Tuyển dịch bởi Nguyên Giác
Selected & translated by Nguyên Giác
- THÁNH GIÓNG: CẬU BÉ ANH HÙNG
Truyện này kể về Thánh Gióng, còn có tên hiệu là Phù Đổng Thiên Vương, một cậu bé có sức mạnh thần kỳ cỡi ngựa sắt, nhổ tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nội dung truyện dạy rằng người dân cần sống với lòng biết ơn đất nước, biết ơn xã hội.
Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một thân một mình. Một hôm sáng dậy bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kinh ngạc kêu lên, “Ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”. Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Từ đó bà mang thai. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng cậu bé lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết nói, không biết cười gì cả.
Ngày ấy có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung hăng tàn ác, đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước. Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng, “Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói làm vậy, thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!”
Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng, “Xin mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!” Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người đổ tới, ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói, “Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử cậu bé muốn cái gì”.
Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhà nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng, “Ngươi là đứa trẻ lên ba mới học nói, ngươi định mời ta đến để làm gì?”
Gióng trả lời rất chững chạc, “Xin quan về bảo với vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!”
Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách chở đến cho chú bé Gióng.
Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con, “Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi, biết làm thế nào bây giờ?”
Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói, “Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!”
Mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo khoai, trâu rượu, hoa quả, bánh trái đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu, Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ. Sau đó, Gióng lại bảo tiếp, “Mẹ hãy kiếm vải cho con mặc”.
Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm, “Ta là tướng nhà Trời!”
Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào, rung chuyển cả trời đất. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc bấy giờ đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy.
Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Khói bụi mịt mù, tiếng la hét kêu khóc. Bỗng chốc gươm gãy. Không bối rối, Gióng thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn nước. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng Thiên vương.
Ngày nay người còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn.
…. o ….
- SAINT GIÓNG: THE BOY WHO BECAME A HERO
This story narrates the legend of Saint Gióng, also known as Phù Đổng Thiên Vương, a boy endowed with miraculous strength who rode an iron horse and uprooted bamboo to repel foreign invaders. It conveys the lesson that people should live with gratitude toward their country and society.
During the era of the Hung Kings, an elderly woman lived alone. One morning, as she went to tend her field, she suddenly noticed a large footprint that had crushed several rows of eggplants. Surprised, she exclaimed, “Oh! Whose foot could be so big?!” A chill ran through her as she tried to fit her foot into the mysterious print. From that moment, she became pregnant. She gave birth to a plump baby boy named Gióng at full term. However, even at three years old, the boy still lay on his back, demanding food, unable to speak or laugh.
At that time, the Yin (Ân) invaders attacked our country. They were ruthless and aggressive, burning homes, killing people, and looting wherever they went. Although King Hùng’s army fought many battles, they could not defeat the invaders. Concerned, King Hùng quickly sent messengers across the land to find a talented general who could help save the nation. One day, a messenger arrived in the village where a boy named Gióng lived. Upon hearing the messenger’s announcement about the king’s search for a hero, Gióng’s mother, who was gently rocking her child, jokingly said, “My child! You are so slow to walk and talk—how will you ever fight the enemy and help the king?”
Unexpectedly, Gióng looked at his mother and said, “Please, Mother, call the messenger here for me!” After speaking, he fell silent once more. His mother felt a mix of happiness and fear, and she quickly shared the story with her neighbors. Everyone gathered, finding the event quite strange. Finally, someone suggested, “Let’s invite the king’s messenger to find out what the boy wants.”
When the king’s messenger entered the house and saw the boy, he asked, “You are a three-year-old child who has just begun to speak; why did you invite me here?”
Gióng responded with great maturity, saying, “Please ask the king to forge an iron horse, an iron sword, iron armor, and an iron helmet for me, and I will drive away the invaders!”
Everyone who heard this was utterly astonished. Convinced that he was a divine being, the messenger quickly rode back to inform the king. Upon hearing the news, King Hùng was overjoyed and commanded the blacksmiths to gather iron and forge a horse, sword, armor, and helmet as the boy had requested. Each item was incredibly heavy—dozens of people tried to lift the sword but couldn’t budge it. King Hùng then had to send thousands of soldiers to find a way to transport these items to the boy Gióng.
When she heard that the soldiers bringing the iron horse were about to arrive in the village, Giong’s mother hurried back and told her son, “Son! The king’s affairs are serious, not a game. The soldiers are gathering in large numbers outside the field. What should we do now?”
Upon hearing this, Giong suddenly sat up and said, “Don’t worry about fighting the invaders, Mother. Just make sure to feed me plenty!”
His mother quickly cooked rice for him, but Giong devoured each pot as soon as it was ready. With every pot he ate, he grew a little bigger and hungrier. The more his mother fed him, the faster he grew, until in an instant, he transformed into a strong young man. When the rice ran out, his mother called on the villagers for help. Everyone eagerly brought rice, sweet potatoes, buffalo meat, wine, fruits, and cakes, filling the entire courtyard. Yet no matter how much food was offered, Giong consumed it all and still demanded more without pause. Then Gióng said again, “Mother, please find some cloth for me to wear.”
People hurried to bring silk fabric to make clothes for Gióng. However, his body grew at an astonishing rate; the clothes that had just been made quickly became too tight and too short, so more silk fabric was brought to extend them. Before long, Gióng’s head touched the roof of the house. Just as everyone was recovering from their amazement, the soldiers managed to bring him a horse, sword, armor, and iron helmet. Giong stepped out of the house, stretched himself, and suddenly became tall and imposing, his legs longer than a fathom. With a voice like thunder, he declared, “I am a general from Heaven!”
Giong donned his iron armor and helmet, grasped his sword, and circled around a few times. After bidding farewell to his mother and the villagers, he leapt onto the horse’s back. Suddenly, the iron horse reared up, spewing a stream of bright red fire forward. Urging the horse onward, it galloped like the wind, taking strides dozens of poles long, shaking the heavens and the earth. In the blink of an eye, they reached the enemy camps scattered across several forests. Giong’s sword flashed like lightning, and every enemy soldier who charged out was swiftly defeated.
The horse breathed fire, engulfing rows of enemy camps and igniting several forests. Smoke and dust filled the air, mingling with screams and cries. Suddenly, Giong’s sword broke. Undeterred, he swiftly uprooted bamboo stalks along the road and struck down the enemy troops who were trying to hold their ground under their general’s command. The enemy forces dispersed quickly, and Giong struck down their king, completely destroying his body. In less than a day, Giong had eliminated the national threat. By then, his horse had reached the foot of Soc Son Mountain. There, Giong removed his armor and helmet, and together with his horse, they ascended straight into the sky. To honor this hero, King Hùng ordered a temple to be built in Giong’s hometown and bestowed upon him the title Phù Đổng Thiên Vương (Heavenly King of Phu Dong).
Today, traces of a series of circular ponds stretching from Kim Anh and Da Phuc to Soc Son can still be seen; locals say these are the footprints of Saint Gióng’s horse. The forest, once scorched by the iron horse’s fiery blaze, is now known as the Village of Fire. The bamboo trees that Giong uprooted to fight the invaders were burned, turning from green to yellow and marked with mottled scorch marks—this type of bamboo still exists today.
…. o ….
- THẠCH SANH
Thạch Sanh là tên nhân vật chính trong một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể thơ lục bát cuối thế kỷ 18, do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản. Thạch Sanh đã trở thành hình tượng điển hình cho người tốt, hào hiệp, thật thà, còn Lý Thông là hình tượng người xấu, gian xảo, tham lam trong văn hóa Việt Nam. Trong truyện có Ngọc Hoàng là vua cõi trời, một hình ảnh tương tự như Vua Trời Sakka trong các truyện Bản Sanh Jataka, nhưng can dự vào trần gian nhiều hơn.
Ngày xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu nghèo Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà tuy nghèo nhưng luôn ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến cõi trời, nên vua Trời Ngọc Hoàng liền sai Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch.
Bà Thạch thụ thai ba năm, chưa sinh con thì ông Thạch mất. Sau đó, bà Thạch sinh một con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Thạch Sanh. Cách ít năm sau, bà Thạch cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi. Đến năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.
Đến một ngày nọ, có một người làm nghề nấu rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết nghĩa anh em với Thạch Sanh.
Khi đó trong vùng có một con Chằn tinh hung hãn thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh nhưng không được vì nó có phép thần thông biến hóa, không còn cách nào khác nên dân làng liền lập miếu thờ và hàng năm phải nộp cho nó một mạng người thì mới được yên ổn làm ăn.
Năm ấy, đến lượt Lý Thông phải nộp mạng. Lý Thông bèn tính kế để Thạch Sanh thế mạng cho mình. Tuy nhiên, Thạch Sanh nhờ có võ và thần thông, nên đã chiến đấu và giết được Chằn tinh. Lý Thông khoe với triều đình rằng Lý Thông giết xong Chằn tinh, đoạt công của Thạch Sanh. Do vậy, Lý Thông được nhà vua phong làm quan đại thần.
Bấy giờ có công chúa xinh đẹp đang tuổi kén chồng, một hôm bị con yêu tinh Đại bàng sà xuống cắp đi mất. Buồn rầu, nhà vua truyền cho Lý Thông đi tìm, và hứa khi tìm được sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho. Lúc công chúa lâm nguy, Thạch Sanh đang ở bên gốc đa, bỗng nhìn thấy Đại bàng cắp người bay qua, liền giương cung bắn trúng một cánh của chim. Lần theo vết máu, Thạch Sanh biết được cái hang ẩn náu của Đại bàng.
Để cứu công chúa, Lý Thông tìm đến Thạch Sanh. Nghe Thạch Sanh biết được nơi ẩn náu của Đại bàng, Lý Thông liền nhờ Thạch Sanh tìm cách giải cứu. Nhưng đến khi Thạch Sanh xuống hang tìm rồi nối dây đưa được công chúa lên khỏi hang, thì Lý Thông liền cho quân lính lấy đá lấp kín cửa hang, mưu giết chết Thạch Sanh để tranh công lần nữa.
