Jürgen Habermas – một trong những cội cổ thụ cuối cùng của nền triết học châu Âu hiện đại

Tino Cao

Sự ra đi của Jürgen Habermas hôm nay, 14 tháng 3 năm 2026, đã khép lại gần trăm năm hiện diện của một trong những cội cổ thụ cuối cùng của nền triết học châu Âu hiện đại. Cuộc đời vắt qua hai thế kỉ chứng kiến và suy tư về những biến động sâu sắc nhất của thế giới sau Thế chiến thứ hai, Habermas được đánh giá là một trong những tiếng nói sau rốt mang trọn vẹn tinh thần triết học Khai sáng phê phán của châu Âu từ thế kỉ 18 vào đời sống trí thức đương đại.

Khi đưa tin về cái chết của ông, Reuters nhấn mạnh rằng Habermas là một nhà tư tưởng đã góp phần định hình lương tri hậu chiến của nước Đức, một trí thức không ngừng can dự vào những tranh luận khó khăn nhất về trách nhiệm lịch sử, về nền dân chủ và về tương lai của châu Âu. Trong khi đó, Associated Press lại nhấn mạnh một khía cạnh khác trong di sản của ông: vai trò trung tâm của Habermas trong việc suy tư về giao tiếp, về lí tính, về những nền tảng nguyên tắc còn có thể nâng đỡ đời sống xã hội hiện đại sau khi những quan điểm siêu hình cổ điển lần lượt sụp đổ.

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp của Habermas, có thể thấy ở ông một nỗ lực không mệt mỏi nhằm giữ lại khả năng của lí tính trong đời sống xã hội sau khi châu Âu trải qua những thảm họa chính trị và khủng hoảng đạo đức của thế kỉ hai mươi. Trong một thời đại luôn nhìn mọi thiết chế với nỗi hoài nghi, Habermas vẫn kiên trì một ý nghĩ giản dị: con người trong ngôn ngữ và giao tiếp với nhau vẫn còn có thể nợ nhau những lí do. Và chính từ niềm tin ấy mà toàn bộ công trình triết học đồ sộ của ông từng bước được hình thành.

Nếu phải tìm một điểm nhìn để khám phá tư tưởng Habermas ở giai đoạn chín muồi nhất, có lẽ không nên bắt đầu từ những cuộc tranh luận thời sự của ông trên báo chí Đức, cũng không nên dừng lại ở hình ảnh quen thuộc của một public intellectual thường được xem như lương tri hậu chiến của nước Đức. Con đường thích hợp hơn có lẽ nằm ở một nơi khó hơn nhưng cũng gần với trung tâm tư tưởng của ông hơn: nỗ lực không mỏi mệt trong suốt nhiều thập niên nhằm cứu vãn ý niệm lí tính sau khi châu Âu đã đi qua những đổ nát tinh thần và chính trị của thế kỉ 20. Nói cách khác, phải đọc Habermas như đọc một người đến sau sự tan vỡ của niềm tin cũ vào siêu hình học, nhưng cũng không chấp nhận đầu hàng trước chủ nghĩa hoài nghi hay thứ yếm thế trí thức coi mọi lí lẽ chỉ là lớp mặt nạ hóa trang của quyền lực. Ở giai đoạn tư tưởng chín muồi, ông không còn nói như một người chỉ đứng trong truyền thống Frankfurt để tiếp tục giọng điệu phủ định của Adorno hay Horkheimer. Ông đi theo một con đường khác. Ông muốn chứng minh rằng ngay trong đời sống thường nhật, trong ngôn ngữ con người dùng để nói với nhau, vẫn còn một nguồn lực có tính chuẩn mực đủ mạnh để làm nền móng cho phê phán xã hội, cho dân chủ, đạo đức, và cả cho hi vọng chính trị.

Đó là bản lĩnh riêng của Habermas. Ông không phủ nhận những bệnh lí của hiện đại tính. Trái lại, ông nhìn rất rõ bản chất của chúng. Ông biết tiến trình hiện đại hóa đã tạo ra những guồng máy vô nhân, những cơ chế quyền lực lạnh lùng, những cấu trúc kinh tế và hành chính có thể nuốt chửng kinh nghiệm sống cụ thể của con người. Nhưng ông không vì thế mà đi đến kết luận rằng dự án Khai sáng đã phá sản toàn bộ. Ông không đứng về phía những tiếng nói chỉ muốn chôn cất lí tính như một ảo tưởng cũ kĩ. Trực giác lớn nhất của Habermas là ở chỗ vấn đề không nằm ở việc hiện đại đã dùng quá nhiều lí tính mà ở chỗ nó đã thu hẹp lí tính vào một dạng què quặt, nghèo nàn, chủ yếu là lí tính công cụ. Khi lí tính chỉ còn được thừa nhận như năng lực chọn phương tiện hiệu quả nhất để đạt mục tiêu thì chính trị sẽ bị kĩ trị hóa, đạo đức bị đẩy ra bên lề, còn đời sống công cộng bị giao phó cho các chuyên gia, bộ máy và những hệ thống quản trị ngoài tầm kinh nghiệm thường nhật của công dân. Toàn bộ nỗ lực của Habermas là định nghĩa lại khái niệm lí tính, trả cho nó một chiều kích giao tiếp, liên chủ thể và công khai.

