Thong dong mà viết…

Nguyễn Thị Thanh Xuân

Mấy năm nay bạn được lơi mình trong việc đọc và viết, và đây là một bài vào mấy tháng cuối năm 2025, nằm trong tập thơ  NGHÌN NGHI LỄ TÌNH của NHẬT CHIÊU[*]. Với Thơ, những lời này chỉ là gợi, có chạm vào văn bản, mới nghe trọn âm vang…

TRONG YÊU THƯƠNG, GIỮA THIÊNG LIÊNG

Nhật Chiêu làm thơ từng ngày như đang thở. Thơ ông đến với mọi người như khí trời, nhẹ nhàng mà hào phóng.

Một ngày, từ rất nhiều bài đã đọc, bạn sẽ được cầm trên tay một tập thơ. Bạn sẽ nhận ra cảm giác khác thường khi chạm vào trang giấy: chữ như có chiều sâu và hình sống động, cả hai cùng cất tiếng…  Nghìn nghi lễ tình, từng từ một của nhan đề đã vang lên vọng âm của cổ mẫu. Nghìn, con số biểu tượng nói với ta một mênh mông: nghìn thu, nghìn dặm… Nghi lễ, một trao dâng thành kính. Tình, là yêu thương, cội nguồn của an hoà trong lòng người.

“Chơi cuộc tàn phai” và “Đã hoá chân trời”: hai phần của tập thơ như nói với chúng ta về con đường mà ai cũng phải đi qua. Nhưng để nhìn thấy con đường ấy như là cuộc chơi trần thế, nghĩa là từng ngày hân hoan cảm nghiệm được nhịp điệu sinh diệt trong chính mình, và cuối cùng được tan biến vào cái mênh mông của vũ trụ, thì có lẽ người đi phải có tâm hồn hành giả.

Nhật Chiêu vừa là hành giả, vừa là thi nhân, nên ông đã đi mải miết trên đường, để lại chi chít dấu chân qua lời, chữ. Trải nghiệm mà ông sẻ chia, rất ân cần: đôi khi là một dỗ dành, cho chính ta, cho thơ, cho người:

Ngồi trong bình lặng thơ ơi

Cõi hoang ta hãy

Quy hồi trong ta.

Ta từ lạc bước bước ra

nghìn năm nghe võng hiên nhà nuối đưa.

(Ngồi trong bình lặng)

Chỉ sáu dòng thôi, bài thơ vừa liên văn bản, vừa ủ nhiều tầng ý, chạm nhiều hình ảnh; có không gian nguyên sơ và thời gian cổ kính; có cái neo giữ giản dị của đời thường, để ta trở về sau những ngày lạc bước. Từ “nuối” ở đây quá tuyệt. Có lẽ chưa ai dùng nó trong thơ, như Nhật Chiêu. “Nuối” mạnh hơn “nuối tiếc”, bởi nó gợi lên cái trạng thái vương vấn của khoảnh khắc cuối đời. Từ “đưa” cũng đa nghĩa. Cả hai làm ta phải dừng lại ngẫm ngợi: Tiếng võng đưa níu lấy ta, hay là tiếng võng tiễn ta đi mà tiếc nuối, hay ta mãi lưu luyến tiếng võng đưa từ hiên nhà đã thấm sâu trong ký ức?

Mỗi bài thơ ở đây có thể cần đọc kỹ trong gợi ý của Tu từ học, nhưng hình như Nhật Chiêu không đi theo nguyên tắc “thôi xao” mà nương theo trực giác nghệ thuật và vô thức của từ, lắm khi chữ gọi chữ, âm mời âm và câu nảy từ câu.

Đi qua tất cả các thể thơ, và có những cách tân độc đáo, thơ của Nhật Chiêu luôn như dòng chảy nhẹ, như giọt sương rơi, như vệt nắng vương bất ngờ một ngày được lang thang đây đó. Rõ nhất là tâm thế hành hương qua sách vở. Bước chân đã rất dày, ký ức đã đầy ắp, tất cả cứ bục ra trong hồn nhà thơ những chữ, những câu, những hình ảnh, những nhân dáng đâu đó, và bài thơ từ đó tuôn trào. Nói theo ngôn ngữ học thuật, thơ ông có rất nhiều liên văn bản, bởi trường liên tưởng của ông rộng, hội tụ những chân trời khác biệt, hợp thành một “sinh khí” phóng khoáng và một “nhịp điệu” hài hoà, mượn cách nói của Vũ Đình Lưu.