Trong hang, Thạch Sanh đã đánh nhau một trận dữ dội và giết chết Đại bàng, cứu được thái tử con vua Thủy Tề đang bị giam trong hang. Để đền ơn, vua Thủy Tề mời Thạch Sanh xuống thủy cung chơi. Khi Thạch Sanh lên bờ, vua tặng chàng vô số châu báu nhưng chàng chỉ xin một cây đàn thần.
Vì oán hận Thạch Sanh, hồn của Chằn tinh và đại bàng lấy trộm châu báu trong cung rồi vu cho chàng. Thạch Sanh bị tống giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn thần ra gảy để bày tỏ nỗi lòng.
Trong khi đó, công chúa, vì thấy Lý Thông sai lính lấp hang để hại Thạch Sanh, nên nàng uất ức, hóa câm. Nay nghe được tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa bỗng nói nên lời. Nghe con giải bày, nhà vua truyền cho Thạch Sanh đến. Sau khi rõ mọi chuyện, nhà vua truyền lệnh bắt giam mẹ con Lý Thông, nhưng được Thạch Sanh xin tha cho. Trên đường trở về, mẹ con Lý Thông bị sét đánh chết tươi, hóa kiếp thành bọ hung.
Phần Thạch Sanh, nhà vua cho chàng kết hôn cùng công chúa. Tức giận vì trước đây bị công chúa từ chối lời cầu hôn, các thái tử từ 18 nước chư hầu cùng kéo quân sang đánh. Thạch Sanh lại đem cây đàn thần ra gảy. Tiếng đàn làm quân đối phương rã rời vì nhớ quê, nhớ vợ con,… nên không đánh cũng tan. Trước khi rút về nước, đội quân đông đảo ấy còn được Thạch Sanh cho ăn một bữa cơm. Niêu cơm tuy nhỏ nhưng ăn bao nhiêu cũng không hết.
Về sau do vua không có con nên Thạch Sanh được phong làm vua và sống hạnh phúc mãi mãi với công chúa.
…. o ….
- THẠCH SANH
Thạch Sanh is the protagonist of a Vietnamese Nôm verse narrative composed in the lục bát (six-eight) poetic form in the late 18th century by an anonymous author. People have passed down the story in many different versions. Thạch Sanh represents the ideal of a moral, chivalrous, and honest person, while Lý Thông embodies wickedness, cunning, and greed in Vietnamese culture. In the tale, the Jade Emperor serves as the king of heaven, a figure similar to King Sakka from the Jataka tales but who intervenes more frequently in the mortal world.
Long ago, in Cao Bình district, there lived a poor woodcutter named Thạch Nghĩa and his wife. Though they were old and childless, they were kind-hearted and always committed to doing good deeds. The husband repaired bridges and culverts, dug ditches, and built roads, while the wife offered boiled water to travelers. The Jade Emperor, moved by their kindness, sent his Crown Prince to reincarnate as their son.
Mrs. Thach was pregnant for three years, and before she could give birth, Mr. Thạch passed away. Afterward, she gave birth to a handsome and intelligent son, whom she named Thạch Sanh. A few years later, Mrs. Thach also passed away, leaving Thạch Sanh to live alone in a thatched hut beneath a banyan tree, wearing only a loincloth and wielding an axe for chopping wood. When Thạch Sanh turned thirteen, the Jade Emperor sent a celestial being to teach him martial arts and various magical powers.
One day, a man named Lý Thông, a wine maker, stopped to rest under a banyan tree while selling wine. Noticing that Thạch Sanh was strong, clever, and lived alone, he befriended him, and they became sworn brothers. At that time, a ferocious ogre terrorized the region, frequently capturing and devouring people. Despite numerous attempts by the army and officials to defeat it, they failed because the ogre possessed magical powers of transformation. With no other options, the villagers built a temple to worship the ogre and were forced to sacrifice a human life each year to ensure peace and prosperity.
That year, it was Lý Thông’s turn to be sacrificed. Lý Thông devised a plan to have Thạch Sanh take his place. However, thanks to his martial arts skills and magical powers, Thạch Sanh fought and killed the ogre. Lý Thông then falsely claimed to the court that he had slain the ogre, stealing credit from Thạch Sanh. As a result, the king appointed Lý Thông as a high-ranking official.
At that time, there was a beautiful princess of marriageable age who was suddenly abducted by a giant eagle. Grieved by her disappearance, the king commanded Lý Thông to find her, promising that if he succeeded, he would marry the princess and inherit the throne. Meanwhile, when the princess was in peril, Thạch Sanh happened to be near a banyan tree and saw the eagle flying by with someone in its grasp. He swiftly shot an arrow, striking one of the bird’s wings. Following the trail of blood, Thạch Sanh soon discovered the eagle’s hiding place.
To rescue the princess, Lý Thông sought out Thạch Sanh. Upon learning that Thạch Sanh knew the eagle’s hiding place, Lý Thông asked for his help. However, after Thạch Sanh descended into the cave and successfully brought the princess out, Lý Thông ordered his soldiers to seal the cave entrance with rocks, intending to kill Thạch Sanh and take all the credit for himself.
Inside the cave, Thạch Sanh engaged in a fierce battle and defeated the eagle, rescuing the prince—the son of the Dragon King—who had been held captive there. To show his gratitude, the Dragon King invited Thạch Sanh to visit his underwater palace. Upon returning to shore, the king presented him with countless treasures, but Thạch Sanh requested only a magical lute.
Out of resentment toward Thạch Sanh, the spirits of the ogre and the eagle stole treasures from the palace and framed him. As a result, Thạch Sanh was imprisoned. He pulled out his enchanted lute and played it to vent his feelings while incarcerated.
Meanwhile, the princess, witnessing Lý Thông commanding soldiers to fill the cave in an attempt to harm Thạch Sanh, became deeply resentful and fell silent. However, upon hearing Thạch Sanh’s lute playing, she suddenly regained her voice. After explaining the situation, the king summoned Thạch Sanh. Once he understood everything, the king ordered Lý Thông and his mother to be imprisoned. Yet, Thạch Sanh pleaded for their release. Lightning struck Lý Thông and his mother on their way back, transforming them into dung beetles.
After the king granted Thạch Sanh permission to marry the princess, the princes from 18 vassal states, angered by her earlier refusals of their marriage proposals, united their armies and launched an attack. Once again, Thạch Sanh took out his magical lute and played it. The enchanting music filled the enemy soldiers with homesickness, making them yearn for their homeland, wives, and children. Overcome with longing, they abandoned the battle and dispersed. Before they returned to their countries, Thạch Sanh generously provided them with a meal. Though the pot of rice was small, it miraculously never emptied, no matter how much they ate.
Later, since the king had no children, Thạch Sanh was crowned king and lived happily ever after with the princess.
…. o ….
- TẤM VÀ CÁM
Truyện này kể về hai chị em cùng cha khác mẹ, người chị liên tục bị em hại. Truyện nêu lên lý nhân quả, làm thiện, nói thiện và nghĩ thiện sẽ có quả thiện lành ngay trong kiếp sống này, như cô Tấm trở thành hoàng hậu. Trong truyện dân gian Việt Nam, Đức Phật được gọi Bụt, hiện ra như Vua Trời Sakka trong truyện Bản Sanh Jataka để giúp những người thiện tâm. Trong năm giới cấm, giết người là tội nặng nhất, sẽ gặp quả dữ có thể ngay hiện tiền, như trong truyện này.
Ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ là Tấm và Cám. Mẹ Tấm mất sớm, cha Tấm cưới mẹ Cám, rồi không lâu sau cha Tấm cũng qua đời. Tấm phải sống cùng dì ghẻ (mẹ của Cám). Dì ghẻ ác nghiệt, bắt Tấm phải làm hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà, trong khi Cám thì được nuông chiều, chỉ việc ăn chơi.
Một hôm, dì ghẻ bảo Tấm và Cám ra đồng bắt cá. Bà hứa đứa nào bắt được nhiều cá hơn sẽ được thưởng. Tấm chăm chỉ bắt cá, chẳng mấy chốc giỏ đã đầy. Cám mải chơi nên chẳng bắt được con nào. Thấy giỏ cá của chị đầy ắp, Cám nảy ra ý xấu. Nó gọi Tấm, “Chị Tấm ơi, đầu chị lấm lem rồi, chị xuống ao gội cho sạch đi, kẻo về mẹ mắng.”
Tấm tin lời em, để giỏ cá nhờ Cám coi rồi lội xuống ao gội đầu. Lợi dụng lúc đó, Cám đã trút hết cá từ giỏ Tấm sang giỏ mình rồi vội vàng chạy về nhà.
Tấm lên bờ thấy giỏ trống rỗng, liền ngồi khóc nức nở. Bỗng, ông Bụt hiện lên và hỏi, “Tại sao con khóc?”
Tấm kể hết sự tình. Ông Bụt bảo Tấm tìm xem trong giỏ còn sót lại con nào không, thì may mắn còn sót lại duy nhất một con cá bống nhỏ. Ông Bụt dặn, “Con đem cá bống này về nuôi dưới giếng. Mỗi lần cho ăn, con phải gọi: ‘Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.'”
Nói xong, Bụt biến mất. Tấm làm theo lời Bụt, hàng ngày mang cơm ra giếng, tự ăn một bát và dành một bát cho Bống. Chẳng bao lâu, cá bống lớn nhanh như thổi, chỉ ngoi lên khi nghe tiếng gọi của Tấm.
Thấy Tấm ngày nào cũng lén lút mang cơm ra giếng, dì ghẻ nghi ngờ nên sai Cám đi rình. Cám về kể lại mọi chuyện. Sáng hôm sau, dì ghẻ bày mưu. Bà ngọt ngào dặn Tấm đi chăn trâu ở đồng thật xa, tránh đồng nhà vì sợ làng phạt. Tấm vâng lời, dắt trâu đi biệt.
