Tặng phẩm của dòng sông: một thước phim âm bản của chiến tranh

Tino Cao

 

Trong thư viện văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh, Tặng phẩm của dòng sông của nhà văn Nhật Tiến (1936-2020) là một trong những truyện ngắn hiếm hoi không nhắm đến việc mô tả những ngày tháng rực lửa hay các bước ngoặt lịch sử. Tác phẩm chuyển hướng quan sát sang những phần đời bị đẩy ra phía sau, nơi ánh sáng của sử thi không vươn tới và chiến tranh để lại dấu vết bằng sự gặm nhấm của đói nghèo, hoang tàn và nỗi sợ hãi. Ở thế giới ấy, chiến tranh không bùng nổ trong tiếng súng; nó thấm vào từng thớ đất, vào mùi bùn mục ẩm ương và vào hơi nước đục ngầu của dòng sông chở theo nó những tàn tích của một xã hội đã bắt đầu tự phân rã. Nhật Tiến không chủ ý xây dựng trong tác phẩm của mình một hình tượng anh hùng hay phô trương giọng điệu chính nghĩa của chủ nghĩa minh họa (illustrationism), cũng chẳng có khoảng trời lịch sử nào được ông cố tình gợi mở. Chỉ có những thân phận con người bị bào mòn đến kiệt quệ, những thân xác vô danh lẫn với rác rưởi của thời loạn và những đường nét nhân tính mỗi ngày một phai mờ trong sự chịu đựng kéo dài đến tận cùng.

Tôi đọc truyện trong ngày lễ Tạ Ơn năm nay với cảm thức của một hậu bối đang mở một cánh cửa dẫn xuống tầng hầm của kí ức chiến tranh, nơi hoài niệm về một không gian hơn nửa thế kỉ trước vẫn phủ nguyên lớp bóng tối đặc quánh. Ngay từ đoạn mở đầu, Nhật Tiến không đưa người đọc ra mặt trận mà đặt trước họ hình ảnh một xác trâu trương phình mắc dưới chân cầu tre. Cảnh tượng tưởng nằm bên lề đời sống ấy nhưng sức nặng của nó nằm ở sự đảo lộn các giá trị quen thuộc. Con trâu, vốn gắn liền với nhịp sống thuần hậu của nông thôn Việt Nam, nay trở lại trong trạng thái phân rã, kéo theo sự biến dạng của cả một lớp biểu tượng từng nâng đỡ đời sống tinh thần người Việt. Chỉ với một cảnh duy nhất, Nhật Tiến đã làm hiện rõ mức độ xâm lấn của chiến tranh vào nền tảng văn hóa. Chiến tranh trong câu chuyện của Nhật Tiến không chỉ tàn phá thân xác mà còn bào mòn những hình ảnh cốt lõi vốn tạo nên cảm thức yên ổn của cộng đồng.

Nếu quan sát truyện trong một chiều sâu rộng hơn thay vì theo dõi từng chi tiết rời rạc, có thể thấy toàn bộ chuỗi nhân vật và tình huống xoay quanh xác trâu đều cùng tham dự vào một quá trình suy giảm nhân tính dưới sức ép triền miên của chiến tranh. Sự có mặt của toán nghĩa quân bên bờ sông không chỉ là một “cảnh” lẻ, mà là điểm khởi đầu cho một cách nhìn bị vẩn đục: họ không thấy một con vật chết, họ thấy một khả thể bạo lực. Trong thế giới ấy, bất cứ vật gì trôi trên sông đều có thể là cái bẫy; và nỗi nghi kị đã trở thành một cấu trúc của tri giác. Việc họ nã đạn vào xác trâu, vì thế, vừa là phản xạ tự vệ, vừa là biểu hiện của một tâm thế bị chiến tranh chiếm hữu đến mức phải chứng minh sự an toàn của mình bằng cách bắn vào cả cái đã không còn sự sống. Cái vô nghĩa của cái chết con trâu bị đẩy lên tới một nấc mới chính ở chỗ đó: bạo lực tiếp tục tác động vào một đối tượng không còn khả năng đáp trả như thể nó không tìm được điểm dừng.

