Tuyển dịch bởi Nguyên Giác
Selected & translated by Nguyên Giác
- KHƯƠNG TĂNG HỘI: SƠ TỔ THIỀN VN
Ngài Khương Tăng Hội(? – 280) sinh tại Việt Nam, xuất gia từ thơ ấu sau khi cha mẹ từ trần. Thiền sư Nhất Hạnh gọi Khương Tăng Hội là Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam, và là người đầu tiên truyền bá Phật Giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc. Khương Tăng Hội dạy thiền, tập trung vào pháp niệm hơi thở, rồi sau đó là quán sát tâm.
Nhà sư Khương Tăng Hội (? – 280) đã đặt nền móng cho Thiền học ở Việt Nam và là một trong những người đầu tiên truyền bá Phật giáo sang Trung Quốc. Ngài sinh ra và lớn lên tại Giao Chỉ (tức Việt Nam ngày nay, cụ thể là vùng Luy Lâu, trung tâm Phật giáo thời bấy giờ). Cha mẹ ngài là người gốc nước Khương Cư (một vùng thuộc Iran ngày nay), đến Giao Chỉ để buôn bán.
Khi Khương Tăng Hội mới lên mười tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Chứng kiến sự vô thường, ngắn ngủi của đời người, cậu bé Khương Tăng Hội đã xin xuất gia tu hành ngay tại Luy Lâu, nơi bây giờ thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ngài dành hết tài sản của cha mẹ để dâng cho việc phiên dịch và in kinh điển.
Trong quá trình tu học, Khương Tăng Hội đã nổi danh là người vô cùng thông minh, uyên bác. Ngài giỏi cả tiếng Hán lẫn tiếng Phạn, thông hiểu sâu sắc kinh điển Phật giáo, lại còn nghiên cứu cả văn học, toán số và thiên văn.
Vào năm 247, Khương Tăng Hội quyết định mang ánh sáng Phật pháp từ Giao Chỉ đến vùng Đông Ngô (một nước lớn ở Trung Quốc thời Tam Quốc). Ngài đến thành Kiến Nghiệp (tức Nam Kinh ngày nay) và dựng một túp lều tranh để tu trì và giảng dạy.
Ban đầu, vua Ngô là Tôn Quyền tỏ ra nghi ngờ và thiếu tôn trọng, thậm chí còn tìm cách làm khó Ngài. Nhưng bằng sự uyên bác, đức độ và những câu chuyện kỳ diệu về Phật pháp (như việc Ngài giúp tìm thấy Xá Lợi Phật), Khương Tăng Hội đã thuyết phục được Tôn Quyền.
Tôn Quyền không chỉ tin phục mà còn cho xây dựng ngôi chùa Kiến Sơ để thỉnh Ngài ở lại. Từ đó, Phật giáo bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở miền Giang Tả (phía Nam sông Dương Tử) của Trung Quốc. Khương Tăng Hội viên tịch vào năm 280, niên hiệu Thái Khương nguyên niên đời nhà Tấn, như vậy đại sư đã ở tại Trung Hoa 33 năm.
Khương Tăng Hội được tôn vinh không chỉ vì tài năng phiên dịch kinh điển (như bộ Lục Độ Tập Kinh) mà còn vì những lời dạy Thiền vô cùng sâu sắc của Ngài. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp môn An Ban Thủ Ý: dùng pháp niệm hơi thở để xa lìa niệm bất thiện, giữ tâm tịch lặng, nhập định và quán sát tự tâm.
Khương Tăng Hội là một người tiên phong trong việc truyền bá tư tưởng Đại Thừa, đưa ra quan niệm về Tâm Chân Như (hay Phật tính), có nghĩa là bản thể chân thật, thanh tịnh tuyệt đối của mỗi con người.
Tác giả Nguyễn Lang, tức là Thiền sư Nhất Hạnh, viết về Khương Tăng Hội: “Chính vì ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý không và chân như của đại thừa mà Tăng Hội đã diễn tả về tâm như sau trong bài kinh An Ban Thủ Ý: “Tâm không hình sắc, không có âm thanh, không có tiền, hậu; tâm thâm sâu vi tế không tóc tơ hình tướng, cho nên Phạm Thiên, Ðế Thích và các tiên thánh khác cũng không thể thấy được; kẻ phàm tục không thể thấy được sự hóa sinh từ hình thức này sang hình thức khác của các chủng tử khi thì minh hiển khi thì trầm mặc trong tâm...'” (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Chương 3, Khởi Nguyên Của Thiền Học Việt Nam)
Bản Việt dịch của GS Lê Mạnh Thát ghi lời dạy của Khương Tăng Hội về thiền pháp:
“Ngồi có ba cấp. Một là ngồi hiệp vị. Hai là ngồi tịnh. Ba là ngồi không có kết.