Ở nhà, hai mẹ con Cám ra giếng, giả giọng Tấm gọi cá. Cá bống nghe tiếng quen thuộc liền trồi lên. Hai mẹ con lập tức bắt Bống đem làm thịt ăn.
Buổi chiều, Tấm chăn trâu về, mang cơm ra gọi mãi nhưng không thấy Bống lên. Chỉ thấy một cục máu đỏ nổi lên mặt nước. Tấm đau đớn khóc than.
Ông Bụt lại hiện ra, bảo, “Cá bống của con đã bị mẹ con Cám ăn thịt rồi. Con nín đi! Về nhà tìm xương cá, cho vào bốn cái hũ và chôn dưới bốn chân giường.”
Tấm về nhà tìm mãi không thấy. Bỗng có con gà chạy ra, kêu, “Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc, ta bới xương cho.” Tấm cho gà ăn, gà vào bếp bới đống tro ra, quả nhiên thấy xương bống. Tấm nhặt hết xương bỏ vào 4 hũ, chôn cẩn thận dưới giường theo lời Bụt.
Ít lâu sau, nhà Vua mở hội lớn, dân chúng nô nức đi xem. Mẹ con Cám sửa soạn quần áo lộng lẫy để đi hội. Tấm xin mẹ cho đi cùng, nhưng dì ghẻ nham hiểm trộn một đấu thóc với một đấu gạo, bắt Tấm phải nhặt xong mới được đi.
Tấm lại ngồi khóc. Ông Bụt hiện ra, gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt thóc giúp Tấm. Chỉ trong chốc lát, công việc đã xong.
Nhưng Tấm không có quần áo đẹp để đi hội. Cô lại khóc. Bụt bảo Tấm đào bốn cái hũ chôn dưới chân giường lên.
Tấm đào lên. Hũ thứ nhất là một bộ váy áo tuyệt đẹp rực rỡ. Hũ thứ hai là một đôi giày thêu gấm hoa tinh xảo. Hũ thứ ba là một con ngựa nhỏ, vừa đặt xuống đất đã hóa thành ngựa thật. Hũ cuối cùng là yên cương chắc chắn.
Tấm mừng rỡ thay đồ, cưỡi ngựa tiến về kinh thành. Trên đường đi qua chỗ lội, Tấm vô tình đánh rơi một chiếc giày thêu mà không kịp nhặt.
Đoàn quân hộ tống nhà Vua đi ngang qua chỗ lầy đó. Hai con voi ngự đầu đàn bỗng dưng cứ cắm đầu xuống đất, không chịu đi tiếp. Vua sai lính kiểm tra, tìm thấy chiếc giày thêu tinh xảo. Vua ngắm nghía và phán, “Giày đẹp thế này, hẳn người đi nó cũng rất đẹp.”
Nhà Vua ra lệnh cho tất cả người nữ trẩy hội thử giày, hễ ai đi vừa sẽ được chọn làm vợ. Mọi người nô nức thử, nhưng không ai vừa. Mẹ con Cám cũng cố thử nhưng không được. Tới khi Tấm thử, chiếc giày vừa vặn như in. Nàng đưa nốt chiếc thứ hai đang cầm ra. Quân lính reo hò. Nhà Vua vô cùng mừng rỡ, nhận ra người con gái xinh đẹp và hiền lành. Nhà Vua liền cho người rước Tấm về cung làm Hoàng hậu.
Từ đó, mẹ con Cám luôn ghen ghét và căm giận Tấm. Nhân ngày giỗ cha, Tấm xin Vua về nhà làm giỗ. Thấy Tấm về, dì ghẻ bày mưu độc. Bà bảo Tấm trèo lên cây cau hái xuống cúng cha. Tấm vâng lời trèo lên.
Ở dưới, dì ghẻ lén đốn gốc. Tấm thấy cây rung rung bèn hỏi. Dì ghẻ nói dối, “Gốc này nhiều kiến quá, dì bắt kiến cho nó khỏi đốt con.” Tấm tin lời, tiếp tục hái.
Cây cau đổ, Tấm ngã xuống ao và chết chìm. Dì ghẻ lấy quần áo của Tấm cho Cám mặc, rồi đưa Cám về cung nói dối Vua, “Chị Tấm không may rớt xuống ao chết. Nay Cám là em, xin vào thế chị.” Nhà Vua rất đau lòng nhưng không nói gì.
Tấm chết đi, hóa thành chim Vàng Anh, bay vào cung vua. Một lần, Cám đang giặt áo cho Vua, nghe chim Vàng Anh hót, “Giặt áo chồng tao thì giặt cho sạch. Phơi áo chồng tao phơi lao phơi sào. Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao.”
Cám sợ hãi. Chim Vàng Anh rất quyến luyến Vua, bay theo Vua khắp nơi. Vua thấy vậy liền nói, “Vàng ảnh, vàng anh, có phải vợ anh thì chui vào tay áo.” Chim bay đến đậu trên tay Vua rồi chui vào tay áo. Từ đó, Vua vô cùng yêu quý chim, làm cho chim một cái lồng bằng vàng và ngày ngày chăm sóc.
Cám thấy vậy tức tối, về hỏi mẹ. Dì ghẻ xúi Cám bắt chim Vàng Anh ăn thịt. Cám làm theo. Vua biết chuyện thì vô cùng tức giận.
Lông chim Vàng Anh bị chôn ở góc vườn, mọc lên hai cây xoan đào tỏa bóng mát sum suê. Vua thường mắc võng ra nằm nghỉ dưới gốc cây. Cám thấy cảnh đó lại ghen tức, về kể với mẹ. Dì ghẻ xúi Cám chặt cây làm khung cửi.
Một lần, Cám ngồi dệt áo cho Vua, nghe tiếng khung cửi kêu, “Cót ca cót két. Lấy tranh chồng chị. Chị khoét mắt ra.”
Cám sợ hãi, vội sai người mang khung cửi đi đốt. Từ đống tro, mọc lên một cây thị tươi tốt, chỉ có duy nhất một quả.
Một hôm, có một bà cụ bán nước đi chợ qua, ngồi nghỉ dưới gốc thị. Thấy quả thị, bà cụ nói, “Thị ơi thị rụng bị bà giữ để bà ngửi Chứ bà không ăn.”
Nói xong, quả thị rụng ngay vào bị của bà. Bà đem về nhà, để trên gối, chỉ ngửi chứ không ăn.
Từ ngày có quả thị, hàng ngày bà đi chợ, về đến nhà là cơm nước đã dọn sẵn, nhà cửa sạch tinh tươm. Sinh nghi, một hôm bà giả vờ đi chợ rồi quay về rình xem. Bà thấy một cô gái xinh đẹp bước ra từ quả thị, dọn dẹp nhà cửa. Bà vội vàng chạy vào, xé toạc vỏ thị và ôm chầm lấy cô gái. Bà lão nhận cô làm con gái.
Cô gái đó chính là Tấm. Tấm giúp bà lão têm trầu cánh phượng, mở quán nước. Quán của bà lão đông khách vô cùng vì trầu têm khéo và thơm.
Một lần, nhà Vua đi qua, dừng chân nghỉ tại quán. Vua thấy miếng trầu têm cánh phượng giống hệt trầu Tấm têm ngày xưa, bèn hỏi bà lão. Bà bảo đó là trầu con gái bà têm.
Vua muốn gặp mặt. Khi Tấm bước ra, Vua mừng rỡ khôn xiết vì nhận ra vợ mình. Vua cho người rước Tấm về cung. Về đến cung, Tấm kể hết những chuyện mẹ con Cám đã làm. Nhà Vua nổi giận, sai quân lính đem mẹ con Cám lên xử tội. Nhưng Tấm vốn nhân hậu, xin Vua tha chết.
Nhà Vua ra lệnh đuổi mẹ con Cám ra khỏi thành. Vừa ra khỏi cổng thành, giông tố nổi lên, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng. Từ đó, Tấm và nhà Vua sống hạnh phúc bên nhau trọn đời.
…. o ….
- TẤM AND CÁM
This tale tells of two sisters born of the same father but different mothers, in which the elder sister is repeatedly harmed by the younger. The story affirms the law of cause and effect: those who do good deeds, speak kindly, and harbor wholesome thoughts will receive wholesome results within this very lifetime, as Tấm herself becomes Empress. In Vietnamese folk tradition, the Buddha appears as Bụt, much like King Sakka in the Jātaka tales, manifesting to aid those of virtuous heart. Among the Five Precepts, taking life is the gravest offense, bringing dire consequences that may arise even in this present life, as shown in this story.
Long ago, there lived two half-sisters named Tấm and Cám. Tấm’s mother died early. Her father later married Cam’s mother, and not long afterward, he too passed away. From then on, Tấm lived with her stepmother, Cam’s mother. The stepmother was cruel and harsh, forcing Tấm to do all the heavy labor in the household, while Cám was indulged and spent her days in leisure and play.
One day, the stepmother sent both girls to the fields to catch fish, promising a reward to whoever caught the most. Tấm worked diligently, and before long her basket was full. Cam, absorbed in play, caught nothing whatsoever. Seeing her sister’s brimming basket, Cám conceived a wicked plan. She called out to Tấm, saying that her hair was dirty and that she should wash it in the pond lest their mother scold her.
Trusting her sister, Tấm left her basket in Cam’s care and stepped into the pond to wash her hair. Seizing the moment, Cám poured all the fish from Tấm’s basket into her own and hurried home.
When Tấm returned and found her basket empty, she sat down and wept bitterly. Suddenly, Bụt appeared and asked why she was crying. Tấm told him everything that had happened. Bụt told her to look carefully in the basket to see if any fish remained. By good fortune, there was one small bống fish left.
