Mười năm (2016-2026)

Trần Thị Nguyệt Mai

Mười năm. Thời gian trôi qua nhanh như một chớp mắt. Mới đó, có ai ngờ. Bao nhiêu biển dâu và nước chảy qua cầu!

Hôm đến Virginia đưa tang họa sĩ Đinh Cường vào đầu năm 2016, buổi tối thứ Ba ngày 12/1, ở nhà anh chị Phạm Cao Hoàng, tôi đã được gặp các bạn của anh. Các anh Nguyễn Trọng Khôi, Chân Phương, Lữ Quỳnh, Nguyễn Đình Thuần, Trần Hoài Thư, Đỗ Thanh Tùng… Và các chị Duyên, Hoàng Bạch Mai, Nguyễn Thị Thanh Bình…

Tôi vẫn nhớ hôm đó anh Chân Phương dùng máy tính của Phạm Cao Hoàng viết điếu văn sáng mai đọc trong tang lễ. Anh Nguyễn Trọng Khôi ôm guitar đàn hát “Giấc mộng trên đồi thơm”, có lúc đệm đàn cho chị Hoàng Bạch Mai hát. Anh Trần Hoài Thư vì mắt kém không thể lái xe đi xa một mình, may có anh Lại Gia Định là phu quân của nhà văn Nguyễn Thị Hải Hà nhận chở giúp. Cũng đã 3 năm từ ngày chị Yến ngã bệnh, anh Trần Hoài Thư mới có dịp trở lại Virginia gặp bạn bè. Tối đó, anh vui, nổi hứng đọc thơ và cả hát “Sơn nữ ca”.

Giờ đây, điểm lại những gương mặt ngày ấy, nhà thơ Chân Phương đã giã biệt cõi trần chiều thứ Tư ngày 6/5/2020, nhà văn Trần Hoài Thư đi xa sáng sớm thứ Hai 27/5/2024 và nghệ sĩ Hoàng Bạch Mai, vào thứ tư 26/3/2025. Đó chỉ là nhắc đến những thân hữu tham dự lễ tang. Nếu kể thêm những người bạn của anh không đến dự được, còn có thi sĩ Du Tử Lê ra đi ngày 7/10/2019, họa sĩ Thanh Trí 29/1/2023, nhà văn Nguyễn Đình Toàn 28/11/2023, họa sĩ Khánh Trường 29/12/2024, họa sĩ Nguyễn Đồng 18/3/2025, và gần đây nhất là nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày 14/10/2025…

Không dưng lúc này trong trí tôi cứ nghĩ miên man đến Serenade của Franz Schubert được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt qua tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cao vút mà thật da diết: Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi / Người về khuất chân trời / Nhớ nuôi cho hương một chiều / Vương vấn đời… Vâng, đời đã vỡ và người đã khuất. Chỉ còn thương tiếc những bóng tài hoa…

Cuối tháng 10 vừa qua, Đinh Trường Giang, người con đầu của anh Đinh Cường, cho hay đang layout cuốn “Đi Vào Cõi Tạo Hình II”, để rồi sẽ in một ít giữ làm kỷ niệm. Trong Lời thưa đầu sách, Giang tỏ bày:

     Đây là những đoạn ghi của ba chúng tôi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình, đã đăng trên các tạp chí, các trang mạng, không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các họa sĩ đã từng gặp và tiếp xúc.

     Tập II này viết về những họa sĩ cùng thời của ông từ 1957 đến 1966 thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam và vài bạn bè họa sĩ trẻ. Đáng tiếc là còn vài người ông chưa kịp viết bài trước khi qua đời, nên có thể xem đây là một công trình dang dở.

      Tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn tập hợp các bài đã viết lại để in thành sách lưu giữ như một kỷ niệm.

      Xin được rộng lòng tha thứ cho những thiếu sót.

 

Đọc lại những dòng chữ cách nay đã mười năm, cảm xúc vẫn nguyên vẹn với cõi họa, cõi thơ của một Đinh Cường thơ mộng. Xem những tựa bài, tựa hồ một đoạn ghi của anh ngày cũ:

  1. Lê Thành Nhơn trở về với đất
  2. Để đi đến xám trắng và đen Nguyễn Trung đã là…
  3. Đỗ Quang Em, người đặt để ánh sáng một cách quyền uy
  4. Triển lãm tranh Nguyên Khai tại Virginia
  5. Đi San Antonio thăm Nguyễn Phước
  6. Trịnh Cung, cuối cùng cho một tình yêu
  7. Chân dung Mai Chửng, vừa hẹn tôi, mùa hè tới…
  8. Lê Tài Điển nghệ sĩ tạo hình nhiều trải nghiệm
  9. Gặp lại Hoàng Ngọc Biên ở San Jose
  10. Nguyễn Trọng Khôi và những viên đá cuội
  11. Rừng
  12. Để nhớ Âu Như Thuy người họa sĩ nằm chết trên đèo Cả
  13. Những giờ phút cuối của Chóe ở Virginia
  14. Thanh Trí, người bạn cùng thời hay tiếng sóng vỡ dưới trăng…
  15. Bấm blog PCH đọc được bài thơ làm nhớ Tôn Thất Văn
  16. Tôn Nữ Kim Phượng – Người họa sĩ xa lạ ấy hay một cây bông phượng vàng xưa quý, hiếm của Huế
  17. Bửu Chỉ từ những ngón tay lấm màu
  18. Hoàng Đăng Nhuận vẫn màu son tươi ấy
  19. Để nhớ Dương Đình Sang, một họa sĩ tài hoa của Huế
  20. Nhìn Nguyễn Đình Thuần đứng trước tiệm Gift & Cigarettes ở California nhớ Paris
  21. Khánh Trường, sức mạnh của im lặng
  22. Đã đến lúc người thi sĩ ấy phải vẽ
  23. Văn Cao
  24. Bùi Giáng, đi về với gió du côn
  25. Trịnh Công Sơn, uống chung ly rượu này