Bởi vậy, khi xem xét giai đoạn chín muồi của ông, điều cần thấy trước tiên là sự thay đổi nền tảng trong cách đặt vấn đề. Habermas không còn tìm điểm tựa ở một triết học ý thức, ở đó chủ thể cô độc đối diện với thế giới như đối diện với một đối tượng phải được nhận thức. Ông chuyển trọng tâm sang ngôn ngữ và tương tác. Không phải cái tôi đơn lẻ mà là những người đang nói với nhau, đang đưa ra lí do cho nhau, đang đồng ý hoặc bất đồng với nhau, mới là nơi lí tính xuất hiện một cách sinh động nhất. Đây là một bước ngoặt trong toàn bộ kiến trúc triết học. Bởi vì một khi lí tính được đặt vào không gian giao tiếp thì chân lí, đạo đức, pháp luật và dân chủ cũng phải được suy nghĩ lại từ nền tảng ấy. Chúng không phải là những chân lí được ban phát từ một cõi nào đó đứng trên lịch sử và cũng không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của sở thích, cảm xúc hay tương quan xã hội trần trụi. Chúng là những yêu sách hiệu lực mà con người nêu ra trong đời sống chung và buộc phải được trả lời nếu bị chất vấn.

Điều này giúp hiểu vì sao tác phẩm triết học hai tập dày gần nghìn trang trong phiên bản tiếng Anh – The Theory of Communicative Action (Lí thuyết hành động giao tiếp – 1981) – lại giữ vị trí bản lề trong toàn bộ sự nghiệp Habermas. Bộ sách vừa là một công trình xã hội học triết học và đồ sộ, vừa là nơi ông tái thiết cả khái niệm lí tính lẫn lí thuyết xã hội hiện đại. Habermas xuất phát từ một nhận xét tưởng đơn giản mà thật ra có sức đảo lộn nhiều giả định quen thuộc: trong đời sống hằng ngày, con người không chỉ hành động để thành công, đạt lợi ích hay để thao túng hoàn cảnh. Họ còn hành động để hiểu nhau. Họ nói với nhau, giải thích cho nhau, bày tỏ với nhau, hứa hẹn, phản đối, xin lỗi, yêu cầu, đồng thuận, và trong tất cả những thực hành ấy, họ mặc nhiên dựa vào một niềm tin rằng lời nói có thể được người khác chấp nhận không chỉ vì sợ hãi hay vụ lợi mà vì có lí do. Habermas gọi đó là hành động giao tiếp.

Điều đáng chú ý là ông không thần thánh hóa giao tiếp như một cõi thanh khiết không vướng quyền lực. Ông biết rõ trong đời sống thực, con người thường xuyên lừa dối, mặc cả, che giấu, thao túng. Nhưng ông cho rằng ngay cả những hiện tượng ấy cũng chỉ có thể hiểu được trên nền một cấu trúc sâu hơn của giao tiếp bình thường. Nói dối chỉ có nghĩa khi vẫn còn một chuẩn mực của nói thật. Thao túng chỉ khả hữu vì còn có một hình thức quan hệ trong đó người ta đáng lẽ phải thuyết phục nhau bằng lí do. Nói cách khác, giao tiếp không phải thiên đường đạo đức, nhưng là nơi những chuẩn mực của việc biện minh cho nhau được giả định trước. Đây là quan điểm có tính thuyết phục của Habermas. Ông không đi tìm nền tảng quy tắc trong một nhân tính trừu tượng hay một siêu hình học của thiện chí. Ông tìm nó trong những giả định đã nằm sẵn trong mối quan hệ tương tác ngôn ngữ giữa con người với nhau.