Bụt instructed her to take the fish home and raise it in the well. Each time she fed it, she was to call:
“Bống, bống, bang bang,
Come up and eat the golden rice, the silver rice of our home.
Do not eat the moldy rice or the thin gruel of others.”
After saying this, Bụt vanished. Tấm followed his instructions faithfully. Each day she brought rice to the well, eating one bowl herself and saving another for the fish. Before long, the little fish grew quickly and would surface only when it heard Tấm’s voice.
Noticing that Tấm secretly brought rice to the well every day, the stepmother grew suspicious and sent Cám to spy on her. Cám reported everything she had seen. The next morning, the stepmother devised a scheme. She sweetly told Tấm to take the buffalo to graze in a distant field, warning her not to graze near the village lest they be fined. Tấm obeyed and led the buffalo far away.
At home, the stepmother and Cám went to the well and imitated Tấm’s voice. Hearing the familiar call, the fish rose to the surface. They immediately caught it, killed it, and ate it.
That evening, when Tấm returned from grazing the buffalo, she brought rice to the well and called again and again, but the fish did not appear. All she saw was a red clot of blood floating on the water’s surface. Overcome with grief, Tấm wept.
Once more, Bụt appeared and told her that the fish had been eaten by Cam’s mother. He comforted her and instructed her to gather the fish bones, place them in four jars, and bury them beneath the four legs of her bed.
Tấm searched everywhere but could not find the bones. Suddenly, a chicken ran out, clucking that if she gave it a handful of rice, it would dig up the bones for her. Tấm fed the chicken, and it scratched through the ashes in the kitchen, revealing the fish bones. Tấm gathered them carefully, placed them into four jars, and buried them beneath her bed as Bụt had instructed.
Not long afterward, the king announced a grand festival, and people everywhere hurried to attend. The stepmother and Cám dressed themselves in splendid clothes to go to the festivities. Tấm begged to go along, but the stepmother cruelly mixed a basket of rice with a basket of husks and ordered Tấm to sort them completely before she could leave.
Tấm sat down and cried once again. Bụt appeared and summoned a flock of sparrows, who swiftly sorted the rice for her. In no time, the task was finished.
Yet Tấm had no fine clothes to wear. She wept again. Bụt told her to dig up the four jars beneath her bed.
From the first jar emerged a magnificent set of clothes, radiant and beautiful. From the second came a pair of exquisitely embroidered silk shoes. The third jar held a small horse that transformed into a real one as soon as it touched the ground. The fourth contained a sturdy saddle and bridle.
Overjoyed, Tấm dressed herself and rode toward the capital. On the way, as she crossed a muddy ford, she accidentally lost one of her embroidered shoes and could not retrieve it.
Soon after, the king’s procession passed by that very spot. The royal elephants at the head of the procession suddenly refused to move. The king ordered his men to investigate, and they discovered the delicate embroidered shoe. Admiring it, the king declared that the woman who wore such a shoe must be extraordinarily beautiful.
The king ordered that all the women attending the festival try on the shoe, and whoever fit it would become his wife. Many tried, but none succeeded. Cám and her mother tried as well, but the shoe would not fit. When Tấm tried it on, it fit perfectly. She then produced the matching shoe she had kept. The soldiers cheered, and the king rejoiced, recognizing the beautiful and gentle maiden. He brought Tấm to the palace and made her his empress.
From then on, Cám and her mother burned with jealousy and hatred. On the anniversary of her father’s death, Tấm asked the king’s permission to return home to make offerings. Seeing her return, the stepmother plotted once again. She told Tấm to climb a tall areca palm to pick betel nuts for the altar. Tấm obediently climbed the tree.
Below, the stepmother secretly cut the trunk of the tree. Feeling the tree shake, Tấm asked what was happening. The stepmother lied, saying she was driving away ants so they would not bite her. Trusting her, Tấm continued picking.
The tree fell, and Tấm plunged into the pond and drowned. The stepmother took Tấm’s clothes and dressed Cám in them, then brought Cám to the palace and deceived the King, claiming that Tấm had died in an accident and that Cám had come to take her place. The king was heartbroken but said nothing.
After her death, Tấm was reborn as a golden oriole and flew into the palace. One day, as Cám was washing the king’s clothes, she heard the bird sing, warning her to wash and dry them properly. Terrified, Cám watched as the bird followed the king everywhere. The king spoke gently to it, and the bird flew into his sleeve. From then on, the king cherished the bird greatly and kept it in a golden cage.
Consumed by envy, Cám consulted her mother, who urged her to kill the bird. Cám did so. When the king learned of this, he was furious.
The bird’s feathers were buried in a corner of the garden, where two lush trees soon grew, casting cool shade. The king often rested beneath them. Seeing this, Cám again grew jealous, and her mother told her to cut the trees down and make a loom.
One day, as Cám wove cloth for the King, the loom spoke, accusing her of stealing her sister’s husband. Terrified, Cám ordered the loom burned. From the ashes grew a quince tree bearing a single golden fruit.
An old woman selling water rested beneath the tree and spoke kindly to the fruit, asking it to fall into her bag so she might enjoy its fragrance. The fruit fell at once. She took it home and kept it by her pillow, smelling it but never eating it.
From that day on, whenever the old woman returned from the market, her house was clean and her meals were prepared. Curious, she pretended to go to market one day and returned secretly. She saw a beautiful girl emerge from the fruit and tidy the house. The old woman rushed in, broke the fruit’s shell, and embraced the girl, adopting her as her daughter.
The girl was Tấm. She helped the old woman prepare betel leaves shaped like phoenix wings and open a small tea stall. The stall prospered greatly.
One day, the king stopped there to rest and noticed that the betel was folded exactly as Tấm had once done. Upon seeing Tấm, the king rejoiced beyond measure and brought her back to the palace. Tấm told him everything that had happened. Enraged, the king ordered Cám and her mother punished, but Tấm, compassionate as ever, begged for their lives to be spared.
The king banished them from the city. As they left the gates, a violent storm arose, and both were struck dead by lightning in the open fields. From then on, Tấm and the king lived together in peace and happiness for the rest of their lives.
…. o ….
- BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY
Truyện này giải thích về cội nguồn và ý nghĩa của hai loại bánh — bánh chưng và bánh giầy — được dân Việt Nam dùng trong lễ cúng Tết Nguyên Đán để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên, biết ơn các hạt gạo đã nuôi sống chúng ta hàng ngày. Dân Việt còn bày tỏ lòng biết ơn bằng cách gọi gạo là món ăn quý như ngọc.
Ngày xưa, vào đời Vua Hùng Vương thứ Sáu, sau khi dẹp yên giặc ngoại xâm, Vua muốn truyền lại ngai vàng cho người con trai hiền đức và tài giỏi nhất.
Nhân dịp đầu xuân, Vua họp tất cả các hoàng tử lại và nói, “Ta muốn thử tài các con. Con nào tìm được một món ăn ngon nhất, có ý nghĩa nhất để bày cỗ cúng Tổ Tiên, thì ta sẽ truyền ngôi Vua cho!”
Nghe vậy, các hoàng tử lớn liền đua nhau đi khắp nơi tìm kiếm. Họ săn lùng đủ thứ của ngon vật lạ, từ sơn hào hải vị quý hiếm, mong dâng lên Vua cha để giành được ngai vàng.
Trong số các hoàng tử, có một người tên là Lang Liêu. Chàng là người con trai thứ 18 của Vua Hùng, tính tình vô cùng hiền lành, đạo đức và rất hiếu thảo với cha mẹ. Lang Liêu sống giản dị, không quen biết những món ăn cao sang. Mẹ lại mất sớm, không có ai chỉ bảo nên chàng vô cùng lo lắng, không biết phải làm món gì dâng lên Vua cha cho thật ý nghĩa.
Một đêm, Lang Liêu nằm mơ thấy một vị Thần xuất hiện, mỉm cười và bảo, “Này con, vật chất trên đời không có gì quý bằng gạo, vì gạo là nguồn lương thực nuôi sống con người. Con hãy lấy gạo nếp thật tốt làm hai thứ bánh.”
Vị Thần chỉ dẫn: “Bánh thứ nhất, con hãy làm hình vuông để tượng trưng cho Đất! Bánh thứ hai, con hãy giã xôi làm hình tròn để tượng trưng cho Trời! Con nhớ lấy lá xanh bọc bên ngoài và đặt nhân bên trong bánh, đó là hình ảnh cha mẹ yêu thương đùm bọc, sinh thành ra con cái.”
Lang Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ vô cùng. Chàng hiểu ra rằng món ăn quý giá và ý nghĩa nhất phải là thứ nuôi sống người dân.
Lang Liêu bắt tay vào làm theo lời Thần dặn. Chàng chọn loại gạo nếp thật dẻo, thật thơm. Làm bánh hình vuông, bên trong có nhân đậu xanh, thịt heo, lấy lá dong xanh gói lại, rồi cho vào chõ luộc chín. Chàng gọi đó là Bánh Chưng (hình vuông, tượng trưng cho Đất).
Làm bánh hình tròn, chàng giã xôi thật nhuyễn, nặn thành hình tròn trắng tinh. Chàng gọi đó là Bánh Giầy (hình tròn, tượng trưng cho Trời).
Đến ngày hẹn, các hoàng tử kéo nhau về kinh thành. Trên mâm cỗ của họ, nào là thịt rừng, cá biển, đủ cả sơn hào hải vị quý giá.
Hoàng tử Lang Liêu bước đến, trên mâm chỉ có hai thứ bánh giản dị: một chiếc Bánh Chưng xanh hình vuông và một chiếc Bánh Giầy trắng tròn.
Vua Hùng Vương thấy lạ, mới hỏi, “Con dâng món gì lên đây?”
Lang Liêu thành kính kể lại giấc mộng Thần báo, rồi giải thích ý nghĩa của hai thứ bánh, “Bánh Chưng là Đất, Bánh Giầy là Trời, nhân bên trong là lòng cha mẹ bao bọc con cái.”