Sang tới gia đình ba người, cái nhìn của truyện rời khỏi chiến tuyến để dừng ở mặt kia của cùng một hoàn cảnh. Nếu ở phía nghĩa quân, nỗi sợ định hình hành vi, thì ở phía những người dân, cái đói trở thành trục quy chiếu của mọi lựa chọn. Họ cúi xuống xẻ thịt xác trâu, không phải vì dục vọng tàn nhẫn, mà vì sự sống của họ đã bị đẩy đến giới hạn nơi những chuẩn mực đạo đức bình thường không còn chỗ đứng. Khoảnh khắc người đàn bà ngần ngại trước thân xác phân rã chỉ lóe lên như một quầng sáng yếu ớt rồi tắt lịm, nhường chỗ cho cử chỉ chấp nhận không thể tránh. Nhật Tiến không kết án họ mà gợi cho ta thấy cách chiến tranh làm cho khái niệm “rất ghê tởm” và “có thể ăn được” bất ngờ hòa nhập vào nhau trong cùng một thực tại. Cùng trên cái phông nền hiện thực đó, đứa trẻ hiện lên như một điểm giao chéo giữa kí ức yên bình và hiện tại tan rữa. Việc thằng bé hớn hở bơi ra dắt xác trâu, lặp lại y nguyên cử chỉ từng dành cho một con trâu sống, cho thấy mức độ xói mòn của chiến tranh đối với đời sống tinh thần. Nó không còn phân giới rạch ròi giữa trò chơi vô tư và sự tiếp xúc trực tiếp với cái chết. Ở đây, tuổi thơ không chỉ bị tổn thương; nó được tái hiện và cấu trúc lại theo một hệ quy chiếu khác, nơi cái chết hiện diện như một phần bình thường của thế giới và được chạm tới bằng cùng một sự hồn nhiên từng dành cho sự sống.

Tuy nhiên, chỉ đến khi gã điên xuất hiện, toàn bộ bức tranh mới bộc lộ phần bóng tối sâu nhất. Gã không được giới thiệu bằng tiểu sử mà xuất hiện trực tiếp bằng thân thể tật nguyền, ánh mắt đỏ quạnh và những cử động méo mó. Ở cấp độ biểu đạt, đó là cách Nhật Tiến đưa tới một dạng nhân vật không còn thuộc về trật tự xã hội bình thường, một “di tích sống” của chấn thương tập thể. Gã không còn ngôn ngữ, chỉ còn phản ứng: vui mừng một cách bản năng khi được ném cho một mảnh da thừa, hoảng loạn tột độ trước tiếng súng giả của đứa trẻ. Những phản ứng ấy là biểu đồ cô đọng của một lịch sử không được kể. Nỗi kinh hoàng đã tích tụ đến mức mọi âm thanh gợi nhớ tiếng súng đều đánh thức cơn ác mộng và mọi dấu hiệu của thức ăn đều kích hoạt bản năng giành giật. Khi bám theo gia đình ba người mà không bao giờ được thừa nhận như một phần của “chúng ta”, gã hiện lên như kẻ bị gạt ra khỏi cộng đồng, dù chính gã cũng là sản phẩm cực đoan nhất của cùng một hoàn cảnh. Sự xua đuổi dành cho gã, dù dưới hình thức trò đùa trẻ con, làm lộ ra mức độ co rút của tình liên đới. Trong thế giới bị bóp nghẹt bởi thiếu thốn và hiểm nguy, con người bảo vệ phần sống ít ỏi của mình trước cả những kẻ khốn quẫn hơn mình.

Đoạn gã quay lại bờ sông, ngồi lặng chờ phần thịt còn sót lại bên chỗ xác trâu đã bị quẳng xuống nước, đánh dấu một chuyển động quan trọng trong cấu trúc đạo đức của truyện. Tại đây, chiến tranh không còn tồn tại như một bối cảnh bao quanh mà đã thấm vào tận nền tảng ham muốn và tri giác. Hi vọng của gã thu hẹp lại vào duy nhất một mục đích: miếng ăn. Và đối tượng của hi vọng ấy lại chính là một thân xác phân rã. Sự đảo lộn này cho thấy cái đói và nỗi sợ đã uốn lệch thế giới tinh thần đến mức giá trị của sự sống và cái chết không còn giữ được giới hạn vốn có.