Bước vào phần nội dung, đó đây ta bắt gặp, “… tiếng vang của tranh trừu tượng Nguyễn Trung thật nồng nàn, như tiếng chuông được lan xa từ một chuông đồng quý – như chiếc chuông đồng chùa Thiên Mụ… Thật vậy, từ những dessins tài hoa đến những tranh thiếu nữ một thời là thứ ánh sáng như âm bản, anh có quyền buông thả hết để hôm nay chỉ vẽ như không vẽ mà thấy vẫn là những tác phẩm nghệ thuật đạt mức thượng thừa.” Hay ở một chương khác, khi viết về họa sĩ Đỗ Quang Em, “Vẫn nồng ấm một màu nâu được chuốt thật mịn mặt phẳng tranh, vẫn ánh sáng rất quý từ khuôn mặt, nếp áo, đồ vật, nhưng trên hết là bố cục, một bố cục mới và bạo, cho thấy tinh thần bức tranh hoàn toàn hiện đại so với không khí tranh cổ điển của sáng và tối, cũng một màu nâu, đỏ đậm đặc tuyệt vời thời Baroque với Rembrandt, Vermeer… hay Ludovico Carracci…” Hay chương nói về Nguyên Khai, “Những thiếu nữ trong tranh anh mang hình dáng quý phái, đặc biệt có những chân dung hai mặt rất Nguyên Khai. ‘Tranh Nguyên Khai là thơ được dựng lại bằng màu sắc trên nền vải’, đúng như Huỳnh Hữu Ủy nhận xét.” Hoặc nhắc đến, “Thế giới nghệ thuật của Lê Tài Điển nghiêng nhiều về đời sống tâm linh, thời gian sau này còn tìm về lộ trình Phương Đông như một bình thản cho tâm hồn… Anh như một tấm gương lớn phản chiếu toàn thân, một hiện hữu mang cả khổ đau và hạnh phúc.” Với Nguyễn Trọng Khôi thì, “Những viên cuội, những quyển sách cũ, ly thủy tinh, những lọ gốm Lý Trần… từ vật vô tri đã được Nguyễn Trọng Khôi phà lên hơi ấm nồng nàn cũng như Cézanne (họa sĩ Pháp 1839-1906) đã làm cho những quả táo, những tách trà trở nên bất tử trong tranh tĩnh vật như ông đã nhìn thấy chúng từ bên trong.” Rồi thì, “Thanh Trí vẽ mà ‘tưởng chừng đang hái giấc mơ’… Giấc mơ của một đời người… Khởi đi từ hạnh phúc đến đau đớn, gào thét và im lặng. Đó là hai tứ thơ ở hai cực trong tranh Thanh Trí. Chị không dựng nên một thế giới hoang tưởng mà đã đắm chìm trong giấc mơ, để diễn tả thành đường nét, màu sắc quyết liệt của riêng mình… Viết về bạn, xem tranh bạn, tôi như còn nghe âm vang tiếng sóng vỡ dưới trăng.” Hoặc nhớ về “Tôn Nữ Kim Phượng đã tham dự 15 bức sơn dầu với những nét vẽ phóng khoáng, táo bạo như một Jackson Pollock của trường phái Biểu hiện Trừu tượng (Abstract Expressionism) hay một Vieira da Silva với những đường nét kỷ hà tuyệt diệu.” Ở chương Bửu Chỉ, người bạn thân thương, “Chỉ đã tạo được cho mình một ngôn ngữ nghệ thuật, hay nói như Picasso: ‘Nghệ thuật là ngôn ngữ của các tín hiệu’… Không gian tranh Bửu Chỉ thường là khoảng không xám sậm và đôi vầng nhật nguyệt. Nhân vật là hình người gầy trơ xương, một thứ tượng đồng của Alberto Giacometti, mang tính bi thảm, như chực rơi xuống vực thẳm. Mà vực thẳm trong tranh Bửu Chỉ cũng chính là hy vọng hạnh phúc. Bởi những lóe sáng bất ngờ ở cạnh dưới cùng bức tranh giữa cái không gian mù tăm đó. Và chính bởi hành trình của nghệ thuật mà Bửu Chỉ đã già giặn, chín muồi…” Còn Khánh Trường, “Như Nietzsche với hình ảnh Zarathustra đã gợi lên lộ trình sâu rộng của một bậc Đại Bồ Tát giữa lòng đen tối của thế gian. Khánh Trường là hình ảnh của Zarathustra: ‘Trong tất cả những tác phẩm, ta chỉ yêu những tác phẩm nào được tác giả viết bằng máu của chính mình. Ngươi hãy viết bằng máu rồi ngươi sẽ biết được rằng máu chính là tinh thần.’ Zarathustra đã nói như thế, Khánh Trường đã vẽ như thế.” Hay khi nói về tranh Du Tử Lê, “Sức mạnh huyền bí của màu xanh lá cây trong tranh Du Tử Lê đã cuốn hút tôi từ những bức đầu tiên, màu xanh ấy không thấy được trong thơ ông, mà chỉ nghe vang trong đêm xanh đen: những con sói cô đơn hú giữa đồi; trăng lạnh… Và người thi sĩ ấy đã vẽ đã để lại trong tôi màu xanh lá cây, màu nguyên thủy mang một tính ‘primitive’ độc đáo như màu xanh huyền bí trong bức Kẻ dụ rắn – Le charmeur de serpent – của Henri Rousseau.” Hoặc với tranh Văn Cao, “Những minh họa của anh phóng khoáng, những mảng đen dẹt, khỏe, ngựa và thiếu nữ của anh có nét riêng, dễ nhận, rất trẻ trung, phảng phất chất sang trọng, quý phái. Minh họa của anh như thơ ngắn của anh…  Anh thích những đường kỷ hà, như Kandinsky. Anh vẽ nhanh và nét bút vung mạnh, rất thần, rất thiền.” Đặc biệt về người bạn nhạc sĩ rất thân thiết Trịnh Công Sơn, “vẽ nhiều tranh, với những hưng phấn đột xuất kỳ lạ, càng về khuya khi rượu đã thấm, còn lại một hai người bạn thiết, Sơn vẽ… Nhiều nhất có lẽ là những tĩnh vật có ly rượu…” và “những phác thảo chân dung bạn bè. Trịnh Công Sơn nắm bắt và lột tả khi vẽ chân dung rất tài… Qua nét vẽ của Sơn khi đã thấm rượu trong buổi hàn huyên, chỉ cần phác vài nét chính, giặm thêm màu đậm nhạt, hoen nhòa đã tỏ lộ ra cái thần sắc của người đối diện mà đôi khi vẽ kỹ chưa chắc đã có hồn như vậy. Sơn còn vẽ rất nhiều chân dung những nhan sắc, là hương hoa của mùa màng tình yêu hay bất chợt thấy dáng ai kia với màu son môi như một đốm lửa hồng (đôi môi em là đốm lửa hồng – TCS)… Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang, nhưng lại đầy tinh khiết, sáng tạo.” …

Trên đây chỉ là những trích đoạn rất ngắn mà tác giả đã viết về một số họa sĩ. Cuối sách là phần phụ lục với ba bài viết:

  1. Ngô Thế Vinh viết về người bạn tấm cám Nghiêu Đề
  2. Đỗ Long Vân viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường 1965 – Bửu Ý dịch Việt ngữ
  3. Trịnh Công Sơn viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường tại Đại học Duyên Hải 1974

Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp. Cảm ơn Giang đã hết sức cố gắng, trong điều kiện và thời gian hạn hẹp, để hoàn thành ý nguyện cuối đời của Ba. Trong tương lai, nếu bộ sách này được một nhà xuất bản nào đó bên Việt Nam in ấn, phát hành để có thể đến với nhiều độc giả hơn thì niềm vui càng tăng thêm gấp bội. Vì đó cũng chính là mong ước của họa sĩ Đinh Cường lúc sinh thời.

15.11.2025

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.