Vua cha nếm thử thấy bánh ngon, dẻo thơm lạ thường. Quan trọng hơn, Vua rất khen ngợi ý nghĩa sâu sắc, lòng hiếu thảo và sự hiểu biết của Lang Liêu về cây lúa, về sự sống của dân tộc.
Cuối cùng, Vua Hùng đã truyền ngôi lại cho Lang Liêu, người con trai thứ 18 hiền lành và hiếu thảo.
Kể từ đó về sau, mỗi khi Tết Nguyên Đán đến, người dân Việt Nam lại làm Bánh Chưng và Bánh Giầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất, tưởng nhớ công ơn Vua Hùng và nhắc nhở nhau về đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn hạt gạo.
…. o ….
- BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY
This tale explains the origin and meaning of two traditional cakes—Bánh Chưng and Bánh Giầy—which the Vietnamese people prepare for the Lunar New Year to offer to their ancestors, expressing gratitude to those who came before them and to the grains of rice that sustain human life each day. Out of reverence, the Vietnamese even speak of rice as a precious food, likening it to jade.
Long ago, during the reign of the Sixth Hung King, after the land had been pacified and foreign invaders driven away, the king wished to pass the throne to the son who was both virtuous and wise.
He called all his princes together at the start of spring, declaring his intention to put them to the test. The throne would go to the son who could offer the most delicious and meaningful food at the ancestral altar.
Upon hearing this, the elder princes scattered far and wide in search of rare and exquisite delicacies. They sought delicacies from mountains and seas, precious and exotic foods, hoping to impress their royal father and win the crown.
Among the princes was one named Lang Liêu, the king’s eighteenth son. He was gentle by nature, upright in conduct, and deeply filial toward his parents. Lang Liêu lived simply and knew little of luxurious foods. His mother had died early, and with no one to guide him, he was filled with anxiety, unsure what offering he could prepare that would be worthy and meaningful.
One night, Lang Liêu dreamed of a divine being who appeared smiling before him and said that nothing in this world was more precious than rice, for rice is the sustenance of human life. The spirit instructed him to use fine glutinous rice to make two kinds of cakes.
The first cake was to be square, symbolizing the Earth. The second was to be round, symbolizing the sky. He was told to wrap the cakes in green leaves and place fillings inside, representing parents lovingly sheltering and birthing their children.
When Lang Liêu awoke, he rejoiced. He understood that the most precious and meaningful offering was the one that nourished the people.
He set to work following the divine instructions. He chose fragrant, sticky glutinous rice. For the square cake, he placed mung beans and pork at the center, wrapped it in green leaves, and boiled it until fully cooked. This he named Bánh Chưng, the square cake representing the Earth.
For the round cake, he pounded steamed rice until it became smooth and elastic, shaping it into a pure white circle. This he named Bánh Giầy, the round cake representing the sky.
On the appointed day, the princes returned to the capital. Their offering trays were filled with game from the forests and fish from the seas, an abundance of rare and costly delicacies.
Prince Lang Liêu stepped forward with a simple tray bearing only two humble cakes: a green square Bánh Chưng and a white round Bánh Giầy.
The Hung King, surprised, asked what he had brought. Lang Liêu respectfully recounted the divine dream and explained the meaning of the cakes: the square cake symbolized the Earth, the round cake the Sky, and the filling within expressed the parents’ love that enfolds and nurtures their children.
The king tasted the cakes and found them wonderfully fragrant and tender. More importantly, he praised the profound meaning of the offering, Lang Liêu’s filial devotion, and his understanding of rice as the foundation of life and the people.
In the end, the Hung King passed the throne to Lang Liêu, his gentle and filial eighteenth son.
From that time onward, whenever the Lunar New Year arrives, the Vietnamese people prepare Bánh Chưng and Bánh Giầy to offer to their ancestors and to Heaven and Earth, honoring the legacy of the Hung Kings and reminding one another to remember their roots and to give thanks for the water they drink—and for every grain of rice that sustains life.
…. o ….
- CÂY NÊU NGÀY TẾT
Truyền thống ghi rằng, cây nêu ngày Tết là một cây tre cao, có lá xanh ở ngọn, được dựng trước sân nhà từ ngày 23 tháng Chạp đến mùng 7 tháng Giêng âm lịch với ý nghĩa xua đuổi tà ma, mang lại may mắn, bình an cho gia đình trong năm mới. Trên cây nêu thường treo chuông gió, hay vật dụng biểu tượng khác tùy địa phương. Đức Phật được kể trong truyện dân gian này như một vị thần hỗ trợ cho cái Thiện, hiện thân là con người, chống lại cái Ác, hiện thân là loài quỷ, ác ma.
Ngày xưa, nhân loại chìm trong bóng tối của loài quỷ dữ, hiện thân của ác ma. Chúng chiếm trọn đất đai màu mỡ, còn loài người chỉ là những người làm thuê khốn khổ. Cày bừa đổ mồ hôi, nhưng hầu hết lúa gạo thu hoạch được đều phải nộp cho loài quỷ.
Lòng tham của loài quỷ là vô đáy. Họ ngày càng bóc lột quá đáng, và tới một lúc, loài quỷ tuyên bố một quy tắc mới hết sức vô lý, “Ăn ngọn, cho gốc!”
Tức là, dù loài người có trồng trọt thế nào, phần ngọn cây sẽ thuộc về Quỷ, còn nhân loại chỉ được hưởng phần gốc. Lúa thì Quỷ lấy bông, người chỉ còn trơ cái rạ khô. Đời sống đã khó khăn nay lại càng thêm tuyệt vọng, người dân không còn đường sinh nhai.
Trong lúc cùng quẫn nhất, người dân thành tâm cầu cứu Đức Phật từ bi. Đức Phật hiện ra, mỉm cười và chỉ bảo: “Lần này, các con đừng trồng lúa nữa, hãy chuyển sang trồng khoai lang!”
Người dân làm theo lời Phật. Mùa thu hoạch đến, loài quỷ đến đòi “ăn ngọn” như đã định. Loài quỷ vui mừng nhổ hết lá và dây khoai về, nghĩ rằng sẽ có bữa tiệc lớn. Tuy nhiên, khoai lang thì củ nằm dưới đất! Người dân sung sướng thu hoạch được nhiều củ khoai ngon, còn loài quỷ thì chỉ còn biết gặm nhấm những chiếc lá khô héo.
Loài quỷ điên lên vì bị lừa, và ngay lập tức tuyên bố thay đổi, “Không được! Mùa sau chúng ta sẽ ‘ăn gốc cho ngọn’!”
Bất giờ, Đức Phật lại nói với nhân loại, “Bây giờ các con hãy quay lại trồng lúa.”
Đúng như dự đoán, loài quỷ chỉ thu được gốc rạ khô cứng, còn người dân lại được hưởng những hạt lúa vàng óng.
Lòng hận thù khiến loài quỷ mất hết lý trí, chúng gầm lên: “Thế thì mùa sau, chúng ta ‘ăn cả gốc lẫn ngọn’!”
Lần này, Đức Phật trao cho người dân một loại hạt mới: hạt bắp, còn gọi là hạt ngô. Cây bắp khi lớn lên, dù Quỷ có lấy cả gốc lẫn ngọn thì phần ngon nhất, những trái bắp căng tròn, vẫn nằm ở giữa thân cây, người dân lại được hưởng trọn vẹn.
Cuối cùng, Quỷ nhận ra không thể đấu lại trí tuệ của Phật. Chúng quyết định dùng vũ lực, tuyên bố đòi lại toàn bộ ruộng đất và không cho người dân làm rẫy nữa.
Để tránh một cuộc chiến đổ máu, Đức Phật gặp tên Quỷ đứng đầu và đưa ra một đề nghị cuối cùng: “Ta không cần nhiều. Chỉ xin một miếng đất nhỏ thôi, bằng bóng chiếc áo cà sa của ta treo trên ngọn cây tre này.”
Vua loài quỷ thấy một cái bóng nhỏ bé chẳng đáng là bao, bèn đồng ý ngay lập tức. Nhưng ngay khi chiếc áo được treo lên ngọn tre, Phật dùng phép thần thông, làm chiếc bóng áo cà sa bỗng chốc phủ kín khắp mọi nẻo đất đai, biến toàn bộ vùng đất thành đất của Phật. Loài quỷ mất hết chỗ đứng, buộc phải chạy tháo thân ra biển Đông.
Một thời gian sau, Quỷ kéo quân từ biển Đông quay lại định cướp phá. Lần này, người dân đã chuẩn bị sẵn sàng, họ dùng những thứ mà loài quỷ kinh sợ: lá dứa, tỏi, và vôi bột để chống trả. Bọn Quỷ thua trận tan tác và bị Đức Phật đày vĩnh viễn ra biển.
Trước khi đi, loài quỷ xin Phật rủ lòng thương, cho phép mỗi năm được vài ba ngày trở lại đất liền để thăm viếng mồ mả tổ tiên. Phật động lòng trắc ẩn và đồng ý. Những ngày Quỷ được phép lên bờ chính là những ngày Tết Nguyên Đán.
Để bảo vệ nơi ở khỏi sự quấy phá của loài quỷ, người dân Việt Nam đã dựng lên cây Nêu theo lời dặn của Phật, lấy cây Nêu là cột mốc biên giới để loài quỷ tránh xa. Chuông gió treo trên cây Nêu, để khi gió rung sẽ là lời nhắc loài quỷ tránh xa. Người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất trước cửa ra vào trong những ngày Tết để cấm cửa loài quỷ.
…. o ….
HUMANIZED AFTER THIS
- THE NEW YEAR’S POLE
Tradition says that the New Year’s pole is a tall bamboo tree with green leaves on top. It is put up in front of the house from the 23rd day of the twelfth lunar month to the 7th day of the first lunar month. It stands for keeping bad spirits away and bringing good luck and peace to the family in the new year. People often hang wind chimes or other symbolic objects on the pole, depending on what is common in their area. In this folk tale, Buddha is shown as a god who protects good, which is represented by people, against evil, which is represented by demons and bad spirits.