Sáng hôm sau, khi gã reo lên vì thấy một xác trôi khác mắc vào cột tre và kéo nó vào bờ bằng đúng cử chỉ đứa trẻ đã làm hôm trước, điều lặp lại không chỉ là một hành động mà là một mô thức nhận thức: trong mắt gã, mọi thân xác trương lên giữa bùn nước đều trở thành cùng một loại “tặng phẩm”. Khoảnh khắc người đọc nhận ra đó là xác người, trong khi gã thì không, tạo nên một khoảng trống tri giác nơi thảm kịch thực sự diễn ra. Sự kinh hoàng không nằm ở bản thân hành động mà ở chính sự bình thường của nó trong mắt nhân vật. Bi kịch không dồn vào gã mà hiển thị ở một thế giới đã đẩy con người đến mức không còn khả năng nhận diện đồng loại của mình như con người. Ở chiều sâu đó, truyện không còn chỉ kể về chiến tranh như một chuỗi biến cố; nó trở thành một nỗi ray rứt về mức độ xói mòn mà bạo lực gây ra đối với những nền tảng tưởng như bất khả xâm phạm của nhân tính.

Ở góc nhìn bút pháp nghệ thuật, biểu tượng dòng sông trong truyện giữ vai trò như sợi chỉ đỏ kết nối mọi lớp nghĩa. Nó không còn mang vẻ trôi chảy thanh lọc quen thuộc của thơ ca truyền thống mà trở thành nơi dồn tụ những phế tích của đời sống, là đường dẫn của cái chết, là mặt gương phản chiếu sự bế tắc triền miên của một xã hội bị chiến tranh đẩy đến cái ngưỡng của sự suy kiệt. Khi xác trâu mắc lại vào cột tre và sau đó cũng chính ở vị trí ấy xác người mắc lại, vòng lặp của bi kịch hiện ra trong lạnh lẽo. Nước vẫn chảy nhưng sự mục rữa không biến mất. Không có gì được hóa giải. Những thân xác trương phình không tìm được đường ra biển mà bị giữ lại ngay tại chỗ, buộc con người phải đối diện trực tiếp thay vì để thời gian xóa nhòa. Ở đây, Nhật Tiến dùng chính sự ngưng đọng ấy để gợi một trạng thái đình trệ tinh thần, nơi lịch sử không tiến lên mà cứ xoay mãi trong bùn lầy của những mất mát dồn nén. Dòng sông vì thế không chỉ là bối cảnh mà còn là một phóng chiếu tư tưởng khi mà sự vận động bề mặt che giấu bên dưới nó một dòng chảy tù hãm.

Nếu nhìn qua lăng kính phân tâm học, gã điên trở thành hóa thân của phần bản năng bị chiến tranh giải phóng. Gã đói, gã sợ và gã sống bằng phản xạ tức thời. Trong gã không còn trật tự lí trí hay đạo đức nào được vận động; tất cả đều bị chấn thương đứt đoạn. Chính vì thế, khi gã hoảng loạn trước tiếng súng giả, khi vui sướng vì một mẩu da thừa, hay khi reo lên lúc kéo xác người như thể kéo một món quà, ta thấy sự trở về của con người về trạng thái nguyên thủy nhất. Gã không chỉ là một cá nhân gánh chịu bệnh lí tâm thần mà còn là biểu hiện phóng đại của thời đại, nơi chiến tranh cướp mất toàn bộ điểm tựa tinh thần và khiến bản năng trần trụi trỗi dậy. Thông qua gã, Nhật Tiến cho thấy chiến tranh không chỉ phá hủy cơ thể con người mà còn phá vỡ khoảng cách giữa người và tính phi nhân trong chính ý thức của họ.