Những dòng thơ buông nhẹ, đạm mà sâu, khó lần ra mấu nối, bởi chúng không theo một logic tự sự hay trữ tình thông thường: có thể gọi đó là chất phiêu của ngôn ngữ thơ ca. Nhật Chiêu giỏi trong biểu đạt cái hỗn mang vô thường ảo diệu của thế giới và của lòng người. Mọc lên từ thổ nhưỡng Việt, thơ ông là lá cành của trầm tư triết học phương Đông, và hoa trái trổ ra ở đó nhờ một tâm hồn thấu cảm.

Khởi đi từ tâm thế “nghi lễ”, những bài thơ của Nhật Chiêu đầy ắp biểu tượng, làm thành một tấm thảm tâm tưởng, long lanh các cổ mẫu: nước, suối, mây, rừng, núi mưa, sen, , bóng, lụa… Có thể gặp nhiều phép lặp nơi đây, để nhấn một ý niệm, khảm khắc một dáng vẻ, tô đậm một cảm xúc, hay nối lại người xưa.

Sen, đã nhiều người viết, Nhật Chiêu ghi nhận sự hiện diện của Sen bằng phép lặp bốn lần “Lụa xé bung mình”. Bài thơ này đã níu chân người đọc, làm bồi hồi, tưởng như mình được chạm vào hình ảnh và âm thanh uyên nguyên của suối nguồn vĩnh cửu, ở đó, mọi sinh thể và vạn vật cộng sinh hoà ái dưới bầu khí bình an và ánh nắng chứa chan không phân biệt (Ôm cõi tuyệt trần).

Đọc  Nghìn nghi lễ tình, sẽ bắt gặp một “Ta” dạo chơi khắp cùng tập thơ, hoá thân nhiều khuôn mặt. Lúc “là người dưng”, “bước vô chừng”, lúc “tự ly kỳ/ đạp qua vua chúa/ ôm ghì người điên” (Ta nhìn từ phía sau ta). Lúc “thoáng hiện/ nụ cười từ tâm”, lúc “chơi khoảnh khắc”, lúc là “nụ hôn” (Ẩn hồn trong hoa). Thường là người “quen cười với ảo” (Quen cười với ảo). Nhưng được “làm lá” thì Ta mới thật thong dong:

Ta làm lá nhé Cây ơi

mắt xanh nhìn ngó xanh trời cũng hay.

 

Tự mình chơi cuộc tàn phai

chao thân trong gió mà bay nhẹ nhàng.

Vàng bay một cõi bay vàng

gọi thu xuống phố gọi nàng xưa yêu

(Tự mình chơi cuộc tàn phai).

Tự mình chơi cuộc tàn phai là một bài thơ hay, có thể gợi nhớ giấc mơ của ai đó ngày thẩn thơ cùng cây cỏ, có thể làm người nào ngộ ra về vẻ đẹp của cái vô thường.

Hình như cái tâm thế tự tại của nhà thơ đã in dấu trên tác phẩm của người: hầu hết các bài thơ ở đây đều đủ đầy, trọn vẹn. Những diễn giải hay trích dẫn, sẽ chẳng thể chuyển được cái hồn mênh mang trong đó. Cứ phải để chính bài thơ chạm vào người thưởng thức. Này đây, Ta là cá vẫn an nhiên chơi đến phút cuối cùng, ngày cạn nước:

Nước còn một chút phù vân

cá bơi khe nhỏ nước dần dần vơi.

biết không tình cạn cá ơi

ta đang thấy cuộc tàn chơi hiện tiền.

-Ta yên này nhé ta yên cất đi cái bóng ưu phiền người đi

ta chơi cần kể quái gì

niềm vui của cá cần chi tiếng người.

Còn ta với cuộc tàn chơi…

(Trò chơi).

Từ trải nghiệm riêng, cái Ta ấy có thể nhìn thấu suốt cái bào ảnh của mỗi người trong mênh mông cõi thế:

Tôi hư cấu ra tôi.

Sắc màu nào đó.

Đủ lung linh đời.

Thế rồi tôi mất dấu tôi.

Mà nay ai biết đâu thời xanh xưa.

Tên mình mình gọi ai thưa.

(Mất dấu).

