Tobi Trần – Giám tuyển Độc lập

Chiều nay mình đọc được một bài viết về thị trường mỹ thuật Việt Nam và được chia sẻ từ một họa sĩ trẻ. Một bài viết chỉn chu, hợp lý và đầy đủ các luận điểm quen thuộc về minh bạch thị trường, dữ liệu tác phẩm, giáo dục mỹ thuật và cấu trúc niềm tin. Mình không có vấn đề gì với bài viết đó vì nó đáp ứng đúng theo cách hiểu mà những người đứng ngoài thường hiểu về thị trường mỹ thuật Việt Nam.
Nhưng chính vì vậy, bài viết và sự đồng thuận của những người chia sẻ lại bài viết khiến mình thấy cần phải nói một điều khác. Không phải để phản bác mà để đặt lại vị trí của bài viết này về những vấn đề mà tác giả đã đề cập vì giữa việc nhìn vào thị trường và sống trong nó sẽ luôn tồn tại một khoảng cách. Và phần lớn những gì chúng ta hiện đang gọi là “vấn đề” lại thường được phát biểu từ phía bên ngoài của khoảng cách đó.
Chia sẻ với các bạn rằng mình đã và đang nghe đi nghe lại một luận điệu quen thuộc trong nhiều năm, thậm chí là tồn tại hàng chục năm như tác giả bài viết chia sẻ. Thị trường mỹ thuật Việt Nam còn non trẻ, thiếu minh bạch, thiếu dữ liệu và thiếu giáo dục.
Nghe thì rất hợp lý.
Nghe rất dễ đồng thuận.
Nghe đến mức gần như những điều này trở thành một dạng ngôn ngữ nghi lễ mỗi khi người ta muốn nói về nghệ thuật Việt Nam mà không thực sự muốn dấn thân và chạm vào nó để có những giải pháp giá trị thực tiễn.
Nhưng điều làm mình băn khoăn không phải là những gì người ta nói mà là những gì họ không nói. Bởi vì, nếu anh ở trong thị trường này đủ lâu, anh sẽ nhận ra một điều rất đơn giản.
Không có gì ở đây là vô tình.
Không có sự thiếu hụt nào là ngẫu nhiên.
Không có sự trì trệ nào là không có lợi cho một ai đó.
Thị trường này không hề “chưa phát triển” mà nó đã phát triển rồi. Chỉ là nó phát triển theo một logic và cấu trúc mà những người đang hưởng lợi từ nó không có lý do gì để thay đổi.
Người ta nói thị trường thiếu dữ liệu, mình không biết họ đang nói đến thị trường nào. Bởi vì dữ liệu ở đây không hề thiếu, nó chỉ không nằm ở nơi anh có thể nhìn thấy. Nó nằm trong điện thoại của một vài người, nằm trong hệ thống dữ liệu trên laptop của một ai đó, trong những cuộc nói chuyện không bao giờ được ghi nhận lại, trong những mối quan hệ mà nếu anh không thuộc về thì chắc chắn anh sẽ không bao giờ được tiếp cận.
Trong một thị trường mỹ thuật trưởng thành, dữ liệu được công khai là để tạo niềm tin. Nhưng ở đây, ngay tại thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện tại, dữ liệu được giữ lại nhằm để tạo lợi thế về mặt lợi ích riêng. Và khi lợi thế gắn trực tiếp với thương mại, tiền bạc thì chắc chắn không một ai lại tự nguyện từ bỏ nó chỉ vì một lý tưởng mang tên minh bạch.
Vì vậy, mỗi khi mình nghe ai đó than rằng thị trường thiếu thông tin, mình luôn có cảm giác họ đang đứng sai chỗ. Không phải vì họ sai mà vì họ đang nhìn vào một cánh cửa vốn dĩ không bao giờ được mở ra cho họ.
Rồi đến câu chuyện tranh giả trong bài viết khi người ta nói như thể đó là một căn bệnh cần chữa, một vết nhơ cần xóa, một điều gì đó đi ngược lại sự trong sạch của nghệ thuật. Nghe thì rất đạo đức nhưng đạo đức không phải là thứ đang vận hành thị trường dù mọi vị trí trong thị trường từ nghệ sĩ, giám tuyển, phê bình, gallery, nhà sưu tập vẫn luôn đối thoại theo tiêu chuẩn đạo đức của riêng họ.
Mình đã thấy quá nhiều trường hợp mà sự nghi ngờ không ngăn cản giao dịch. Người mua biết có rủi ro, người bán cũng biết nhưng họ vẫn tiếp tục thực hiện giao dịch. Không phải vì họ ngu hay thiếu hiểu biết mà vì họ đang chơi một trò chơi trong đó rủi ro đã được tính vào giá mua, giá bán.
Có những bức tranh mà giá trị của nó không nằm ở việc nó có thật hay không, mà nằm ở việc có đủ người tin rằng nó có thể được bán lại hay không. Đó không còn là vấn đề mỹ thuật mà là vấn đề về tính thanh khoản.
Lúc này bạn sẽ nhận thấy khi một hệ thống có thể vận hành trên một dạng niềm tin như vậy thì việc loại bỏ hoàn toàn tranh giả không chỉ là bất khả thi mà với một số người nó còn không hề được mong muốn vì tranh giả vẫn tiếp tục được giao dịch và tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều người trong các ekip “tử tế và đạo đức sáng ngời”.