Giá trị đáng kể khác của truyện nằm ở quyết định nghệ thuật không để lộ bất kì khe hở nào cho hi vọng. Không nhân vật nào gợi mở ánh sáng. Không hành động nào cố ý hướng về sự cứu rỗi. Ngay cả người phụ nữ giữ được phần lương tri mỏng manh cũng không thể xoay chuyển hoàn cảnh. Nhật Tiến tuyệt đối trung thành với bóng tối mà ông quan sát. Ông không dùng giọng văn để xoa dịu, không trao cho nhân vật cơ hội vượt thoát, không gợi ý về một trật tự đạo đức được tái lập. Trong bối cảnh văn chương thời chiến thường tìm điểm tựa ở tinh thần lạc quan hoặc niềm tin vào chính nghĩa, sự khước từ này của Nhật Tiến tạo thành một lập trường thẩm mĩ khác hẳn. Ông nhìn thẳng vào sự bất lực mà chiến tranh gieo xuống những kiếp người nhỏ bé, cho thấy không phải lúc nào đời sống cũng có lối mở và rằng có những vùng tối không cách gì xuyên qua được.

Bởi vậy, khi truyện kết thúc bằng hình ảnh gã điên ngồi bên xác người mà gã coi như tặng phẩm, không ai ngăn cản, chứng kiến hay giữ lại dù chỉ một khoảnh khắc tôn nghiêm cuối cùng dành cho xác chết, ta hiểu rằng đó không phải là dấu chấm hết mà là một câu hỏi chất vấn: con người có thể bị đẩy xuống thấp đến mức nào trước khi đánh mất hoàn toàn khả năng nhận ra nhau như đồng loại. Câu hỏi ấy không mang ý định tìm kiếm câu trả lời. Nó tồn tại như một thứ vĩ thanh rát buốt sau những câu chữ cuối cùng, khiến người đọc không thể trở về trạng thái bình thường ngay lập tức. Chính sức dư chấn ấy cho thấy truyện không chỉ muốn mô tả hiện thực mà muốn chạm vào tầng cảm thức nơi đạo đức bị lung lay tận gốc.

Tặng phẩm của dòng sông vì thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng về sự phân rã của đạo đức và của kí ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh ép đến khô kiệt. Một xác trâu và một xác người trôi sông không còn đứng ở hai đầu của một trật tự sinh học mà trở thành hai hình ảnh hoán đổi cho nhau, hai sản phẩm giống nhau của cùng một xã hội đã kiệt quệ đến mức không còn khả năng bảo vệ điều thiêng liêng nhất. Nhật Tiến không diễn giải ý tưởng. Ông mô tả bằng hình ảnh và để hình ảnh tự mang lấy phần triết lí của nó. Ông không biện luận. Ông để sự im lặng tạo nên sức ép. Và chính sự im lặng ấy mới là khoảng tối cho người đọc tự soi chiếu và tìm thấy mức độ đổ vỡ bên trong.

Điều khiến cho câu chuyện của Nhật Tiến để lại một ấn tượng đặc biệt nằm ở khả năng viết về chiến tranh bằng những hình ảnh chân thực nhất. Tiếng nước vỗ vào một thân xác trương phình, mùi thịt phân rã, tiếng đứa trẻ bắn súng bằng miệng, tiếng cười lạc giọng của gã đàn ông mất trí… tất cả tạo nên một bản tường thuật về một thế giới nơi sự sống và cái chết, sự lành lặn và tật nguyền, sự tỉnh táo và điên loạn không còn ranh giới tách biệt. Chiến tranh trong truyện của ông không hiện diện nơi con người được dựng lên như biểu tượng anh hùng hay ngã xuống như vật hi sinh mà ở nơi họ phải tiếp tục tồn tại giữa những tàn tích đang mục nát. Nó không ầm ĩ trên các trận địa mà lẩn khuất trong những bờ sông lặng nước, nơi xác trâu và xác người bị giữ lại như những “tặng phẩm” ghê rợn của thời đại.

Chính với ngòi bút ấy, Nhật Tiến tìm được cho mình một giọng điệu riêng. Tặng phẩm của dòng sông không chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào kí ức người đọc hình ảnh một vùng tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lí đến nghẹt thở. Tôi đọc ông, và tôi tự hỏi: trong chiến tranh, con người liệu còn có thể giữ lại được gì cho mình ở ngưỡng tận cùng của sự hủy diệt?

