[VẬT PHẨM ĐẤU GIÁ]
– Xuất xứ: Việt Nam, giai đoạn Đông Dương thuộc Pháp
– Niên đại: cuối thế kỷ XIX
– Chất liệu: tranh giấy vẽ màu
– Kích thước: chiều dài 112cm, chiều rộng 52cm.
– Mức giá dự đoán: €80 – €120 (khoảng 2 427 200 VND – 3 640 800 VND) [chưa bao gồm phí đấu giá 24%]
– Tình trạng hiện vật: do được bảo quản tương đối tốt, màu và mực vẫn tươi rõ. Có vài vết rách và nhàu không nghiêm trọng, giấy ố vàng nhẹ, một số chỗ còn dính băng keo.
– Mô tả: một bức tranh Việt Nam, vẽ mực và màu, mô tả một cặp tình nhân đang âu yếm nhau. Đây là mối tình giữa người đàn ông châu Âu với người đàn bà bản xứ. Dựa vào trang phục người đàn bà, có thể thấy người này xuất thân từ khu vực Bắc Kỳ thuộc Liên bang Đông Dương, Đế quốc Thực dân Pháp. Dưới sự cai trị của Pháp tại khu vực Đông Dương, đã có nhiều cuộc hôn nhân Âu – Việt, mà người phụ nữ bản xứ bất chấp tất cả để kiếm cho bằng được một người chồng Tây. Điều này được thể hiện qua phóng sự “Kỹ Nghệ Lấy Tây” của nhà văn Vũ Trọng Phụng, một cây bút trứ danh trong dòng văn học hiện thực phê phán của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Sau đây là vài đoạn trích từ tác phẩm “Kỹ Nghệ Lấy Tây”:
“… Đó là một dân nước nào bên Tây phương? Người Đức hay người Nga? Người Ý hay người Bỉ? Hay một người Ba Lan? Tôi không biết và có lẽ cũng không cần biết rõ đến thế. Điều tôi cầm chắc là bác lính lê dương ấy, thấy một người trẻ tuổi lạ mặt ở giang sơn mình mà đã nổi nóng, tất nhiên có phen bị vợ, hạng phụ nữ Việt Nam đi lấy Tây lừa dối hẳn hoi rồi. Nghĩ kỹ ra người ta cũng có quyền nghi ngờ mình và sinh sự với mình. Lẽ thứ nhất vì người Âu ở Đông Dương có cái thói quen hễ cứ thấy một người bản xứ làm báo thì nghi cho là làm hội kín cũng như thấy một người ăn vận âu phục lại gần nhà mình là chỉ có một nghề đi chim vợ Tây!
Và lẽ thứ hai là vì ở cái… “Kỹ nghệ lấy Tây” nữa.
Những cuộc phối hợp của một số đông phụ nữ nước nhà với những người Tây phương liệu có đáng là những cuộc nhân duyên hẳn hoi không? Hay đó chỉ là, chỉ như…, chỉ hao hao giống… chỉ phảng phất… đáng gọi là một thứ “kỹ nghệ”?”
“… Trước nhà thờ chính, Hà Nội…
Buổi sáng, tiếng chuông đương khua động cả kinh thành.
Bốn chục chiếc xe hơi từ thềm nhà thờ nối nhau một hàng dài vắt ra phố Lagisquet như một con rắn bể kỳ quái nằm vươn mình: một đám cưới Tây. Mặt trời tươi tỉnh rọi ánh sáng để điểm thêm cho những bộ áo của những ngày đại tiệc. Hàng đám người ta đón chào vồn vã nhau, ồ ạt kéo nhau vào nhà thờ. Tại một góc thềm nọ, hai nhà, một gia đình Pháp một trăm phần trăm và một gia đình Pháp – Việt đương tưng bừng trò chuyện với nhau. Cái gia đình Pháp chỉ có hai người: bà vợ trẻ và rất đẹp, còn ông chồng đã già, tóc đã bạc phơ, tinh thần trông oai nghiêm sang trọng như một ông công sứ nào vậy. Còn cái gia đình Pháp – Việt thì có bốn người: ông chồng Pháp, bà vợ Nam, với hai con (tất nhiên là lai) trai và gái. Cặp vợ chồng quý phái người Pháp trăm phần trăm kia đã bắt tay bà “đầm ta” một cách kính cẩn không ngờ. Bà này cứ khanh khách cả cười, tiếng Pháp làu làu, tiếp chuyện đã tự nhiên, mà bệ vệ, mà sang trọng!
