Một tường thuật chi tiết về hội thảo “Văn học di dân: Ý niệm lưu đày và cứu rỗi – cùng những suy tư triết học và thần học”

Nguyễn Hồng Anh

Dưới đây là bản tường thuật chi tiết trích từ tóm tắt tham luận của chúng tôi. Với hoạt động này, chúng tôi, gồm Học viện Công giáo và nhóm giảng viên/ nghiên cứu viên của các trường đại học và viện nghiên cứu, đã phần nào thực hiện được ước muốn về sự kết nối giữa khoa học – văn học – thần học/ đức tin, theo ý chỉ của Giáo hoàng Phanxico trong Tông thư viết về vai trò của văn chương trong đào tạo (cf. https://tgpsaigon.net/bai-viet/thu-cua-duc-giao-hoang-phanxico-ve-vai-tro-cua-van-chuong-trong-dao-tao-75307).

Tôi thích định nghĩa giản dị này trong Tông thư: Đọc văn chương là “lắng nghe tiếng nói của một người khác”. Và sự lắng nghe nhau này đã được áp dụng triệt để không chỉ trong hành vi đọc tự thân, mà còn qua xuyên suốt buổi hội thảo, nơi mỗi phản biện là một sự khai sáng. Do đó, bản tường thuật dưới đây xin dành phần ưu ái đặc biệt cho bài phản biện Thần học của Linh mục Giuse Phạm Quốc Tuấn – một tham luận khiến tất cả chúng tôi đều sững sờ và ngưỡng mộ.

—————

  1. NĂM THAM LUẬN VỀ VĂN CHƯƠNG LƯU ĐÀY & CỨU RỖI

PHÁC THẢO VỀ VĂN HỌC DI DÂN VIỆT NAM (Nguyễn Hồng Anh)

Tham luận chỉ ra sự chuyển dịch quan trọng về thể tài: từ hồi ký, tự truyện mang tính “chứng nhân” lịch sử và cộng đồng sang các sáng tác đa dạng thể loại, giàu tính “tưởng tượng” và nội tâm hoá. Ký ức về chiến tranh và tị nạn vẫn là trục trung tâm của dòng văn học này, nhưng được biểu đạt dưới nhiều phương thức kể chuyện như: ký ức trực tiếp và hậu ký ức; ký ức qua kênh chữ (thơ, văn xuôi) và kênh hình (thể loại truyện tranh).

Viết về ký ức không chỉ là hành vi tưởng niệm mà còn là nỗ lực giành quyền đại diện, chống lại diễn ngôn phương Tây từng làm lu mờ tiếng nói của người Việt về lịch sử của chính mình.

VĂN CHƯƠNG DI DÂN: GIẢI LÃNH THỔ HÓA HAY PHI TỔ QUỐC (Võ Thị Ánh Ngọc)

Bài viết khảo sát văn chương di dân qua trường hợp Linda Lê trong khung lý thuyết “văn học thiểu số” và “giải lãnh thổ hóa” của Gilles Deleuze và Félix Guattari (2013). Tác giả cho rằng kinh nghiệm lưu đày là một “sự biến” làm tái cấu trúc căn tính, ký ức và vị trí phát ngôn của chủ thể. Hiện tượng giải lãnh thổ hóa ngôn ngữ được nhấn mạnh khi nhà văn sử dụng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ để sáng tạo và phá vỡ quy phạm.

Văn chương “phi tổ quốc” không phải là mất gốc, mà là trạng thái vượt quy chiếu lãnh thổ, nơi ngôn ngữ và chủ thể được tái cấu hình, mở ra khả thể mới.

LƯU ĐÀY – NƯỚC – VÙNG BIÊN DƯỚI GÓC NHÌN HIỆN SINH TRONG THUYỀN CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG (Phạm Thị Hồng Ân)

Tham luận vận dụng khái niệm “tình huống vùng biên” (boundary situations) của Karl Jaspers (1970), là những hoàn cảnh hiện sinh không thể tránh khỏi mà con người buộc phải đối diện, để phân tích các tầng ý nghĩa của nước, một thực thể mà những người vượt biển buộc phải đối diện. Những lát cắt địa chính trị, tâm linh và siêu việt của nước được thể hiện trong tác phẩm Thuyền của Nguyễn Đức Tùng.