Ngồi hiệp vị là gì? Là ý bám lấy hạnh không rời, đó là ngồi hiệp vị.
Ngồi tịnh là gì? Là không niệm nghĩ, đó là ngồi tịnh.
Ngồi không có kết là gì? Là kết đã hết, đó là ngồi không có kết.”
Các câu trên có thể chuyển ngữ đơn giản rằng: Ngồi hiệp vị là niệm thân, là ý nhận biết không rời tất cả các chuyển biến của thân tâm. Ngồi tịnh là tâm tỉnh thức trong tịch lặng, vô niệm, không chút nghĩ ngợi gì. Ngồi không kết là đã dứt bặt các kết (kiết sử, phiền não), không còn chút nào tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến.
Như thế, Phật Giáo từ trung tâm Phật học Luy Lâu của Việt Nam đã được ngài Khương Tăng Hội truyền sang Bành Thành (nơi thời Chiến Quốc từng là kinh đô của Sở Hoài Vương, nay là Từ Châu thuộc Giang Tô), rồi từ Bành Thành tới Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán, nay thuộc Hà Nam, Trung Quốc), tạo nên ba trung tâm Phật giáo lớn của đế quốc Hán đầu Công nguyên.
…. o ….
- KHƯƠNG TĂNG HỘI: THE FIRST PATRIARCH OF VIETNAMESE ZEN
Khương Tăng Hội (?–280) was born in Vietnam and ordained as a child after the passing of his parents. Zen Master Thích Nhất Hạnh refers to him as the First Patriarch of Vietnamese Zen and the first person to transmit Buddhism from Vietnam to China. His teaching emphasized meditation, beginning with mindfulness of breathing and later progressing to contemplation of the mind.
Khương Tăng Hội laid the earliest foundations for Buddhist meditation studies in Vietnam and became one of the first monks to introduce Buddhism to China. He was born and raised in Giao Chỉ (present‑day northern Vietnam), specifically in Luy Lâu, which at the time was a major Buddhist center. His parents were merchants from the ancient kingdom of Kangju (a region corresponding to modern‑day Iran) who had settled in Giao Chỉ for trade.
When he was only ten years old, both of his parents passed away. Confronted with the impermanence and fragility of human life, the young Khương Tăng Hội requested ordination at Luy Lâu, in what is now Bắc Ninh Province. He donated his entire inheritance to the translation and printing of Buddhist scriptures.
During his training, Khương Tăng Hội became renowned for his extraordinary intelligence and erudition. He mastered both Chinese and Sanskrit, possessed deep understanding of Buddhist texts, and also studied literature, mathematics, and astronomy.
In 247, he resolved to bring the light of the Dharma from Giao Chỉ to the state of Eastern Wu (one of the major kingdoms during the Three Kingdoms period). He arrived in Jianye (modern Nanjing) and built a small thatched hut where he practiced and taught.
At first, Sun Quan, the ruler of Wu, was skeptical and even attempted to challenge him. Yet through his profound learning, moral integrity, and several wondrous events associated with the Dharma—such as helping to discover the Buddha’s relics—Khương Tăng Hội eventually won Sun Quan’s respect.
Sun Quan not only came to trust him but also ordered the construction of Kiến Sơ Temple to invite him to remain. From that point, Buddhism began to flourish in the Jiangzuo region (south of the Yangtze River). Khương Tăng Hội passed away in 280, the first year of the Taikang era under the Jin dynasty, after having lived and taught in China for thirty‑three years.
Khương Tăng Hội is honored not only for his skill in translating scriptures—such as the Collection on the Six Perfections (Lục Độ Tập Kinh)—but also for his profound teachings on meditation. He emphasized the practice of Ānāpānasmṛti (mindfulness of breathing) as a method to abandon unwholesome thoughts, maintain inner stillness, enter meditative absorption, and observe the nature of one’s own mind.
He was also a pioneer in introducing Mahāyāna thought, articulating the doctrine of the True Suchness Mind (Tâm Chân Như), or Buddha‑nature—the pure and original essence inherent in every being.
The scholar Nguyễn Lang (Zen Master Thích Nhất Hạnh) writes about Khương Tăng Hội:
“Because of the deep influence of the Mahāyāna teachings on emptiness and suchness, Tăng Hội described the mind in the An Ban Thủ Ý Sūtra as follows: ‘The mind has no form, no sound, no front or back; it is subtle and profound, without even the slightest trace of shape. Therefore, even Brahmā, Śakra, and the sages cannot perceive it; ordinary beings cannot see the transformations of the seeds as they shift from one state to another—now manifest, now hidden—within the mind…’” (Vietnamese Buddhist History, Chapter 3, “The Origins of Vietnamese Zen”).
