Đi trong những giới hạn (Nghĩ về trường hợp Trịnh Công Sơn)

Nguyễn Thị Thanh Xuân

Một giải thưởng hòa bình trong âm nhạc cho Trịnh Công Sơn nếu sớm hơn, sẽ là sự đền bù xứng đáng với người nghệ sĩ hết lòng vì cái đẹp này, và biết đâu Ông lại có cớ để nán lại với chúng ta một thời gian nữa. Nhưng hôm nay, sự kiện này sẽ rất có ý nghĩa với những ai yêu mến Trịnh Công Sơn, và cả những ai quan tâm đến đời sống văn học nghệ thuật của Việt Nam. Trước hết, đây là một tín hiệu cho phép chúng ta lạc quan. Rằng thời gian rất công bằng. Rằng âm nhạc không biên giới. Rằng con người dù ở nơi đâu cũng có thể hy vọng tìm thấy sự đồng cảm về những giá trị tinh thần.

Giải thưởng này là sự thừa nhận từ một tâm hồn bạn bè, đã hiểu thấu khát vọng mãnh liệt của người nghệ sĩ mong manh mà mạnh mẽ Trịnh Công Sơn: sự yên bình trên quê hương và trong mỗi trái tim.

Người ta chỉ yên bình trong những điều kiện thực tế nhất định. Người nghệ sĩ lại càng khó tìm thấy sự yên bình nội tâm hơn. Trịnh Công Sơn đã là người lữ khách bước đôi chân trần của mình trên những dặm dài sỏi đá của quê hương, một quê hương chinh chiến triền miên. Đã biết bao thân phận nổi trôi, tả tơi, hư hao và đánh mất mình trong bão dông lịch sử. Trịnh Công Sơn “chén rượu cay một đời tôi uống hoài”, nhiều lần nhủ mình “thôi về đi, đường trần đâu có gì” vẫn kiên trì trên nỗi cô đơn kiếp người và cô đơn sáng tạo của mình mà viết và hát. Và hôm nay, không còn nghi ngờ gì nữa, Ông đã đi đến đích. Với Trịnh Công Sơn, cái đích mà tôi nói đến không dừng lại ở thành công về sự nghiệp. Mà đó là sự toàn vẹn hiếm thấy của một con người sau khi băng qua thế gian này. Nhiều lần Trịnh Công Sơn khắc khoải về sự hư hao của con người: “nhưng hôm nay tôi thấy tôi chỉ là vết mực nhòe”, ấy chính là lúc Ông kháng cự với chính mình, với sự bủa vây của hoàn cảnh, bằng âm nhạc.

Trịnh Công Sơn đã có một kỷ niệm đắng ở kinh đô ánh sáng và một góc ẩn mình liếm láp vết thương ở Loiret, nhánh sông con lặng lẽ những cây lá và thiên nga trắng.

Người nhạc sĩ này có một tương đồng kỳ lạ với Boris Pasternak (1890-1960, nhà văn Nga, giải Nobel Văn học 1958) “ông bay bổng trên các biến cố và trú ẩn vào văn chương, không thể rời bỏ quê hương xứ sở, cái sức mạnh tự do âm thầm nhưng quyết liệt không gì khống chế được, phô diễn trong văn nghệ”.

Sống với nghịch lý và khắc khoải nội tâm, không muốn chọn một thái độ dứt khoát (Tiến thoái lưỡng nan). Chọn sự trung thành với cuộc sống đúng như nó xuất hiện trong thâm tâm ông với tiếng nói huyền bí không thể xác định bằng ngôn ngữ trần gian, nó như một sinh khí nguyên thủy, âm thầm mà nhào nặn hình tướng sống động của tâm hồn ông. Đó là chân tướng của ông và ông cố gắng diễn tả phần nào qua âm điệu của thi ca, qua tiếng nói tâm tình. Một cuộc sống luôn luôn đổi mới nhưng bao giờ cũng còn giữ trong lòng nó một mầm cội vĩnh tồn, một động lực bất tuyệt, một thái độ độc đáo. Ý thức sự lựa chọn cuộc sống riêng cho mình như vậy đã hướng dẫn đường đi của ông qua giai đoạn hỗn loạn.

Trịnh Công Sơn luôn gắn mình với Tự nhiên và Lịch sử. Bài viết Trịnh Công Sơn, người tình của thiên nhiên của tôi (đăng trong tập sách Trịnh Công Sơn, Ánh nến và bạn bè, nhiều tác giả, NXB. Hội Nhà văn, 2011) có lẽ làm nhiều người mỉm cười hoài nghi.

Nhưng quả thật, ca từ của ông chan chứa cảm hứng với Tự nhiên, một tự nhiên vừa đơn sơ, cụ thể, vừa ảo diệu. Với tác phẩm của Trịnh Công Sơn, phong cảnh làm nên tâm cảnh, rồi từ đó mới ngân lên thành ý niệm, thành biểu tượng. Lắng nghe và hiểu được nhịp điệu sống động của vũ trụ, phả chúng vào chữ và âm, Trịnh Công Sơn đã chuyển được cái sinh khí vĩnh hằng của muôn loài.

Về lịch sử, ông suy tư, và cam chịu, âm thầm kháng cự, Ca khúc da vàng là sự kháng cự âm thầm cuả ông. Đó là cái để ông giữ mối liên lạc với cuộc sống. Thi sĩ hơn người ở chỗ biết nghe tiếng nói cuả mạch sống vang động trong thâm tâm con người. Hai khuynh hướng: trực giác thông cảm với vũ trụ đại đồng và lý trí bắt rễ xuống đời sống xã hội. Cả hai làm sao đứng bên nhau mà vẫn giữ được cái từ ái an hoà…

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.