People in ancient times were surrounded by evil spirits, which were the very definition of evil. These spirits took over all the good land, making people work for them. They worked hard and sweated, but they had to give most of the rice they picked to the demons.
The demons’ greed knew no bounds. They took advantage of people more and more, and at one point, the demons made a new, completely unreasonable rule: “Eat the tops, give the roots!”
In other words, no matter how much people grew, the demons owned the top of the plant and people only got the roots. The demons took the rice grains and left the people with only the dry stalks. Life was already hard, but it got even harder; the people had no way to stay alive.
People prayed sincerely to the kind Buddha for help when they were at their lowest point. The Buddha showed up, smiled, and told them, “This time, don’t plant rice; plant sweet potatoes instead!”
People did what Buddha told them to do. The demons came to get “the tops” as promised when it was time to harvest. They quickly pulled up all the vines and leaves, hoping for a big meal. But sweet potatoes’ tubers are underground! The people happily picked a lot of tasty sweet potatoes, while the demons had to eat dead leaves.
The demons were furious that they had been fooled and immediately said, “No!” Next season, we’ll eat the tops and leave the roots!
The Buddha told people, “You should now go back to planting rice.”
As expected, the demons only got dry, hard rice stalks, while the people ate the golden grains of rice.
The demons roared, blinded by hatred, “Then next season, we will ‘eat both the roots and the tops’!”
The Buddha gave the people corn, a novel kind of seed, this time. When the corn plants grew, the best part—the plump ears of corn—remained in the center of the plant, and the people thoroughly enjoyed them even though the demons stole both the roots and the tops.
The demons eventually came to the conclusion that the Buddha’s wisdom was superior to their own. Declaring that they would reclaim all the land and stop the people from farming, they made the decision to use force.
The Buddha met with the demon king and made one last offer to prevent a bloody conflict: “I don’t need much. All I’m asking for is a tiny plot of land the size of my robe’s shadow hanging from this bamboo tree.”
The demon king instantly agreed after noticing the tiny shadow and considering it to be unimportant. However, the Buddha used his divine power as soon as the robe was hung on the bamboo tree, causing the robe’s shadow to abruptly cover the entire area and turn it into the Buddha’s land. After losing ground, the demons were compelled to escape to the East Sea.
After a while, the demons came back from the East Sea with the intention of robbing and destroying. This time, the people were ready, retaliating with pandan leaves, garlic, and lime powder—items that demons feared. Buddha completely vanquished the demons and banished them to the sea for all time.
Before departing, the demons pleaded with Buddha for forgiveness, requesting permission to visit their ancestors’ graves on land for a few days every year. Compassionate, Buddha concurred. The days of the Lunar New Year are when the demons are permitted to land.
As directed by Buddha, the Vietnamese built the New Year’s pole as a boundary marker to keep the demons out of their homes. In order to remind the demons to stay away, wind chimes were hung on the pole. In order to ward off the demons during the Lunar New Year, people also sprinkled lime powder on the ground in front of their doorways and drew pictures of bows and arrows pointing east.
…. o ….
- HAI BÀ TRƯNG
Chính sử ghi rằng Hai Bà Trưng là hai chị em họ Trưng, là nhân vật lịch sử, đã khởi nghĩa để lật đổ ách dô hộ của quân phương Bắc, nhằm giải phóng Giao Chỉ, tên thời đó của vùng đất bây giờ là Việt Nam.
Ngày xưa, ở vùng đất Mê Linh tươi đẹp, có hai chị em ruột nổi tiếng là xinh đẹp và dũng cảm, đó là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Họ sinh ra trong một gia đình Lạc tướng (một chức quan thời xưa) có truyền thống yêu nước.
Lúc bấy giờ, đất nước ta đang bị quân phương Bắc đô hộ và cai trị rất hà khắc. Người dân bị bóc lột, bắt nộp nhiều thứ thuế vô lý. Những người Lạc tướng yêu nước luôn tìm cách đoàn kết lại để chống lại kẻ thù.
Trưng Trắc lớn lên, kết hôn với một vị Lạc tướng trẻ tuổi, có chung chí hướng tên là Thi Sách, ở vùng Chu Diên. Hai người cùng nhau nuôi chí lớn, chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa giành lại độc lập.
Quân đô hộ đứng đầu là Thái thú Tô Định vô cùng tàn ác. Hắn biết rõ lòng dân Việt không phục tùng. Để dập tắt ý chí đấu tranh của người Việt, Tô Định đã thẳng tay bắt và giết Lạc tướng Thi Sách. Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị quyết tâm đứng lên khởi nghĩa. Bà nói: “Nếu không trả được thù nhà, đền nợ nước, thì thật uổng công sinh ra ở đời!”
Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh và quân đội yêu nước tại Hát Giang (nay thuộc Hà Nội). Họ chuẩn bị kỹ lưỡng, được sự hưởng ứng và ủng hộ nhiệt liệt của người dân khắp nơi.
Vào một buổi sáng, khoảng tháng Hai năm 40 sau Tây lịch, Hai Bà Trưng chính thức phát lệnh khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa này không chỉ có nam giới tham gia chiến đấu mà còn có rất nhiều phụ nữ dũng cảm tham gia, như Nàng Man Thiện (mẹ của Hai Bà Trưng), bà Lê Chân, bà Bát Nàn…
Sử sách kể lại rằng, Trưng Trắc mặc áo giáp oai phong, cưỡi trên lưng voi, chỉ huy quân sĩ tiến chiếm các thành. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân đã đánh tan quân giặc. Thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, cải trang thành thường dân để trốn chạy thoát thân về Trung Quốc.
Sau khi giải phóng kinh đô và đánh chiếm lại được 65 thành trì ở vùng Lĩnh Nam, người dân vô cùng vui mừng. Để khẳng định độc lập dân tộc, Trưng Trắc được mọi người tôn lên làm Vua. Bà tự xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một người phụ nữ làm Vua!
Trong hơn ba năm cai trị, Trưng Nữ Vương mang lại cuộc sống yên bình, hạnh phúc cho dân tộc. Bà xóa bỏ nhiều luật lệ hà khắc, thể hiện sự quan tâm, yêu thương đối với nhân dân.
Triều đình nhà Hán phương Bắc nổi giận, cử một viên tướng rất già dặn và giỏi giang tên là Mã Viện, dẫn theo một đội quân lớn khoảng 2 vạn người, chia làm nhiều cánh, tiến thẳng sang xâm lược lần nữa. Quân hai bên giao chiến ác liệt tại nhiều nơi, trong đó có trận chiến lớn ở Lãng Bạc. Quân Mã Viện rất đông và thiện chiến, lại được chuẩn bị kỹ lưỡng.
Lúc này, quân của Hai Bà Trưng tuy dũng cảm nhưng ô hợp hơn, nhiều thủ lĩnh nhỏ thấy thế giặc quá mạnh nên đã nản lòng. Hai Bà Trưng thấy không thể chống cự trực diện được, bèn rút quân về cố thủ tại vùng Cấm Khê. Vào năm Quý Mão (năm 43), trước sức tấn công như vũ bão của quân Hán, Hai Bà Trưng biết rằng không thể giữ được thành nữa. Để bảo toàn khí tiết và không rơi vào tay giặc, Hai Bà đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang tự vẫn.
Sau khi đánh bại Hai Bà Trưng, Mã Viện dựng một trụ đồng có khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt, nghĩa là trụ đồng sụp đổ thì Giao Chỉ bị tuyệt diệt. Từ đó, người Giao Chỉ qua đây, ai cũng bồi thêm đất đá cho cột đồng vững chắc, phủ kín cả cột đồng, không ai biết trụ đồng ở chỗ nào nữa. Hiện nay, trên cả nước Việt Nam có 103 đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh ở 9 tỉnh, thành phố.
…. o ….
- THE TRƯNG SISTERS
According to historical accounts, the Trưng Sisters were two sisters who spearheaded an insurrection to free Giao Chi (Giao Chỉ), the name given at the time to the region that is now Vietnam, from the rule of the Northern invaders.
Two sisters named Trưng Trắc (Trưng Trắc) and Trưng Nhị (Trưng Nhị) were renowned for their bravery and beauty in the ancient land of Me Linh (Mê Linh). They were born into a patriotic family of Lac generals, an old official title.
The invaders from the North were ruling Vietnam harshly at the time. The populace was taken advantage of and made to pay numerous exorbitant taxes. In order to combat the enemy, the patriotic Lac generals always tried to band together.
Growing up, Trưng Trắc married Thi Sach (Thi Sách), a young Lac general from the Chu Dien region with similar goals. As they prepared for the day of the rebellion to reclaim independence, they fostered lofty aspirations.
The brutal governor Su Ding (Tô Định) and the occupying forces were aware that the Vietnamese people were not docile. Su Ding brutally detained and murdered General Thi Sách in order to crush the Vietnamese people’s will to fight. Trưng Trắc and her sister Trưng Nhị made the decision to rebel. “It is truly a waste to have been born into this world if we cannot avenge our family and repay our debt to the country,” she declared.
At Hat Giang (now in Hanoi), patriotic generals and soldiers were assembled by Trưng Trắc and Trưng Nhị. People from all over the world enthusiastically supported their careful preparation.
The rebellion was formally started by the Trưng Sisters one morning in February of 40 AD. This uprising involved not only men but also many brave women, such as Lady Man Thien (Man Thiên) (mother of the Trưng Sisters), Lady Le Chan (Lê Chân), Lady Bát Nàn (Bát Nàn), and others.
According to historical accounts, Trưng Trắc ordered the troops to seize the cities while mounted on an elephant and dressed in regal armor. The enemy was quickly vanquished by the rebel army. In order to flee back to China, Governor Su Ding had to shave his beard, cut his hair, and pass for a commoner.