Professor Lê Mạnh Thát records Khương Tăng Hội’s teaching on meditation as follows:
“There are three levels of sitting. First is harmonized sitting. Second is purified sitting. Third is sitting without knots.
What is harmonized sitting? It is when the mind holds firmly to wholesome conduct without letting go.
What is purified sitting? It is the absence of discursive thought.
What is sitting without knots? It is when all knots have been cut off.”
These instructions may be rendered simply as:
— Harmonized sitting is mindfulness of the body—continuous awareness of all physical and mental processes.
— Purified sitting is the mind resting in stillness, free from thought.
— Sitting without knots is the complete cessation of all fetters and afflictions: greed, anger, delusion, arrogance, doubt, identity‑view, extreme views, attachment to views, attachment to rites and rituals, and wrong views.
Thus, from the Buddhist center of Luy Lâu in Vietnam, Khương Tăng Hội transmitted the Dharma to Pengcheng (which had once been the capital of King Huai of Chu during the Warring States period, now Xuzhou in Jiangsu), and from Pengcheng to Luoyang (capital of the Eastern Han, now in Henan). These became three major Buddhist centers of the early Han empire in the first centuries of the Common Era.
…. o ….
- ĐINH TIÊN HOÀNG: VỊ VUA BỔ NHIỆM ĐỨC TĂNG THỐNG ĐẦU TIÊN
Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 tại làng Đại Hoàng, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Thời đại ông sống là những năm đất nước chìm trong loạn lạc sau khi nhà Ngô suy yếu, gọi là Loạn 12 Sứ Quân. Tuổi thơ của Đinh Bộ Lĩnh thật khác thường. Cha mất sớm, ông theo mẹ về ở với chú ruột. Ông thường chơi trò đánh trận với đám trẻ chăn trâu. Bộ Lĩnh được chúng tôn làm “Đinh Bộ Chủ” và dùng bông lau làm cờ, làm giáo để tập trận. Ngay từ nhỏ, người ta đã thấy ở ông sự tài trí và khí phách hơn người.
Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ đã có một thời gian nương tựa tại chùa Am Tiên (nay thuộc khu vực động Am Tiên, Hoa Lư). Chùa Am Tiên là nơi Đinh Bộ Lĩnh không chỉ ẩn náu mà còn được các nhà sư nuôi dưỡng và dạy dỗ. Đây là giai đoạn quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và nhân cách của ông. Trong những năm loạn lạc, các ngôi chùa không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm văn hóa, giáo dục và nơi che chở cho người dân Việt Nam. Chính nhờ sự che chở của Phật giáo, Đinh Bộ Lĩnh đã có điều kiện tích lũy kiến thức, rèn luyện ý chí để chuẩn bị cho sự nghiệp lớn sau này.
Khi lớn lên, Đinh Bộ Lĩnh trở thành một hào trưởng có uy tín. Nhận thấy đất nước không thể tiếp tục chia cắt, ông đã phất cờ khởi nghĩa để thống nhất sơn hà. Ông chiêu mộ binh lính, dựa vào vùng đất hiểm yếu Hoa Lư làm căn cứ.
Với tài thao lược xuất chúng, ông lần lượt đánh bại các sứ quân. Chỉ trong khoảng hai năm (966-968), Đinh Bộ Lĩnh đã hoàn toàn dẹp yên Loạn 12 Sứ Quân, chấm dứt tình trạng cát cứ, mang lại hòa bình cho dân tộc. Người dân khâm phục, gọi ông là “Vạn Thắng Vương” (Vua của vạn chiến thắng).
Năm 968, sau khi thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đinh Tiên Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, và đóng đô tại Hoa Lư. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu sự ra đời của một quốc gia độc lập, tự chủ hoàn toàn sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc.
Triều đại nhà Đinh đã có những đóng góp lớn. Trong việc xây dựng bộ máy cai trị: Lần đầu tiên, triều đình phong kiến tập quyền ở Việt Nam được thiết lập. Vua cho đúc tiền đồng: Phát hành tiền Thái Bình Hưng Bảo để thúc đẩy kinh tế.
Đặc biệt, Đinh Tiên Hoàng là vị vua đầu tiên chính thức công nhận và đề cao vị trí của Phật giáo trong đời sống quốc gia. Ông phong cho Đại sư Khuông Việt làm Tăng Thống và là Quốc sư (người thầy của vua, cố vấn tối cao về Phật pháp và chính sự). Nhà vua cho phép và khuyến khích xây dựng nhiều chùa chiền và sửa sang các ngôi chùa cổ.
Các nhà sư được triều đình kính trọng và đóng vai trò quan trọng trong việc giáo hóa (dạy dỗ) dân chúng, góp phần ổn định xã hội sau loạn lạc. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của thời thơ ấu nương nhờ nhà chùa đã thấm nhuần vào chính sách cai trị của ông.