Một cảnh như thế khiến ta có cái cảm tưởng dễ chịu khi thấy một người đàn bà là dân một nước còn “dã man”, lấy chồng người bảo hộ mình hẳn hoi mà cũng không lép vế. Lấy tây như thế hẳn là không phải làm một kỹ nghệ.
Một cảnh khác nữa…
Một cái nhà tây nhỏ ở vùng châu thành.
Ngoài sân.
Dân quê qua đường thường phải ngạc nhiên mà dừng chậm đà chân mỗi khi thấy một ông Tây chân đi guốc mộc quai cao su lúi húi cầm bồ cào san một luống rau giữa lúc vợ ông ngồi chễm chệ trên ghế mây ở dưới hiên, đan một cái áo len và tặng cho mấy đứa con lai nghịch ngợm những tiếng nói cả Pháp lẫn Nam, thứ thì để chỉ tên súc vật, với thứ nữa, chuyên chỉ để réo đến năm đời, mười đời. Đó tưởng cũng là một bức tranh về hạnh phúc gia đình, mặc lòng có những lời nguyền rủa tục tằn của người đàn bà An-nam. Người chồng vốn là cựu chiến binh, có lẽ đã quen tai với những tiếng súng đại bác ở Verdun, nên cũng không chấp chi ngôn ngữ mọi rợ của một mụ đàn bà mọi rợ.
Nếu chỉ thấy toàn những cảnh như thế, tôi đã chẳng dám nghĩ đến sự viết một thiên phóng sự với cái nhan đề “Kỹ nghệ lấy Tây”…”
“… một buổi sáng kia, một me Tây trước vành móng ngựa toà trừng trị đã nói một câu khiến cho công chúng quên khuấy ngay mình đang ở chỗ trang nghiêm, tưởng dè lúc đó đương xem hát bội mà thích chí cười ồ.
Viên thông ngôn vừa dứt tiếng gọi. Một thị khua rộn gót giày mang cá đỏng đảnh dẫn xác lên. Cử chỉ tuy vô lễ, khả ố, song cái mặt trông lại khả ái.
– Tên là gì?
– Nguyễn Thị Ba.
– Bao nhiêu tuổi?
– Hăm nhăm.
– Làm nghề gì?
– Trước lấy một ông phó đoan, sau lại lấy một ông…
– Im! Nghề gì chứ ai hỏi chồng!
– Sau lấy một ông cập-ten.
Viên thông ngôn cáu kỉnh làm luôn:
– Không có nghề phải không? Vô nghề nghiệp (quay lên quan toà). Sans profession.
– Việc gì mà vô nghề nghiệp?
– Thế làm nghề gì?
– Làm nghề gì? Làm nghề… làm nghề lấy Tây!
Công chúng cười ồ. Viên mõ toà đứng lên suỵt suỵt hoài mà ở cuối toà vẫn có tiếng cười khúc khích. Đáp một câu hỏi của quan biện lý, viên thông ngôn bực mình cứ việc:
– Elle déclare exercer le métier d’épouser les Européens!
Ông biện lý ngẩn người ra nhìn ông chánh án. Ông chánh án cũng ngẩn người ra nhìn ông biện lý. Rồi hai ông mỉm cười.