Tưởng chừng như nhìn thấy ở bài thơ này tâm tình rất mực kín đáo riêng tây của Nhật Chiêu, người ít phơi mình ra thiên hạ:

Mùa xuân nào đã sinh ta

xuân phong nhiêu quá

đầy hoa trái mùa

 

ta ngồi nhớ những chiều xưa

xứ đau suốt xứ

đời mưa buốt đời

ta ngồi trên bệ không ngôi

trên khung không cửa

trên đồi vô nhân.

Ta chìm trong lũ buồn dâng

tàn tro lạnh lửa

lan dần hoàng hôn

này đây ta tự chiêu hồn

sấm vang thuở trước

sóng cồn mai sau

đứa con đã mất xuân đầu

vẽ lên tâm cảnh

một màu sắc không.

(Đứa con mùa xuân)

Trong tương giao,  Nghìn nghi lễ tình chan chứa.

Hình như đó là cái chan chứa của tranh sơn mài, ẩn hiện, óng chuốt sắc màu và đường nét trong dẫn dắt của Ngũ hành. Ta và em sóng đôi nhưng không chỉ biết nhìn nhau mà hân hoan sóng nhịp cùng vũ trụ.

Chúng ta đã có tranh tứ bình, từ Nhật Chiêu, nay có thêm thơ tứ bình với  Nghìn nghi lễ tình gồm Xuân khúc, Hạ khúc, Thu khúc, Đông khúc. Bộ tứ bình thơ này lời trang trọng, nhịp ổn định, âm hưởng vuông tròn làm nghĩ đến tấm tình nhà thơ dành cho người bạn đời khăng khít trăm năm, trong ơn phước Hoa Nghiêm và Thánh lễ.

Những gặp gỡ bất chợt đâu đó trên đường đời thường đi vào thơ Nhật Chiêu từ rung cảm về cái đẹp. Chỉ một vài đường nét thôi, như “mắt lá răm”, “sợi tóc rơi”, cũng đủ làm hồn thơ bay bổng, rụng rơi: muốn “làm một chân trời”, làm cánh đồng hoang vu, làm du tử, làm “trái mộng đời” (Đủ cho ta tạ lòng người), được làm “trẻ thơ chơi” (Tình cờ ta đi ngang đời). Chỉ một mùi hương từ “trái cây vừa bỏ quên”, cũng có thể dào dạt nhớ và tin (Nhẹ bóc vỏ quýt vàng); chỉ ai đó “chớp nhẹ làn mi”, người thơ đã “đà say” (Nghiệp cảm luân hồi); chỉ nhìn ngắm “Lặng lẽ môi người/ một nụ hồng thôi/ mà tim ấm lại/ tình ơi rực tình” (Lặng lẽ một ngày).

Thơ 4 chữ của Nhật Chiêu như những giọt bút màu tuần tự rơi trên giấy, vẽ nên một đổi dời không chỉ mang chiều kích cá nhân:

Nàng từ đồi núi

nuôi mình cỏ cây

tắm mình trong suối

chạm mình vào mây.

Rồi nàng bước hạ

qua cuộc vần xoay

quen dần phố xá

gặp người đời nay.

Núi đồi mây bay

cỏ non tình thực

nàng mang khe vực

cho ai lấp đầy.

Đêm chưa chạm ngày

nàng thì đánh mất

cõi mình thơ ngây

rừng nguyên sơ cháy

ai đâu còn ai.

(Nàng mang khe vực)

Nhà thơ Nhật Chiêu

Đọc  Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu, từ mở đầu Ngồi trong tĩnh lặng, đến kết thúc Quá giang, có thể thấy tập thơ thấm đẫm tư tưởng Thiền tông. Sẽ hiểu ra nghi lễ không phải là nghi thức bên ngoài, mà là nghi lễ trong lòng người, là con đường tự mình trải nghiệm; là trong thương yêu, luôn đi giữa thiêng liêng. Nằm trong bút pháp ánh trăng, thơ Nhật Chiêu phả một màu dịu dàng huyền ảo lên tâm cảnh và phong cảnh, cho phép ý và lời cất cánh, bay và phiêu giữa muôn trùng.

Nhật Chiêu, trên hành trình cùng chữ nghĩa, đã luôn thong dong thả mình theo một dòng trong trẻo, dù khí hậu nhiều lần biến động. Là Song Ngư nhé. Cá thì luôn bơi trong nước, mà cái dòng nước nơi ông sinh thành đã sớm hoà nhập với đại dương.

Sài Gòn, 16-10-2025

[*] Nhật Chiêu (2025),  Nghìn nghi lễ tình. Phanbook & Nxb. Phụ Nữ Việt Nam, tr. 5-13.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.