Qua đó, hành trình trên biển hiện ra như một cuộc “vượt qua” hiện sinh, nơi con người tìm lại bản ngã và căn tính của mình giữa chuyến hải trình tạm bợ và khắc nghiệt của đời sống.

VĂN CHƯƠNG LƯU ĐÀY VÀ Ý NIỆM CỨU RỖI (Phạm Văn Quang)

Tham luận phân tích văn chương lưu đày như một không gian cứu rỗi trần thế từ góc nhìn ẩn dụ, gắn với khả năng tái cấu hình đời sống qua ngôn ngữ. Khởi đi từ trường hợp cụ thể của các nhà văn Pháp ngữ như Phạm Văn Ký, Linda Lê và Kim Thúy, tác giả đề xuất bốn chiều kích cứu rỗi. Thứ nhất, cứu rỗi bản thể luận. Thứ hai, cứu rỗi ngôn ngữ văn chương. Thứ ba, cứu rỗi căn tính nhà văn. Thứ tư, cứu rỗi ký ức. Từ đó, văn chương lưu đày được nhìn như hành trình tái sinh và khẳng định ý nghĩa tồn tại của con người.

CÂU CHUYỆN CUỘC ĐỜI TRONG NHÂN HỌC – KHÁM PHÁ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI QUA NHỮNG KINH NGHIỆM SỐNG TRẢI (Nguyễn Đức Lộc)

Từ di sản phương pháp luận của Trường phái Chicago và tiểu sử học chuyên nghiệp của Oscar Lewis, bài viết xây dựng một khung phân tích ba tầng: thế giới đời sống và kho dự trữ tri thức theo hiện tượng học xã hội của Alfred Schutz, khái niệm giải lãnh thổ hóa của Deleuze và Guattari, và lý thuyết về sự trở thành gắn với nguyên lý hy vọng của Ernst Bloch.

Hành động kể câu chuyện cuộc đời vừa là đường thoát hiện sinh vừa là thực hành tái kiến tạo ý nghĩa, trong đó tri thức thể nghiệm của chủ thể được huy động để tái lãnh thổ hóa tâm hồn và duy trì niềm hy vọng như một thực hành xã hội chủ động.

  1. HAI PHẢN BIỆN TRIẾT HỌC & THẦN HỌC

SUY TƯ TRIẾT HỌC VỀ CĂN TÍNH TRONG VĂN CHƯƠNG DI DÂN, LƯU ĐÀY VÀ CỨU RỖI (Tôma Nguyễn Hoàng Duy)

Liên hệ đặc biệt đến hữu thể luận và hiện sinh theo triết học của Heidegger và Levinas, nội dung tham luận làm rõ hơn mối liên hệ giữa căn tính con người trong dòng văn học di dân ở khía cạnh ký ức và thời tính của Dasein, ngôn ngữ Dasein. Đồng thời, truy tìm trách nhiệm liên vị trong dòng văn học này để đối chiếu với đạo đức học trách nhiệm của Levinas. Sau cùng, người viết đặt vấn đề liệu dòng văn học này trong sự liên hệ đặc biệt nhân học có thể dẫn đến niềm hy vọng cứu rỗi siêu việt theo nghĩa thần học?

VĂN HỌC DI DÂN: Ý NIỆM LƯU ĐÀY VÀ CỨU RỖI MỘT SỐ ĐIỂM PHẢN BIỆN TỪ NHÃN QUAN THẦN HỌC CÔNG GIÁO (Giuse Phạm Quốc Tuấn)

Tham luận không dừng lại ở việc đọc “lưu đày” như một kinh nghiệm lịch sử hay hiện sinh (mất quê hương, khủng hoảng căn tính), mà đẩy khái niệm này vào một chiều kích sâu hơn: lịch sử cứu độ. Ở đây, lưu đày không chỉ là một biến cố của con người, mà còn là một mô-típ nền tảng trong Kinh Thánh – nơi con người liên tục rời xa, lạc mất và được mời gọi trở về.