̣̆ ℎ̣ ̀ ℎℎ, ́ ̛̃ ̉ ℎ̀ ̆ ℎ̣̂ ̂́, ℎ̂ ̀ ̂̃ ̣ ̛, 25.11.2025

TẶNG PHẨM CỦA DÒNG SÔNG

Nó mắc lại ở bờ sông. Sợi dây thừng xỏ mũi vướng phải cái cột tre. Sóng nước đưa nó đi vòng quanh cho đến lúc nó dính cứng lấy cây cột. Bây giờ thì nó nổi lều bều và đen thui như một cái đụn nhỏ. Đấy là xác của một con trâu. Một con trâu chết tr­ương trong lòng nước. Một con trâu nào đó, ở vùng nào đó, đã chết trong một trận giao tranh nào đó trong cuộc chiến vốn đang kéo dài mệt mỏi này. Xác con trâu có vẻ đã trôi qua một chặng đường dài. Những cọng rác cuốn theo đã kết lại, bám ở cổ, ở bụng, ở sừng. Bùn lẫn đất phù sa bắt đầu tạo thành ngấn ở làn da bụng chỗ mấp mé mí nước.

Ng­ười ta trông thấy nó từ sáng sớm. Thoạt đầu là lão Quới đi câu tôm. Lão quan sát nó kỹ càng rồi nhún vai bỏ đi. Xác con trâu trương làm lão nhớ đến những xác người cũng trương to như thế rải rác trên cánh đồng. Mùi tanh t­ưởi bốc lên làm lão lợm giọng. Lão mất cả hứng đứng câu tại chỗ quen thuộc có nhiều tôm lớn. Sau đó là đám nghĩa quân của anh Bằng. Họ xúm lại quan sát con trâu bằng những cặp mắt nghi ngờ. Tụi nó vẫn thư­ờng có những cái trò để mìn trên những bè lục bình cho trôi sông. Chiếc bè táp vô cầu và nổ tung. Con trâu cũng nổi như cái bè vậy. Nh­ưng trên làn da đen thui nhếch nháp bùn và máu khô của nó, không chỗ nào mang một cái vẻ đã được gài mìn. Bằng sốt ruột, hư­ơi cây súng xả một băng nổ dài. Có những viên tr­ượt ra ngoài rơi lõm tõm xuống nước. Có những viên ghim lên mình con trâu, xé rách toang thành từng mảnh lớn. Nước sông ùa vào thêm, xác con trâu bị xô đi táp lại rời đổi vị trí cũ. Bây giờ bốn cẳng của nó ngửa lên trời. Một mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Cả bọn bịt mũi nhìn nhau rồi bỏ đi. Con trâu vẫn dính cứ­ng lấy cây cột và nằm phơi ở đó đến chiều.

Chiều hôm ấy có một tốp người đến chiếu cố. Họ gồm một ông già, một thiếu phụ và một thằng con nít. Thằng nhỏ hăng hái lội xuống nước. Thiếu phụ đứng trên bờ ra vẻ ngần ngại. Còn ông già thì không nói, xăm xăm cầm sợi dây thừng chờ thằng nhỏ bơi tới con trâu là quẳng cho nó buộc. Thân mình của thằng bé ốm tong teo, bờ vai x­ương xẩu, làn da đen đúa, đầu tóc rối xù. Dưới làn nước đục ngầu và đầy rác rưởi, trông nó như một con chó nhỏ xấu xí, bẩn thỉu đang ngụp lội.

Nó xoải tới trước cái cọc tre. Chiếc cọc bây giờ nghiêng đi vì sức nặng bấu víu của con trâu. Bàn tay nhỏ xíu của nó lần tới đầu mối của sợi thừng. Nó gỡ ra một cách nhanh nhẹn. Con trâu được giải thoát khỏi cây cọc và nằm trong tay dẫn dắt của thằng nhỏ. Thằng nhỏ rít lên một tiếng thích thú. Đã lâu lắm nó mới được bơi dắt một con trâu trong lòng nước. Nhưng con trâu ngày xưa biết bơi, biết lội, biết ngoan ngoãn giơ lưng cho nó trèo lên và nhìn nó bằng đôi mắt hiền từ. Bây giờ con trâu lại nằm ở cái tư thế lật ngửa, bốn vó chổng lên trời, phơi cái bụng toang hoác những xương cùng thịt bầy hầy và xông lên mùi thối tha buốt tới tận óc.

