời tay.

Ánh hỏi: “Trưa nay khi nói việc ta muốn chôn danh sĩ Bắc Hà, sao ngươi tái mặt?” Lân tâu: “Lân là người Bắc Hà nên tủi phận mình sợ cho mình”. Ánh bảo: “Ta chỉ ghét bọn chữ nghĩa thôi, còn ngươi là con nhà võ thì sợ gì. Chữ nghĩa chúng nó thối lắm, ngụy biện xảo trá tinh vi. Hành tung chúng, ta chẳng lo. Toàn lũ ốm o, như dòi chồn hèn mọn cả”. Lân bảo: “Ða số như thế, chôn cũng đáng. Chỉ có đôi người khá, chúa công được họ thì thêm sang cho chúa công”. Ánh bảo: “Ta không tin bọn nó theo ta. Chúng nó quen tỉ tê với chữ nghĩa thì sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng nó mệt lắm”. Lân bảo: “Thế là chúa công vẫn quen dùng người thường, ở bậc cao nhân còn gì còn chuyện vô đạo, hữu đạo? Tâm ở sự thành, đâu phải ở lòng? Chúng không chịu hiểu là lỗi ở chúng. Ðã ai hiểu việc chúa công dùng Bá Ða Lộc, dùng người ngoại quốc? Chúa công còn phải mang tiếng ba trăm năm”. Ánh lo sợ nói: “Phải làm sao?”. Lân bảo: “Chẳng làm sao được, nhưng bên cạnh chúa công có vài người như Ngô Thì Nhậm thì không sao cả”.

Ánh bảo: “Ta muốn cho ngươi đi trước, chiêu mộ đôi ba người, thế là công to lắm”. Lân sụp lạy: “Ðược thế còn gì bằng, Lân cũng không thẹn mặt với nơi sinh ra mình”. Ánh bảo: “Ta giữ thanh kiếm này để khi ngươi quay về, có tin hay, ta có cớ mà khen thêm. Còn không được việc, ta có linh khí mà trừng phạt”. Lân tái mặt nhưng đành phải chịu. […]

Khi Lân đến được Thăng Long thì Nguyễn Ánh đã vào thành rồi. Quân Ánh đi như nước lụt, Lân như cánh bèo bị sóng cuốn trôi. Thâm tâm Lân cũng chẳng biết nên vui hay buồn, chỉ thấy trong lòng cảm động.

Lân gặp Ánh xin chịu tội vì không làm được việc. Ánh ngồi trên ngai vàng, tả hữu gươm giáo sáng quắc hai bên. Lân tự trói mình, quì xuống sân rồng. Ánh bảo: “Ngươi theo hầu ta thế là chín năm một trăm ngày. Chín năm không làm hỏng việc gì, còn một trăm ngày thì hỏng việc, vô tích sự. Thế là trèo lên cây mà không hái được quả, đáng tội chết”. Lân không nói năng gì, vươn cổ ra chịu chém. Nghe nói Nguyễn Ánh đã sai đao phủ dùng thanh kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân. Khi chém đầu, máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”.

Dưới đây là trích đoạn kết trong truyện ngắn Nguyễn Thị Lộ:

Họ trao thân cho nhau vào một buổi đêm yên tĩnh. Ngọn nến để ở một góc phòng kiên nhẫn cháy. Nguyễn Thị Lộ biết Nguyễn cũng kiên nhẫn cháy như thế khi hình bóng nàng nằm giữa tim ông.

Nàng quay lưng về phía Nguyễn, cởi xiêm áo lộn qua đầu. Thân hình dài dài, thanh mảnh của nàng hiện ra lấp loáng trong bóng tối. Khi nàng luồn vào, nằm nép bên Nguyễn, ông lặng người đi, lòng ngập tràn tình cảm biết ơn vô hạn. Nguyễn lắng nghe tiếng nàng thở dốc. Ông mỉm cười trong bóng tối khi nghĩ rằng cả nàng, cả ông, cả hai hệt như hai đứa bé con. Nguyễn vùi đầu vào bộ ngực mảnh khảnh của nàng. Cảm giác về sự bé nhỏ yếu ớt của nàng, của con người nói chung giữa tự nhiên mênh mông, giữa vũ trụ mênh mông khiến lòng ông nhói đau. Ông, chính ông chứ không ai khác, ông phải chứng tỏ một điều gì đấy bởi sự tốt đẹp thật sự trong thế giới này.

Họ nằm yên lặng, vui thích lắng nghe những tiếng lách tách cháy từ ngọn nến.

Nguyễn cũng đã cháy như thế, cháy bùng như một ngọn đuốc dẻo dai, kiên cường cho đến trót đời.

Nguyễn Trãi đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu đau đớn, bất hạnh, bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn, bao nhiêu vinh quang kể từ ngày ấy. Không một người thưởng nào có được số phận lạ lùng như ông trong 500 năm nay.