Lời khai nọ cũng đã ngộ nghĩnh, cũng đã táo tợn thay. Nhưng sao thị kia dám sưng sưng như thế? Hay là có nghề lấy Tây thật? Mà sao hai ông quan toà lại chỉ mỉm cười? Chỉ tha thứ, hay là hai Ngài đã hiểu lời khai ấy không sai với sự thực đó chăng?…”
“… Dù xưa kia là một kẻ sát nhân xoàng, một người lê dương thì ít ra cũng đã là một ông cọp. Họ thường có những lá gan, quả mật to phi thường. Nếu họ phải lấy một người vợ đất Nam Việt thì đó là hùm thiêng khi đã sa cơ.
Mà 300 lính ít ra cũng phải chế tạo được 350 me Tây và vì bao giờ cũng phải có một số các me nghỉ việc. Thí dụ cứ cho là 50 me “thất nghiệp” thôi, ta cũng đã có thể đoán trước được những sự cạnh tranh hèn hạ, phỗng tay trên nhau, phá giá nhau. Một người chồng không mỗi lúc đã trở mặt hoá ngay ra được một bạc tình lang, nếu luật cung không quá luật cầu.
Trước, tôi chỉ muốn hỏi: lấy Tây có thể gọi được là một kỹ nghệ không thì sau khi trò chuyện với bà hàng, tôi thấy rằng kỹ nghệ ấy đã đến hồi suy đốn nữa!…”
“… Phải, tuy tôi có lang Tây nhưng mà tôi không hi vọng lấy chồng Tây. Hoặc lấy Tây là bần cùng. Vì rằng từ bé đến nhớn, mà tôi lấy bốn đời chồng sau khi ba tôi về Pháp, thì cả hai chân tướng cuộc đời ra sao, tôi đã nhiều lần nom thấy rõ. Cảnh ngộ tôi thật khó nghĩ. Lấy Tây ngộ nhỡ phải theo chồng về bên… mẫu quốc thì để rồi mẹ già chết đói bên này hay sao?
– Lấy một người chồng An-nam…
– Cũng khó lắm. Hạng người dám có gan hỏi tôi chẳng hạn thì không chắc đã được gia đình công nhận hẳn cho cái việc người ta làm. Nếu còn bị điều nọ tiếng kia thì khó chịu lắm. Vả lại chỉ say mê cái sắc đẹp một lúc, có khi rồi họ bỏ mình. Ấy là noi những người gan nhất thì như thế. Còn những người sống theo cuộc đời nề nếp thì làm gì có can đảm hỏi một người lai? Là một người lai là một cái khổ. Người Tây đã không hẳn quý trọng mình, mà người Nam cũng không yêu thương hẳn mình. Ở cái xã hội quý phái Âu Tây, một ít máu An-nam trong huyết quản là một cái nhục. Ở cái xã hội quý phái người Nam, một ít máu Pháp trong huyết quản cũng chẳng là sự vinh. Giời ơi! Thì ra tôi không có Tổ quốc!…”
*** Thông tin đấu giá ***
– Đơn vị đấu giá: Ansas Papillon de Léry
* địa chỉ: số 76 đường Richelieu, quận 75002, thành phố Paris, Pháp.
* số điện thoại: +33 7 87 14 49 41
+33 6 31 76 58 23
* hòm thư điện tử: contact@ansaspapillon.com
– Địa điểm tổ chức đấu giá: trụ sở Hôtel des Ventes de Troyes, cơ quan thẩm định Boisseau-Pomez, số 1 phố la Paix, quận 10000 Troyes, tỉnh Aube, thuộc vùng hành chính Grand Est, Pháp.
– Thời gian đấu giá: 4:00 giờ chiều Thứ Năm, ngày 12 tháng 03 năm 2026 (tương đương 8
10:00 tối Thứ Năm, ngày 12 tháng 03 năm 2026 theo giờ Hà Nội).