Nương theo dòng nước, thằng bé lái được con trâu vào bờ. Mọi người xúm lại giúp nó kéo lên bờ cỏ. Mình trâu nát bét những vết đạn, có chỗ bị mở banh ra, thịt cháy đen xạm, lại còn có từng mảng máu đã khô đen lại nom như những mảng nhựa đường. Tuy nhiên, nhìn cho kỹ thì cũng vẫn có vài chỗ còn xài được. Bốn cái đùi vạm vỡ, ức nở to chắc nịch, xẻ ra phải được hàng chục ký thịt. Còn hơn là ăn mãi củ mài hay đọt chuối. Cuộc chiến ở đây kéo dài cả năm nay rồi.

Ông già vận sức bẩy được xác trâu vào một bờ cỏ. Thiếu phụ giở xách tay ra soạn một mớ dao to, nhỏ. Có cả cái c­ưa tay tuy cùn nhưng chắc là sẽ đắc dụng. Một đùi trâu được banh ra. Thịt bên trong chưa đến nỗi ngả mầu xám xịt. Một vài gân máu còn giữ được mầu đỏ tươi. Mầu đỏ làm cho ai nấy đều sáng lên những nét hăm hở, rạng ngời.

****

Bỗng từ xa phóng tới một bóng ng­ười. Tiếng cười the thé lan tới, trư­ớc khi thân hình bẩn thỉu rách rưới của gã ta xuất biện. Trông gã không ra dáng một con người. Da gã tái mét, mắt đỏ rừng rực như hai đốm lửa, hàm răng trắng nhởn, khấp khểnh như răng bò, cái lưỡi lúc nào cũng như thè lè ra, nhễu cả rãi lẫn rớt. Gã đứng ngất ngư, hai cẳng chân đong đưa như hai ống sậy. Cánh tay phải còn lành lặn ve vẩy trước mặt, còn tay trái gẫy một nửa để phơi ra ngoài một lớp da rúm ró, trầy trợt, dính đầy bùn và đất bẩn.

Gã mở to mắt nhìn con trâu. Phẩm vật bất ngờ làm gã vui thích. Gã ré lên cười cầu tài với mọi ngư­ời. Hai chân gã nhảy cẫng lên, chạy tới chạy lui, hết ngó ông già lại ngó thiếu­ phụ, hết ngó thiếu phụ lại xán tới gần thằng nhỏ. Thằng nhỏ liệng cho gã một mẩu da thừa. Gã cười lên thành những tiếng khẹt khẹt. Cặp mắt rực lửa, rãi rớt chẩy ra lòng thòng. Cánh tay lành lặn ve vẩy rối rít. Ông già thấy vậy vội la lên:

– Mày rỡn với nó thì hết ngày. Mặc nó!

Vẻ mặt đang hớn hở của gã què bỗng nhiên xịu xuống. Gã quay lại nhìn chòng chọc về phía ông già, ánh mắt thù hận. Ông già trừng mắt lên nhìn, rồi chợt hù lên hai tiếng “Bùm! Bùm!”. Gã đàn ông xanh mặt vội che tay lên đầu, vừa chạy vừa la thảm thiết. Rõ ra là gã đã bị bệnh thần kinh khi nghe thấy tiếng súng. Thằng nhỏ thì lại thích chí phá lên cười. Nó còn dọa gã tiếp theo bằng một tràng súng liên thanh bắn bằng mồm nghe y như­ thật. “ Đoàng! Đoàng!” Gã đàn ông hốt hoảng lao đầu­ vào một bụi cây, bàn tay còn lại của gã cào xé xuống nền đất bẩn nom như một con vật đang vội vã đi tìm một nơi trú ẩn.

Sự việc xẩy ra có vẻ làm cho thiếu phụ đứng đó cảm thấy bất nhẫn. Nàng hơn nhăn mặt với ông già rồi lừ mắt nhìn đứa nhỏ. Thằng bé vội vàng cúi xuống cưa nốt mảng đùi trâu đang gần đứt lìa.

Đến sẩm tối thì con trâu không còn nguyên hình thù lúc trước. Một đống thịt bầy nhầy được bó lại và buộc gọn trên một cây đòn. Trên mặt đất, phần xác trâu còn lại nom toét hoét với những mảnh xương trắng hếu xen lẫn với những mảng tiết đen xì. Mùi hôi thối xông lên nhức óc. Ông già hạ lệnh:

– Thôi, đi!