Từ đó, bài viết đưa ra một phản biện khá rõ đối với cách tiếp cận thuần văn học:

– Nếu văn học di dân thường nhấn mạnh ký ức như nơi neo giữ căn tính, thì thần học đặt câu hỏi: ký ức đó hướng về đâu? Chỉ về quá khứ đã mất, hay còn mở ra một lời hứa?

– Nếu văn học xem viết như hành vi “tái sinh” hay “tự cứu”, thì thần học nhấn mạnh giới hạn của con người: cứu rỗi không hoàn toàn đến từ tự thân, mà luôn gắn với một tương quan vượt lên trên con người.

– Nếu căn tính trong văn học di dân thường là một quá trình tái cấu trúc linh hoạt, thì trong thần học, căn tính còn được hiểu như một lời gọi và một tương quan – không chỉ “tôi là ai” mà còn “tôi thuộc về ai”.

Một số đối thoại cụ thể với từng tác giả/ tác phẩm:

a) Đối thoại với Người Tị Nạn (Viet Thanh Nguyen): Người Tị Nạn giúp chúng ta thấy rằng ký ức không có năng lực tự động chữa lành. Nó có thể giữ người ta khỏi tan biến trong bối cảnh di dân; nhưng nó cũng có thể trói buộc người ta vào những gì chưa được hòa giải. Thần học không phủ nhận điều ấy. Nhưng thần học đặt thêm câu hỏi cho con người: Liệu ký ức có thể trở thành ký ức giao ước không?

b) Đối thoại với Thuyền (Nguyễn Đức Tùng): Thuyền cho thấy biển như là vùng biên giữa hy vọng và hủy diệt. Thần học có thể nói “Đúng thế!”, nhưng nó cần phải nói thêm: Chính ở nơi hỗn mang nhất, Thiên Chúa vẫn có thể mở một con đường. Xh 14,21-22 là bản văn cực kỳ quan trọng cho chủ đề này: Dân chúng bị khóa chặt giữa biển và quân Ai Cập, nhưng Thiên Chúa đã mở lối đi giữa biển.

c) Đối thoại với Sóng Ngầm (Linda Lê): Tác phẩm của Linda Lê cho thấy sự “lưu đày nội tâm,” sự xa lạ với ngôn ngữ, và cái tôi không còn “ở nhà” trong chính lịch sử của mình. Thần học Thánh Kinh xác nhận đây là một hình thức lưu đày sâu sắc. Và thần học hỏi thêm: Liệu bi kịch ấy có tìm kiếm sự đối thoại hay không? Liệu bi kịch ấy chỉ có thể được diễn đạt bằng ngôn ngữ nhân loại?…

——-

Một lần nữa, xin cảm ơn Học viện Công giáo Việt Nam và Trung tâm Mục vụ Sài Gòn đã tạo điều kiện cho chúng tôi vừa được làm học thuật một cách nghiêm cẩn, vừa được trở về sống với bầu khí chân thật, nhân văn dù là với người đồng đạo hay khác đạo, trong tình hiệp thông và nâng đỡ.

Sài Gòn, 12/4/2026

Linh mục Phaolô Nguyễn Thành Sang – người điều phối của hội thảo.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Am, Trưởng khoa Thần học, Học viện Công giáo Việt Nam – người chủ trì hội thảo.

Lm. Tôma Nguyễn Hoàng Duy, Tiến sĩ Triết học, với bài phản biện từ góc độ triết học

Lm. Giuse Phạm Quốc Tuấn, Tiến sĩ Thần học, với bài phản biện từ góc độ thần học

Các báo cáo viên chụp cùng người chủ trì và người điều phối Hội thảo.

Buổi họp đầu tiên chuẩn bị cho hội thảo, có mặt đầy đủ các thành viên.

(Ảnh từ trang Tổng Giáo Phận Sài Gòn)

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.