Khi một người phát biểu điều gì đó, theo Habermas, người ấy không chỉ phát ra âm thanh hay chuyển tải thông tin. Người ấy đồng thời nêu lên những đòi hỏi mà người nghe có thể chấp nhận hoặc bác bỏ. Một phát biểu về thế giới hàm chứa đòi hỏi là nó đúng. Một lời hứa, một quy tắc, một yêu cầu, một phản đối hàm chứa đòi hỏi là nó hợp lẽ trong quan hệ với người khác. Một lời bộc bạch về cảm xúc hay ý định hàm chứa đòi hỏi là người nói chân thành. Chân lí, tính đúng đắn và tính chân thành, theo nghĩa đó, không phải các phạm trù lơ lửng bên trên ngôn ngữ. Chúng hiện diện ngay trong thực hành nói năng bình thường. Bất kì ai tham gia giao tiếp một cách nghiêm túc đều phải bước vào một không gian mà ở đó phát biểu có thể bị đòi hỏi phải biện minh. Tôi nghĩ đây là một trong những trực giác đẹp nhất của Habermas, vì nó cho phép ông chống lại cả chủ nghĩa thực chứng lẫn chủ nghĩa tương đối. Ông không thu hẹp thế giới của lí tính vào sự thật thực nghiệm nhưng cũng không buông trôi đạo đức và chuẩn mực vào góc nhìn của sở thích cá nhân.

Chính ở đây khái niệm diễn ngôn đi vào trung tâm của lí thuyết giao tiếp của Habermas. Trong đời sống thường nhật, phần lớn thời gian người ta không phải biện minh mọi điều ngay từ đầu. Giao tiếp diễn ra trên nền tảng những hiểu ngầm, sự tín nhiệm, những thói quen và bối cảnh chung. Nhưng khi một yêu sách bị đặt thành nghi vấn, giao tiếp thường nhật không còn đủ nữa. Lúc đó người ta phải chuyển sang một bình diện phản tư hơn, nơi các lí do phải được nói ra, được kiểm tra, cân nhắc và đáp trả. Habermas gọi bình diện ấy là discourse. Nếu hành động giao tiếp là hình thức phối hợp xã hội hướng tới sự hiểu nhau thì diễn ngôn là hình thức trong đó những cơ sở của sự hiểu nhau ấy được đem ra xem xét một cách minh triết. Nói gần gũi hơn, đó là khoảnh khắc khi chúng ta không còn chỉ sống trong các quy tắc mà bắt đầu hỏi vì sao quy tắc này có thể được chấp nhận, vì sao phát biểu kia đáng tin và vì sao chuẩn mực nọ lại có thể ràng buộc mọi người.

Tôi thấy có một chiều sâu đáng kể trong cách Habermas hiểu diễn ngôn. Ông không đồng nhất nó với tranh cãi thuần túy hay với tự do phát biểu theo nghĩa phóng túng. Diễn ngôn, theo ông, là một hình thức có kỉ luật của lí tính công khai. Nó đòi hỏi những điều kiện mà nếu nói thật thà, lịch sử ít khi cho con người có được trọn vẹn: người tham gia phải có khả năng lên tiếng, có quyền phản bác, có quyền nêu lí do, không bị ép buộc bởi những áp lực ngoại tại, và phải thừa nhận rằng điều tốt hơn không phải là điều có tiếng nói to hơn mà là điều có sức thuyết phục hơn. Habermas hiểu rõ đây là một chuẩn mực lí tưởng. Nhưng với ông, chuẩn mực ấy không phải một giấc mơ vô ích. Nó là thước đo phê phán để nhìn ra sự méo mó của những giao tiếp bị quyền lực bóp nghẹt, bị tuyên truyền đầu độc hoặc bị biến thành thủ thuật quan hệ công chúng. Khi Habermas nói tới “sức mạnh không cưỡng bức của luận cứ tốt hơn”, ông không nhằm mô tả thế giới như nó thực sự tồn tại. Ông muốn giữ lại một chuẩn mực phán đoán để nhận ra khi đời sống giao tiếp bị méo mó và không còn được dẫn dắt bởi lí do.

Nhưng Habermas không dừng lại ở cấp độ vi mô của lời nói và tranh luận. Ông hiểu rằng một lí thuyết xã hội không thể chỉ bàn về lí do và giao tiếp mà bỏ qua những cơ chế phi ngôn ngữ đang điều phối các xã hội hiện đại với quy mô rất lớn. Chính ở đây xuất hiện cặp khái niệm nổi tiếng lifeworld và system. Tôi vẫn nghĩ đây là một trong những điểm vừa sáng tạo vừa gây nhiều tranh luận nhất trong tư tưởng Habermas. Lifeworld, hay thế giới sống, có thể hiểu như nền tảng chung đã được chia sẻ một cách mặc nhiên trong đời sống xã hội: nơi tích tụ ngôn ngữ, văn hóa, kí ức, các chuẩn mực, cách giáo dục, những thói quen ứng xử và cả những điều người ta hiểu với nhau mà không cần lúc nào cũng nói ra. Không có nền tảng ấy thì giao tiếp khó có thể bắt đầu vì con người sẽ không còn điểm chung nào để dựa vào mà hiểu nhau. Ngược lại, system chỉ bình diện của những cơ chế tích hợp xã hội không chủ yếu dựa vào sự đồng thuận trong giao tiếp mà vận động thông qua những môi giới như tiền bạc và quyền lực hành chính. Thị trường và bộ máy quan liêu là hai hình thức tiêu biểu nhất của loại cơ chế này.