Thiếu phụ hỏi:

– Còn cái đống này?

– Kệ nó!

– Rồi mai nó bốc mùi đi khắp chỗ, chịu không thấu đâu.

– Vậy liệng đại nó xuống sông cho rồi!

Ba người lại hì hục một chuyến nữa. Xác của con trâu lại được trả về với dòng nước đục ngầu. Lần này nó không còn nổi được trên mặt sóng. Sau một tiếng “ùm” kéo theo những bọt nước tung tóe, cái hình thù kỳ dị của nó trôi phăng đi và dần dần chìm sâu trong đáy nước.

Trên đường trở về, ba người đi một cách vội vã. Những đốm đạn lửa đỏ lừ đã thấy xuất hiện trên nền trời tím xẫm, chỗ ngang mé đồn có tháp canh cao vòi vọi. Đồng quê im ả một cách ghê rợn, tựa hồ tất cả như đang chìm trong một vùng đất chết. Không có tiếng chó sủa, không có bóng người đi, không cả dáng trâu quen thuộc đang về chuồng lúc còn thuở thanh bình. Cả ba người lầm lũi bước đi như ba cái bóng chập chờn trong ánh sáng nhá nhem của buổi chiều sắp tắt. Chỉ ở phía đằng sau, cách họ một khoảng khá xa là còn có một đôi mắt đang dõi theo dấu chân của ba người. Đôi mắt rực lửa. Đôi mắt đỏ lừ. Đôi mắt của gã đàn ông mất trí sau những trận đụng độ kinh hồn hồn từng xẩy ra đây đó trong vùng.

Gã lủi theo ba người như một con chó ghẻ không dám chường mặt ra trước mọi người. Dẫu sao thì gã vẫn còn sợ tiếng súng phát ra từ mồm ông già, tiếng nổ ròn rã qua miệng đúa trẻ, giống hệt ngày nào cả gia đình gã bị thiêu đốt trong lửa đỏ giữa những tràng đạn nổ ở cả bốn phía, liên hồi.

Gã theo riết ba người, đi qua những con đường mấp mô, băng qua từng hố bom, hố mìn sâu hoắm, những thềm nhà hoang cháy xám xịt, cả những thân dừa gẫy gục, những chum nước cạn khô và những nếp tường vôi nghiêng đổ đã lên mầu rêu xanh. Cuối cùng thì toán ba người chui xuống một căn hầm tối. Cánh liếp che bên trên được kéo lại. Thế là gã đàn ông lại chỉ còn có một mình!

Gã bực bực bội ngồi bệt lên một thân dừa nằm chắn ngang lối đi. Bóng tối bây giờ bao trùm hoàn toàn xuống cảnh vật chung quanh. Gã có cảm giác như mình đang bị chôn sống trong một khu mộ tối. Gã không còn biết mình đang ở đâu, đang làm gì và đang giữ cái vai trò gì ở cái chốn đồng quê hiu quạnh và khốn khổ này. Hình ảnh gần gũi nhất đối với gã bây giờ là hình ảnh của con trâu nằm tênh hênh trên mặt cỏ bị những lưỡi dao sáng loáng lóc từng mảng thịt.

À thì ra con trâu! Hẳn nó vẫn còn nằm ở đó! Gã chợt nhẩy quẫng lên khi nghĩ ra rằng, ba người kia đã chui xuống hầm thì gã sẽ được tự do làm chủ tất cả phần bỏ đi, còn lại. Thế là hai cẳng chân của quẫng lên. Gã vội vã băng qua những thân dừa gẫy đổ, những đống tàn tro và gạch vụn, qua cả những hố bom, hố mìn. Chắc lúc đó, trong bóng tối, lưỡi của gã lại thè ra, rớt rãi lòng thòng.