The people were ecstatic after recapturing 65 fortresses in the Lingnan (Lĩnh Nam) region and liberating the capital. Trưng Trắc was crowned Queen in order to affirm the country’s independence. She established Me Linh as her capital and declared herself Trung Nu Vuong, also known as Queen Trung. Vietnam had never had a female queen before!
Queen Trung brought happiness and peace to the populace during her more than three years in power. As a sign of her love and concern for her people, she repealed a number of strict laws.
Enraged, the Han dynasty in the north dispatched Ma Yuan (Mã Viện), a highly accomplished and experienced general, to launch another invasion with a sizable army of roughly 20,000 soldiers split up into multiple divisions. There were numerous instances of intense fighting between the two armies, including a significant engagement at Lang Bac. Ma Yuan had a sizable, well-prepared, and well-trained army.
Despite their bravery, the Trưng Sisters’ army was now more disorganized, and the enemy’s overwhelming power demoralized many of the smaller leaders. The Trưng Sisters withdrew their troops to protect themselves in the Cẩm Khê region after realizing they could not directly resist.
The Trưng Sisters realized they could no longer hold the city in the year of the Cat (43 AD) when the Han army launched an overwhelming attack. The two Trưng Sisters committed suicide by throwing themselves into the Hat Giang River in order to maintain their honor and stay out of the hands of the enemy.
Following his victory over the Trưng Sisters, Ma Yuan built a bronze pillar bearing the six characters “Dong Tru Chiet, Giao Chi Diet,” which translates to “When the bronze pillar falls, Giao Chi will be destroyed.” From that point on, Giao Chi residents would strengthen the bronze pillar by adding stones and earth whenever they passed by. Eventually, they would completely cover it, making it impossible to locate. In nine Vietnamese provinces and cities, there are currently 103 temples honoring the Trưng Sisters and their generals.
…. o ….
- BÁT NÀN TƯỚNG QUÂN
Bát Nàn, còn đọc là Bát Nạn, là một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Khi cha và chồng bà bị quân phương Bắc giết, bà cầm kiếm phá vòng vây để trốn về ngôi chùa Tiên La ẩn thân. Nơi đây, bà dạy võ cho các sư, ni và dân làng để lập đạo binh giữ làng. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, bà dẫn một đạo binh xin theo Hai Bà Trưng.
Vào những năm đầu Công Nguyên, khi đất nước ta còn đang chịu sự đô hộ hà khắc của nhà Đông Hán, ở vùng đất Tiên La (nay thuộc Thái Bình) đã xuất hiện một cô gái kiệt xuất. Tên thật của nàng là Vũ Thị Thục, nhưng dân gian thường gọi là Thục Nương.
Thục Nương không chỉ xinh đẹp tuyệt trần mà còn là người có tài năng hiếm có và lòng nhân ái sâu sắc. Bà không chỉ tinh thông văn võ mà còn biết dạy dân phát triển nông nghiệp, sáng tác và truyền dạy các làn điệu dân ca, hát đối, hát xoan – những nét văn hóa vẫn còn lưu truyền đến tận ngày nay. Ở tuổi 16, nàng được mọi người tôn vinh là “Nữ tiên hạ thế” vì vẻ đẹp và đức hạnh của mình.
Năm 18 tuổi, Thục Nương đính hôn với Phạm Danh Hương, con trai của một hào trưởng yêu nước ở Nam Chân. Họ đều là những người có chung chí hướng, ấp ủ ước mơ giải phóng dân tộc.
Uy danh và sắc đẹp của Thục Nương đã đến tai tên Thái thú đô hộ Tô Định – kẻ đứng đầu sự tàn bạo tại Giao Chỉ. Hắn nổi lòng tham, muốn cưỡng ép nàng làm vợ lẽ. Thục Nương cương quyết từ chối. Lòng tự trọng và lòng yêu nước không cho phép nàng khuất phục trước kẻ thù của dân tộc.
Tức giận vì bị cự tuyệt, Tô Định lập mưu hèn hạ. Hắn lừa cha của Thục Nương và vị hôn phu Phạm Danh Hương đến phủ, gán cho họ tội danh phản loạn rồi tàn độc giết cả hai. Sau đó, hắn sai quân lính đến Phượng Lâu để bắt Thục Nương.
Trong lúc nguy nan, với lòng căm thù sục sôi và ý chí phi thường, Thục Nương cầm đao, một mình phá tan vòng vây của quân giặc, trốn thoát về vùng Tiên La.
Trốn về chùa Tiên La, Thục Nương được các thiền sư che chở. Tại đây, nàng bắt đầu bí mật rèn luyện bản thân. Vừa tu tập để trấn tĩnh tinh thần, nàng vừa truyền dạy võ thuật cho các sư, ni, dân làng và âm thầm chiêu mộ những người cùng chí hướng.
Từ nỗi đau cá nhân và nỗi nhục quốc thể, Thục Nương quyết định dựng cờ khởi nghĩa. Lá cờ của bà thêu bốn chữ vàng oai hùng: “Bát Nạn Tướng Quân”, có nghĩa là Vị Tướng Quân Phá Tan Tám Tai Nạn Lớn. Danh hiệu này thể hiện khát vọng giải thoát nhân dân khỏi mọi đau khổ, áp bức.
Mùa xuân năm 40 sau Tây lịch, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, tiếng vang lan khắp nơi. Vốn đã nghe uy danh và tinh thần chiến đấu bất khuất của Bát Nàn, Hai Bà Trưng lập tức cử sứ giả đến mời bà góp sức.
Bát Nàn Tướng Quân cùng đội quân của mình lập tức hưởng ứng. Bà sát cánh cùng Hai Bà Trưng và các nữ tướng khác, xông pha trận mạc, đánh tan tác quân đô hộ. Tên Thái thú Tô Định bị đánh cho hoảng loạn, phải lén lút bỏ chạy về phương Bắc.
Sau khi đất nước giành được độc lập, Trưng Trắc lên ngôi Vua là Trưng Vương. Bà phong tặng Thục Nương danh hiệu cao quý Đông Nhung Đại Tướng Quân để ghi nhận công lao to lớn của bà trong cuộc chiến.
Tuy nhiên, niềm vui độc lập kéo dài chưa được bao lâu. Năm 42, Vua Hán cử tướng Mã Viện, một kẻ gian ác và mưu mô, dẫn quân lớn quay sang xâm lược nước ta. Cuộc chiến tái chiếm diễn ra vô cùng cam go. Quân ta chiến đấu anh dũng, nhưng do thế giặc quá mạnh và được trang bị tốt, Hai Bà Trưng cuối cùng đã thất bại và hy sinh anh dũng trên dòng Hát Giang vào năm 43.
Dù các thủ lĩnh khác dần tan rã, nhưng Tướng quân Bát Nàn vẫn không lùi bước. Bà lui về vùng Đa Cương, tiếp tục tập hợp lực lượng, chiến đấu kiên cường để giữ đất. Quân Hán phải dốc toàn bộ lực lượng mới có thể bao vây, đàn áp.
Sau 39 ngày đêm giao tranh ác liệt, khi lực lượng đã cạn kiệt, Bát Nàn Tướng Quân biết rằng không thể bảo vệ thành trì được nữa. Bà dẫn đội quân cuối cùng chạy về gò Kim Quy. Tại đây, để giữ trọn khí tiết của một nữ tướng anh hùng, bà đã tuốt gươm tuẫn tiết dưới gốc cây tùng lớn.
…. o ….
- GENERAL BÁT NÀN
One of the great female generals of the Trưng Sisters was Bát Nàn, sometimes spelled Bát Nàn. She used a sword to break through the encirclement and flee to the Tiên La pagoda for safety after her husband and father were killed by the Northern invaders. In order to build an army to protect the village, she trained monks, nuns, and villagers in martial arts. She led an army to join the Trưng Sisters when they began their uprising.
A remarkable young woman emerged in the Tiên La region (now in Thai Binh province) during the early Common Era, when our nation was still ruled harshly by the Eastern Han dynasty. Although her common name was Thục Nương, her birth name was Vũ Thị Thục.
In addition to her extraordinary beauty, Thục Nương had a unique talent and a deep sense of compassion. In addition to being skilled in literature and martial arts, she also taught the people how to develop agriculture and wrote and taught folk songs, antiphonal singing, and xoan singing—cultural customs that are still practiced today. Because of her virtue and beauty, she was recognized as a “female immortal descended to earth” at the age of sixteen.
Thục Nương, then eighteen, got engaged to Phạm Danh Hương, a Nam Chan patriotic chieftain’s son. They both cherished the dream of nation-liberation and had similar goals.
Su Ding, the despotic governor who spearheaded the violence in Giao Chi, heard about Thục Nương’s fame and beauty. He became avaricious and desired to coerce her into being his concubine. Thục Nương steadfastly declined. She refused to submit to the country’s enemy because of her patriotism and sense of self-respect.
Su Ding (Tô Định) came up with a terrible plan after being turned down. He tricked Thục Nương’s father and fiancé, Pham Danh Huong, into coming to his house, falsely accused them of rebellion, and then killed them both in a brutal way. He then sent troops to Phoenix Tower to take Thục Nương into custody.
Thục Nương, armed with a sword and full of rage and determination, broke through the enemy’s encirclement and fled to the Tiên La region.
The monks at Tiên La Temple took Thục Nương in and kept her safe. She trained herself there in secret. While she was meditating to calm her mind, she also taught martial arts to monks, nuns, and villagers, and secretly recruited people who thought like her.
Thục Nương decided to start a rebellion because she was in pain and her country was humiliated. Her banner had four beautiful golden letters on it that said “Bát Nàn General,” which means “The General Who Overcomes Eight Great Calamities.” This title showed that she wanted to free everyone from pain and oppression.