Điều quan trọng là Habermas không hề ngây thơ nghĩ rằng có thể quay trở về một xã hội thuần túy lifeworld khi mọi việc đều được quyết định bằng đối thoại trực tiếp giữa con người với nhau. Ông hiểu rất rõ rằng xã hội hiện đại, với quy mô lớn, cấu trúc phức tạp và sự phân hóa chức năng ngày càng sâu, tất yếu phải dựa vào những cơ chế hệ thống. Không thể vận hành một nền kinh tế hiện đại, một bộ máy nhà nước hay một mạng lưới hành chính – pháp lí rộng lớn chỉ bằng những cuộc đối thoại mặt đối mặt. Nhưng chính vì thừa nhận điều đó mà phê phán của Habermas trở nên sắc bén. Vấn đề không phải ở chỗ system tồn tại mà ở chỗ nó có xu hướng vượt quá giới hạn của mình và xâm nhập vào những lĩnh vực của đời sống vốn phải được duy trì bằng giáo dục, bằng các quan hệ đoàn kết và năng lực phán đoán của công dân. Khi những lĩnh vực ấy bị chi phối bởi tiền bạc, quyền lực hành chính hay các thủ tục quan liêu thì đời sống xã hội bắt đầu bị biến dạng. Habermas gọi quá trình đó là sự “thuộc địa hóa thế giới sống”.

Khái niệm này không chỉ là một ẩn dụ đẹp. Nó là một cách chẩn đoán xã hội. Một xã hội bệnh hoạn không chỉ là xã hội có đàn áp công khai mà là xã hội trong đó những lĩnh vực vốn thuộc về đời sống thường ngày của con người như gia đình, trường học, đại học, văn hóa, y tế, báo chí, thậm chí cả những vùng sâu kín của đời sống cá nhân… bị tổ chức lại theo những tiêu chí của hiệu năng, tối ưu hóa, kiểm soát thủ tục và lợi nhuận. Ta có thể nhìn thấy điều đó ở rất nhiều nơi hôm nay. Một đại học không còn tự xác định nguyên tắc tối thượng là không gian tìm kiếm chân lí mà giống như một doanh nghiệp giáo dục. Một bệnh viện không chỉ là nơi chữa trị mà trở thành một cỗ máy quản lí dòng bệnh nhân. Một tờ báo không còn xem mình như thiết chế của công luận mà như nơi sản xuất dư luận và sự chú ý. Một công dân ngày càng ít được nhìn nhận như chủ thể tham gia vào ý chí chung mà nhiều khi chỉ là một khách hàng, một người tiêu dùng hay một đối tượng quản lí. Khi những logic ấy lan rộng, thế giới sống không bị phá hủy ngay lập tức nhưng nó dần bị hủy hoại dần dần. Con người vẫn sống, vẫn nói, vẫn làm việc như trước, nhưng ngày càng khó trả lời câu hỏi điều gì thực sự đáng làm, ngoài những tiêu chí quen thuộc như hiệu quả hơn, nhanh hơn, sinh lợi hơn, dễ kiểm soát hơn.

Chính ở đây mới thấy Habermas không chỉ quan tâm tới ngôn ngữ hay cách con người nói với nhau. Điều ông thật sự muốn hiểu là đời sống chung của xã hội hiện đại. Ông đặt ra một câu hỏi khá đơn giản nhưng rất khó trả lời: khi những nền tảng cũ như tôn giáo hay truyền thống không còn đủ sức làm chuẩn mực chung thì điều gì còn có thể giữ cho xã hội có trật tự và khiến các quy tắc chung được mọi người chấp nhận? Trong một xã hội nhiều khác biệt, nơi mỗi người có quan niệm riêng về cách sống tốt, luật pháp và các chuẩn mực chung phải dựa vào đâu? Câu trả lời của Habermas là phải đặt chúng vào những quá trình thảo luận công khai và công bằng. Một quy tắc chỉ có thể được xem là chính đáng nếu những người bị nó tác động, về nguyên tắc, có thể chấp nhận nó sau khi đã được bàn luận một cách tự do và bình đẳng. Từ ý tưởng này, Habermas suy nghĩ lại về đạo đức, pháp luật và dân chủ.