Một lát sau, gã mò được ra tới bờ sông.Tới đúng chỗ những mảnh thịt vụn và đám tiết đông xám ngoẹt vẫn còn đang bốc mùi. Nhưng con trâu không còn ở đó. Gã dụi mắt nhìn vào bóng tối để xục xạo từng bờ cây, bụi cỏ. Nhưng bốn bề quanh gã chỉ có tiếng nước vỗ óc ách vào mạn bờ, và ở phía đằng xa, rất xa, tiếng bom dây trút xuống một vùng nào nghe rền rĩ nh­ư tiếng rên la của mạch đất đang cựa mình. Tuy vậy không thể vì thế mà gã bỏ cuộc. Gã bám riết lấy ý nghĩ mình là sẽ được làm chủ gần nguyên cả một con trâu. Gã cũng sẽ lóc thịt, cũng sẽ xỏ vào một cây đòn dài, sẽ khiêng một mình vào một căn hầm tối nào đó. Mùi hôi thối quanh đây báo cho gã biết là gã không tìm nhầm chỗ. Nó đúng ở chỗ này. Nó đã nằm tênh hênh trên nệm cỏ, phơi thân hình rách toác dưới nắng xế của một buổi chiều sắp tắt. Sự tin tưởng làm gã không muốn bỏ đi. Gã ngồi xuống một mô đất nhỏ. Gã sẽ chờ đến sáng mai. Con trâu sẽ là của gã. Gã sẽ là chủ. Gã sẽ được lóc thịt, không ai có quyền đuổi gã đi như ông già đã xua đuổi gã lúc buổi chiều.

Và gã đã chờ đến tận sáng hôm sau. Ánh sáng lùa vào đôi mắt của gã như trút cả một vầng tia chói lọi. Thì ra đêm qua gã đã ngủ thiếp đi từ lúc nào. Lúc mở mắt ra, gã choàng tỉnh táo ngay vì cái mùi hôi thối đêm qua lại xộc vào đến tận phổi. Điều này làm gã nhớ ngay đến con trâu. Gã bật dậy, dáo dác đi tìm. Gã chợt réo lên to một tiếng rồi cất giọng c­ười. Gã đã tìm thấy con trâu!

Con trâu đang nằm trương lên, xác vướng vào một cột tre làm chân cầu. Gã thấy rõ cả cái bụng phồng to lên, tím ngăn ngắt.

Gã lấm lét nhìn quanh, thấy chẳng có ai, thế là gã nhẩy ùm xuống nước và bơi lại gần. Bây giờ thì bàn tay còn lại của gã đụng được hẳn vào mình con trâu. Hình như nó có vẻ khác thường. Nó không hẳn là một con trâu. Trên mình nó có cả những mảnh quần áo rách bươm, ướt sũng nước.

Nhưng gã cần gì! Cái xác này cũng trương to như xác một con trâu. Lại nguyên vẹn chưa có ai cầm dao lóc thịt. Lại chính là của gã. Một mình gã đã tìm ra. Nó sẽ là của riêng gã. Không kẻ nào dám bắn súng “bùm bùm” để xua đuổi gã đi như thằng nhỏ và ông già kia đã làm. Gã rít lên cười thích thú. Mắt gã đỏ ngầu nhìn con mồi một cách say sưa. Gã cố gắng thò cánh tay còn lại, cánh tay độc nhất ra gỡ một đụn tóc đang vư­ớng phải cây cột cầu tre. Và rồi, bắt ch­ước cử chỉ của thằng bé ngày hôm qua, gã lôi đ­ược cái xác vào bờ. Gã đang nghĩ đến một chỗ nào khuất nẻo để che giấu tặng phẩm bất ngờ của mình.

Một căn hầm bí mật nào đó. Một mái nhà sụp nghiêng. Một bể nước khô cạn. Hay một hố bom, hố mìn rất sẵn, nằm rải rác trên cánh đồng hiu quạnh của đồng quê tan nát, điêu tàn này.

Ở đó gã sẽ tìm cách mổ xẻ tặng phẩm của dòng sông nh­ư hồi chiều hôm tr­ước đã có ngư­ời làm như­ vậy.

NHẬT TIẾN

(1973)

Chú thích của Văn Việt

Tặng phẩm của dòng sông là tên của một truyện đăng trong tập truyện cùng tên do Huyền Trân xuất bản năm 1972. Trên địa chỉ: https://nhavannhattien.wordpress.com/truyen-ngan-tang-pham-cua-dong-song/, cuối truyện ngắn này ghi 1973, nhưng đó là do đánh máy sai (thông tin do chị Bùi Mai Khanh, ái nữ của nhà văn Nhật Tiến, cung cấp).

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.