500 năm, tức là năm thế kỷ.

Người ta không nhìn thấy vòng danh lợi trong chữ nghĩa của ông. Thẩm mỹ văn phong của ông rất bình dị đời thường nhưng đứng ngoài khuôn phép thông thường của ngôn ngữ văn chương của một thời “dân tộc sống khép kín”. Hầu hết các truyện ngắn ông viết đều có ý tưởng độc đáo, có dụng ý sâu xa ngầm ẩn cái lẽ phi lý bất công ở cuộc đời, có khí sắc hùng thiêng của kẻ bạo loạn văn chương – chúng phơi lộ thấu suốt sự nghiệt ngã vinh nhục trong vòng sinh tử của kiếp phận mỗi con người… và cũng ngầm ẩn chứa phẩm chất tinh hoa bóng dáng tinh thần cao nhã của bậc hiền triết… Ông đã thành tựu sứ mệnh của mình bằng sức mạnh của chữ nghĩa ngôn từ đã khai sáng văn chương Việt Nam thoát khỏi vũng lầy bóng ma của sự tăm tối của một thời thế đạo suy vi tà thuyết bạo hành… Như một bậc hiền triết thời xa xưa, ông đã thức tỉnh lương tri, tình yêu thương con người trong một đời sống u tối thô lậu ngập tràn sự giả tạo dối trá…

Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một tiếng sét khủng mà thinh lặng vô ngôn… lóe sáng chạy vắt ngang bầu trời làm thay đổi chiều quay không gian văn học Việt Nam.

Tôi nghĩ Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn kiệt xuất của dân tộc Việt Nam… là thiên tài văn chương – người tráng sĩ một mình một khiên, một kiếm, cưỡi con chiến mã rong ruổi trên thảo nguyên mênh mông của cuộc đời đầy oan nghiệt dối trá…

Thử hỏi bao nhiêu thập kỷ nữa mới có thể xuất hiện một văn tài kiệt xuất như Nguyễn Huy Thiệp ở xứ Việt Nam… một miền đất nghiệt ngã ở rất xa nền văn minh Nobel.

Thử hỏi ở một quốc gia cộng sản… có mấy văn sĩ có được dấu ấn lẫy lừng như Nguyễn Huy Thiệp… Nguyễn Huy Thiệp đã được thụ hưởng tác phẩm của ông ta đến trọn đời. Đó là niềm vinh quang, là niềm vui vĩ đại của một người làm nghệ thuật. Lịch sử nhân loại có biết bao thiên tài nghệ thuật… sống lầm lũi cô đơn trong nghèo khó rồi yểu mệnh không nhìn thấy tác phẩm của mình được mọi người biết đến… được người đời tôn vinh ngợi ca… Cuộc đời Nguyễn Huy Thiệp như thế có thể gọi là quá thành tựu…

Người xưa nói: “Sắc đẹp của thơ lại ở ngoài mọi sắc đẹp, mắt thường không thấy được; vị ngon của thơ lại ở ngoài mọi vị ngon, miệng thường không nếm thấy”.

Ngôi chùa cổ ngân vang tiếng chuông chiều… xa vắng

Có ai lắng nghe tiếng gió thì thầm lời cầu nguyện bình yên

Có ai không nhớ lời bậc hiền triết tiên tri

“Văn chương không mệnh đốt còn vương”

Có ai không nghẹn lòng thao thiết tâm hồn thi ca Nguyễn Huy Thiệp

Một biểu tượng huy hoàng mang nặng nỗi đau thân phận kiếp con người

Một ngọn nến khai sáng ngồi thiền trên đỉnh núi cao đã rời xa đi vào miền cô tịch dĩ vãng

Ngắm nhìn sông sâu núi cao mà lòng bâng khuâng trầm tư suy tưởng

Sóng thủy chiều dâng những dải bọt trắng… xanh biếc gợi tình

Kìa gió mây vẫn hồn nhiên nhởn nhơ vui thú với bầu trời thu êm dịu

Kìa những cánh chim vẫn mải miết bay lượn vòng quanh

Dẫu biết rằng sinh tử là lẽ thường của kiếp nhân sinh

Thế gian có mấy người không nghĩ đến công danh

Cho dù cuộc đời thuận hay nghịch… biệt vô tăm tích

Tâm trí ta thích những cảnh vật thanh nhã cao sang và suy tư sự thật trần trụi

Tâm trạng ta thi thoảng ngân vang khúc nhạc thiền mà chẳng ai biết

Hỡi ơi! Thân phận mỗi con người… như chiếc lá chẳng muốn rời xa cành

Cuộc đời này

Chỉ có người đẹp và kẻ sĩ ra đi

Để lại trong lòng ta… sự nuối tiếc.

22. 3. 2021

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.