When the Trưng Sisters raised the banner of rebellion in Me Linh in the spring of 40 AD, the news quickly spread. The Trưng Sisters sent messengers to invite Bát Nàn to join their cause as soon as they learned of her reputation and unwavering fighting spirit.
The army of General Bát Nàn reacted right away. She valiantly charged into battle and decisively defeated the occupying forces, fighting alongside the Trưng Sisters and other female generals. Su Ding, the governor, fled covertly back to the north out of fear.
Trưng Trắc became Queen Trung after the nation attained independence. To honor Thục Nương’s outstanding contributions to the war, she bestowed upon her the honorific title of Dong Nhung Great General (Đông Nhung Đại Tướng Quân).
But the happiness of independence was short-lived. The Han Emperor dispatched the evil and crafty General Ma Yuan (Mã Viện) to command a sizable army and invade our nation once more in 42 AD. The reconquest war was a very difficult one. Although our troops fought valiantly, the Trưng Sisters ultimately failed and gave their lives on the Hát Giang River in 43 AD as a result of the enemy’s overwhelming strength and superior equipment.
General Bát Nàn did not flee, despite the fact that other leaders gradually dispersed. She retreated to the Da Cuong area, kept amassing troops, and engaged in fierce combat to protect the territory. To encircle and subdue her, the Han army had to gather all of its resources.
General Bát Nàn realized she could no longer defend the fortress after her forces were worn out from 39 days and nights of intense combat. She guided the last of her soldiers to Kim Quy Hill. There, she pulled out her sword and killed herself beneath a big pine tree in order to uphold the honor of a valiant female general.
…. o ….
- BÀ TRIỆU CƯỠI VOI ĐÁNH GIẶC
Phước đức của một dân tộc sẽ là hòa bình, tin vào Tam Bảo và sống theo Chánh pháp. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có cả hơn một ngàn năm bị nhà nước phong kiến Trung Quốc đô hộ, cho đến năm 938 sau Tây lịch mới thoát, khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng. Để cứu người dân thoát cảnh bị ép lên rừng tìm ngà voi và bị ép xuống biển mò ngọc trai có một cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu dấy binh lãnh đạo.
Hơn 1.700 năm trước, vào năm 226, tại vùng đất Thanh Hóa, một cô bé phi thường đã ra đời, đó là Triệu Trinh Nương, hay thường được gọi là Bà Triệu.
Từ thuở bé, Bà Triệu đã bộc lộ chí khí hơn người. Khi cha hỏi về ước muốn tương lai, cô bé nhỏ tuổi đã trả lời một cách dứt khoát: “Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị!”
Sống cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng có tiếng, Bà Triệu lớn lên là một cô gái mạnh mẽ, tinh thông võ nghệ và mang trong mình hoài bão lớn lao.
Khi Bà Triệu tròn 19 tuổi, có người hỏi về việc lập gia đình, câu trả lời của Bà đã trở thành một lời nguyện bất hủ, vang vọng đến tận ngày nay, “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”
Mùa xuân năm 248, khi thấy sự tàn bạo của quan lại nhà Đông Ngô (phương Bắc) khiến dân chúng lầm than, Bà Triệu cùng anh trai Triệu Quốc Đạt quyết định khởi binh.
Từ hai căn cứ vững chãi ở vùng núi Nưa và Yên Định (Thanh Hóa), nghĩa quân nhanh chóng đánh chiếm được Tư Phố – một căn cứ quân sự quan trọng của giặc Ngô.
Tuy nhiên, niềm vui chiến thắng chưa được bao lâu thì Triệu Quốc Đạt không may lâm bệnh qua đời. Các nghĩa binh không hề nao núng, vì thấy Bà Triệu là người can đảm, có tài thao lược, họ đồng lòng tôn Bà lên làm chủ tướng.
Bà Triệu đã liên kết với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền, mở rộng vùng kiểm soát, và xây dựng tuyến phòng thủ kiên cố từ Bồ Điền ra đến cửa biển Thần Phù, sẵn sàng đối phó với quân chi viện của giặc.
Khi ra trận, hình ảnh Bà Triệu khiến kẻ thù phải khiếp sợ và nhân dân vô cùng kính phục: Bà mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, và đặc biệt là cưỡi trên lưng một voi trắng một ngà oai dũng. Bà được tôn vinh là Nhụy Kiều tướng quân (Nữ tướng xinh đẹp).
Quân đội của Bà đi đến đâu, dân chúng đổ xô hưởng ứng đến đó. Quân Ngô vô cùng lo lắng. Truyền thuyết kể rằng, quân nhà Ngô phải thốt lên câu đầy sợ hãi, “Cầm ngang ngọn giáo để đánh cọp xem ra còn dễ, nhưng đối diện Bà Triệu mới khó vô cùng!”
Giặc Ngô thậm chí đã tìm cách mua chuộc Bà Triệu bằng tiền bạc và chức tước (như phong Bà là Lệ Hải Bà Vương), nhưng Bà Triệu kiên quyết khước từ.
Vua Ngô là Tôn Quyền lo lắng tột độ, bèn cử tướng Lục Dận, một vị tướng giỏi, dẫn theo 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận không chỉ dùng vũ lực, mà còn dùng tiền bạc và thủ đoạn để mua chuộc, chia rẽ các lãnh tụ địa phương, làm suy yếu lực lượng nghĩa quân.
Trận chiến ác liệt cuối cùng diễn ra tại căn cứ Bồ Điền. Dù chiến đấu vô cùng anh dũng, nhưng do chênh lệch về lực lượng và bị cô lập, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chỉ đứng vững được hơn hai tháng.
Cuối cùng, sau một năm sáu tháng kháng chiến oanh liệt, cuộc khởi nghĩa thất bại. Bà Triệu đã chọn cách tuẫn tiết trên núi Tùng (Thanh Hóa) vào năm 248, khi chỉ mới 23 tuổi. Ba anh em họ Lý sau đó cũng tuẫn tiết theo Bà để giữ trọn lời thề trung thành.
Ngày nay, tại núi Tùng vẫn còn lăng mộ của Bà Triệu. Gần đó, trên núi Gai là đền thờ Bà. Hằng năm, cứ vào ngày 21 tháng 2 Âm lịch, người dân lại tổ chức lễ giỗ để tưởng nhớ người nữ anh hùng đã cưỡi voi trắng đánh giặc, hiến dâng tuổi thanh xuân vì độc lập của đất nước.
…. o ….
- LADY TRIỆU RIDING AN ELEPHANT TO FIGHT THE ENEMY
Peace, adherence to the Dharma, and faith in the Three Jewels (Buddhism) are the blessings of a nation. However, until Ngo Quyen defeated the Southern Han army in the Battle of Bạch Đằng in 938 AD, the Vietnamese people were ruled by the Chinese feudal state for over a millennium. Lady Triệu led an uprising to prevent the people from being driven into the sea to dive for pearls and into the forests to find elephant tusks.
Lady Triệu, also known as Triệu Trinh Nương, was born in the land of Thanh Hóa more than 1,700 years ago in 226.
Lady Triệu demonstrated remarkable ambition from an early age. “When I grow up, I will fight the enemy like the Trưng Sisters!” was the young girl’s firm response to her father’s question about her goals for the future.
Living with her older brother, the well-known local leader Triệu Quốc Đạt, Lady Triệu developed into a resilient young woman with strong martial arts skills and lofty goals.
“I only want to ride the strong wind, tread the fierce waves, slay the giant whales in the East Sea, reclaim the country, establish independence, and break the yoke of slavery, rather than bowing down to be a concubine!” is an immortal vow that Lady Triệu made when someone asked her about getting married on her 19th birthday.
Lady Triệu and her brother Triệu Quốc Đạt made the decision to start an insurrection in the spring of 248 after witnessing the cruelty of Eastern Wu dynasty officials (from the North) causing suffering to the populace. The rebel army swiftly took Tư Phố, a crucial Wu military base, from two strongholds in the Nưa and Yên Định mountains (Thanh Hoa province).
Nevertheless, Triệu Quốc Đạt sadly became ill and passed away, so the happiness of victory was short-lived. Not deterred, the rebels unanimously elected Lady Triệu as their commander after realizing her bravery and strategic skill.
In order to counter the enemy’s reinforcements, Lady Triệu formed an alliance with the three Lý brothers in Bồ Điền, increased her sphere of influence, and constructed a sturdy defense line from Bồ Điền to the Thần Phù estuary.
Wearing golden armor, ivory clogs, a golden hairpin, and, most importantly, riding a magnificent one-tusked white elephant, Lady Triệu’s image intimidated the enemy and won the highest respect from the populace. Nhụy Kiều General (Beautiful Female General) was the title given to her.
People swarmed to support her wherever her army went. The Wu army was deeply concerned. “It’s easier to fight a tiger with a spear than to face Lady Triệu!” the Wu soldiers reportedly yelled in terror.
The Wu emperor even tried to bribe Lady Triệu with money and titles, like giving her the title of Lady of Le Hai, but Lady Triệu would not accept.
Sun Quan, the Wu emperor, was very worried and sent General Lu Xun, a very good general, with 8,000 elite troops to put down the rebellion. Lu Xun not only used violence, but he also used money and tricks to bribe and split up local leaders, which made the rebel forces weaker.
The last big fight happened at the Bồ Điền base. Even though Lady Triệu’s uprising was brave, it only lasted a little over two months because the forces were uneven and they were alone.
After a year and a half of strong resistance, the uprising finally failed. In 248, Lady Triệu chose to kill herself on Tung Mountain in Thanh Hoa province. She was only 23 years old. To keep their promise of loyalty, her three brothers from the Ly family also killed themselves.
Lady Triệu’s tomb is still on Tung Mountain today. There is a temple nearby on Gai Mountain that is dedicated to her. On the 21st day of the second lunar month, people hold a memorial ceremony to honor the woman who rode a white elephant to fight the enemy and gave up her youth for the country’s freedom.