Tiếp đến, câu chuyện về nghệ sĩ, họa sĩ cũng thường bị kể theo một giọng điệu quen thuộc. Họ bị phê phán vì lặp lại chính mình, vì vẽ những thứ dễ bán, vì làm hài lòng thị trường nhưng tôi chưa bao giờ thấy ai đặt câu hỏi ngược lại.
Ai đang mua những thứ đó ?
Ai đang tưởng thưởng cho sự lặp lại bằng những giải thưởng hay những giao dịch mua bán?
Ai đang từ chối những thực hành nghệ khó hiểu họa sĩ?
Mình nói thẳng rằng một họa sĩ không sống bằng không khí, họ sống bằng tiền. Và tiền trong thị trường này không chảy về một cách ngẫu nhiên, nó chảy theo những thị hiếu đã được hình thành, theo những gì an toàn và theo những gì dễ treo lên tường mà không làm ai khó chịu.
Khi một họa sĩ lặp lại motif, đó không phải là dấu hiệu của sự cạn kiệt mà là dấu hiệu của một hệ thống thị trường tưởng thưởng cho sự dễ hiểu và phần nào đó có “sự trừng phạt” vì sự phức tạp.
Nếu anh muốn thay đổi điều đó, đừng bắt đầu bằng việc yêu cầu họa sĩ dũng cảm hơn mà hãy bắt đầu bằng việc thay đổi NGƯỜI TRẢ TIỀN.
Quan hệ giữa gallery và nghệ sĩ cũng không khác khi gười ta thích nói về sự thiếu chuyên nghiệp, về cái tôi và về những xung đột cá nhân. Nhưng đó chỉ là bề mặt vì bên dưới là một thực tế đơn giản hơn nhiều.
– Không có luật chơi rõ ràng.
Khi không có hợp đồng, thỏa thuận hợp tác đủ mạnh để bảo vệ cả hai phía thì mọi thỏa thuận đều trở nên tạm thời. Và khi mọi thứ đều tạm thời thì chắc chắn không ai có đủ động lực để đầu tư dài hạn. Không một gallery nào muốn xây dựng một nghệ sĩ trong nhiều năm nếu ngày mai họ có thể bị bỏ rơi và không một nghệ sĩ nào muốn gắn bó với một đối tác nếu họ cảm thấy bị kiểm soát.
Kết quả là một thị trường sống bằng những giao dịch ngắn hạn, nhanh, linh hoạt nhưng không tích lũy được giá trị bền vững.
Rồi trong bài viết người ta lại quay sang đổ lỗi cho công chúng. Họ nói rằng người Việt không hiểu nghệ thuật, không đến bảo tàng và không có gu thẩm mỹ. Những khi thấy những thoái thác này mình chỉ mỉm cười và thấy cách nói này vừa lười biếng lại vừa nguy hiểm.
Nói một cách sòng phẳng và trưởng thành thì công chúng không nợ nghệ thuật sự quan tâm của họ, nghệ thuật phải tạo ra lý do để được họ quan tâm.
Nếu bảo tàng vẫn là nơi im lặng, xa cách và không có ngôn ngữ để nói chuyện với người xem thì việc người ta không đến là điều hoàn toàn hợp lý. Nếu ngôn ngữ triển lãm vẫn được viết cho một nhóm nhỏ những người đã hiểu sẵn thì việc số đông đứng ngoài không phải là thất bại của họ.
– Đó là thất bại của cả hệ thống.
Điều thú vị là tất cả những vấn đề này thường được gom lại dưới một cái tên rất đẹp: giáo dục mỹ thuật và truyền thông. Kiểu như tác giả muốn nói chỉ cần dạy nhiều hơn, nói nhiều hơn và mọi thứ sẽ tự động tốt lên.
Mình tuyệt đối không tin vào điều đó.
Giáo dục sẽ không làm một thị trường trở nên minh bạch hơn nếu sự không minh bạch của hiện tại đang tạo ra lợi nhuận, lợi ích cho một số đối tượng quyền lực khác. Và điều này dẫn đến truyền thông không làm một hệ thống công bằng hơn nếu quyền lực vẫn nằm trong tay một nhóm nhỏ không bị kiểm soát.
Vấn đề không nằm ở việc chúng ta biết ít mà vấn đề nằm ở việc có những thứ người ta không muốn cho bạn biết. Và khi bạn cố chạm đến những điểm đó thì mọi cuộc thảo luận về mỹ thuật sẽ không còn vô hại nữa.
Mình không nghĩ thị trường mỹ thuật Việt Nam đang chờ được cứu như bài viết muốn truyền đạt, mình nghĩ nó đang vận hành đúng như cách nó đã và đang được thiết kế. Một hệ thống dựa trên quan hệ, trên sự mập mờ có kiểm soát và trên những khoảng xám đủ rộng để tạo lợi ích nhưng không đủ lớn để sụp đổ.
Trong một hệ thống như vậy, minh bạch không phải là mục tiêu tự nhiên, nó là một mối đe dọa.
Vậy nên câu hỏi không phải là làm sao để thị trường tốt hơn mà câu hỏi thực sự là:
“Ai sẵn sàng chấp nhận mất đi lợi thế của mình để thị trường trở nên tốt hơn???”
Đến lúc này thì mình phải thừa nhận rằng: cho đến khi có người thực sự trả lời câu hỏi ở ngay bên trên bằng hành động cụ thể thì mọi bài viết về sự thiếu minh bạch của thị trường sẽ chỉ là một cách nói khác của việc chấp nhận nó…