Tuy vậy, Habermas không hề nghĩ rằng mọi bất đồng có thể được giải quyết bằng vài cuộc tranh luận êm đẹp. Xã hội hiện đại luôn có xung đột về lợi ích, giá trị và quan điểm sống. Nhưng chính vì thế mà theo ông, các xã hội càng cần những cách thức để cùng nhau xem xét xem một quy tắc có công bằng cho tất cả hay không. Dân chủ, vì vậy, không chỉ là bỏ phiếu hay chọn người lãnh đạo. Nó còn là cả một mạng lưới thể chế và không gian công luận nơi công dân có thể tham gia thảo luận, hình thành ý kiến chung và ảnh hưởng tới các quyết định chung. Trong cách nhìn này, quyền tự do của cá nhân và quyền lực của nhân dân không đối lập nhau. Các quyền cá nhân bảo đảm cho mỗi người có thể tham gia bình đẳng, còn quá trình dân chủ giúp những quyền đó có nội dung thực sự trong đời sống chung.

Một điểm đáng chú ý trong tư tưởng Habermas là cách ông nhìn lại vai trò của pháp luật. Ban đầu ông khá nghi ngờ việc đời sống xã hội ngày càng bị điều chỉnh bởi luật lệ và thủ tục. Nhưng về sau ông nhận ra rằng luật pháp cũng có thể trở thành một phần của giải pháp, miễn là nó gắn với các quá trình dân chủ thực sự. Khi đó luật không chỉ là mệnh lệnh từ trên xuống, nó phải phản ánh phần nào ý chí chung được hình thành qua thảo luận và công luận.

Từ đây Habermas còn mở rộng suy nghĩ của mình ra ngoài phạm vi quốc gia. Trong một thế giới mà kinh tế, chiến tranh, truyền thông hay các vấn đề như khí hậu và di cư đều vượt qua biên giới, dân chủ nếu chỉ tồn tại trong khuôn khổ từng quốc gia sẽ luôn có giới hạn. Vì thế ông hướng tới một tầm nhìn rộng hơn, trong đó các nguyên tắc dân chủ và pháp quyền cần được củng cố cả ở cấp độ quốc tế. Ông không nói tới một nhà nước thế giới duy nhất, nhưng nghĩ tới những thiết chế chung mạnh hơn và một không gian công luận rộng hơn, nơi các vấn đề toàn cầu có thể được bàn luận và kiểm soát một cách dân chủ.

Dĩ nhiên, lí thuyết của Habermas cũng gặp nhiều phê phán. Có người cho rằng ông quá tin vào sức mạnh của thảo luận và các thủ tục dân chủ trong khi thực tế quyền lực và bất bình đẳng luôn ảnh hưởng tới việc ai được lên tiếng và ai được lắng nghe. Những phê phán từ nhiều hướng khác nhau đã chỉ ra rằng không phải ai cũng bước vào cuộc tranh luận từ cùng một vị trí. Tuy vậy, giá trị của Habermas không nằm ở chỗ ông đã mô tả hoàn hảo thế giới như nó đang vận hành mà ở chỗ ông đưa ra một cách nhìn giúp nhận ra khi đời sống công cộng bị méo mó: khi giao tiếp bị thao túng, khi truyền thông lệch lạc, hay khi dân chủ bị biến thành một kĩ thuật quản lí sự đồng thuận.

Rốt cuộc, điều khiến Habermas khác biệt không nằm ở tính độ đồ sộ của hệ thống triết học ông xây dựng mà lại bằng sự kiên trì trí tuệ rất hiếm có: không từ bỏ niềm tin rằng con người còn có thể nợ nhau những lí do. Giữa một thời đại đã quen diễn giải mọi thứ bằng quyền lực, lợi ích hay kĩ thuật quản trị, Habermas vẫn giữ quan điểm rằng đời sống chung không thể được tổ chức hoàn toàn như một cỗ máy. Nó vẫn phải dành chỗ cho tiếng nói tranh luận, cho những bất đồng được giải quyết bằng lí lẽ. Và có lẽ chính ở đó là phần sâu sắc nhất trong di sản của ông, rằng một xã hội chỉ thật sự xứng đáng với con người khi nó còn giữ được không gian nơi cái thiện có thể chiến thắng cái ác không phải bằng cưỡng bức mà nhờ ở sức mạnh hóa giải của chính nó.

Nguồn tham khảo: https://plato.stanford.edu/entries/habermas/

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.