Nhưng sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng không kéo dài. Năm 979, ông cùng con trai trưởng là Đinh Liễn bị giết. Ngày nay, vua Đinh Tiên Hoàng được thờ cúng tại Đền thờ vua Đinh ở cố đô Hoa Lư, Ninh Bình, cùng với các vị vua và hoàng hậu khác, để tưởng nhớ về người anh hùng dân tộc, người đã khai sinh ra nước Đại Cồ Việt hùng mạnh.
…. o ….
- ĐINH TIÊN HOÀNG: THE FIRST KING TO APPOINT A SUPREME PATRIARCH OF VIETNAMESE BUDDHISM
Đinh Bộ Lĩnh was born in 924 in Đại Hoàng Village, in what is now Ninh Bình Province. He lived during a turbulent era following the decline of the Ngô dynasty, a period known as the Rebellion of the Twelve Warlords. His childhood was extraordinary. After his father died early, he and his mother went to live with his uncle. He often played war games with village children, who chose him as their leader—calling him “Đinh Bộ Chủ”—and used reeds as flags and spears. Even in youth, he displayed remarkable intelligence, leadership, and courage.
For a time, Đinh Bộ Lĩnh and his mother took refuge at Am Tiên Pagoda (located today in the Am Tiên grotto area of Hoa Lư). Am Tiên was not only a place of shelter but also where monks cared for and educated him. This period profoundly shaped his character and spiritual outlook. During those chaotic years, Buddhist temples served not only as places of worship but also as centers of culture, education, and refuge for the Vietnamese people. Thanks to the protection and guidance of the Buddhist community, Đinh Bộ Lĩnh was able to acquire knowledge and cultivate the resolve needed for his future achievements.
As he grew older, Đinh Bộ Lĩnh became a respected local leader. Recognizing that the country could not remain divided, he raised a banner of revolt to unify the land. He gathered troops and used the rugged terrain of Hoa Lư as his strategic base.
Through exceptional military strategy, he defeated the warlords one by one. Within only two years (966–968), Đinh Bộ Lĩnh completely ended the Rebellion of the Twelve Warlords, bringing peace to the nation. The people admired him deeply and called him “Vạn Thắng Vương”—the King of Ten Thousand Victories.
In 968, after unifying the country, Đinh Bộ Lĩnh ascended the throne, taking the title Đinh Tiên Hoàng Đế. He named the country Đại Cồ Việt and established the capital at Hoa Lư. This was a momentous event, marking the birth of an independent and fully sovereign Vietnamese state after more than a thousand years of Chinese domination.
The Đinh dynasty made significant contributions to state-building. It established Vietnam’s first centralized feudal monarchy. The king minted copper coins—Thái Bình Hưng Bảo—to stimulate economic activity.
Most notably, Đinh Tiên Hoàng was the first Vietnamese ruler to formally recognize and elevate the role of Buddhism in national life. He appointed the great master Khuông Việt as Tăng Thống (Supreme Patriarch) and Quốc sư (National Preceptor—the king’s spiritual teacher and highest advisor on Buddhist and state affairs). The king also permitted and encouraged the construction of new temples and the restoration of ancient ones.
Monks were held in high esteem by the court and played an important role in educating the populace, helping to stabilize society after years of turmoil. This reflects how deeply his childhood experience of refuge in the Buddhist community influenced his governance.
However, Đinh Tiên Hoàng’s reign was short-lived. In 979, he and his eldest son, Đinh Liễn, were assassinated. Today, King Đinh Tiên Hoàng is venerated at the Temple of King Đinh in the ancient capital of Hoa Lư, Ninh Bình, alongside other kings and queens, in honor of the national hero who founded the powerful state of Đại Cồ Việt.
…. o ….
- LÝ CÔNG UẨN: VỊ VUA SINH TRƯỞNG TRONG CHÙA
Lý Công Uẩn (về sau trở thành vua, lấy tên là vua Lý Thái Tổ) sinh năm 974. Theo sử sách, mẹ ông là Phạm Thị khi sinh ông tại chùa Cổ Pháp (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh). Vì hoàn cảnh khó khăn hoặc để bảo vệ con, bà đã gửi ông cho sư trụ trì nuôi dưỡng.
Từ thuở bé, Lý Công Uẩn đã được nuôi dạy trong chốn cửa Phật. Đây là một chi tiết vô cùng quan trọng trong cuộc đời ông. Trong những năm tháng sống tại chùa, ông được các vị cao tăng không chỉ nuôi lớn mà còn truyền dạy kiến thức Nho học và Phật học. Các chùa thời bấy giờ là những trung tâm giáo dục lớn nhất của đất nước.
Người thầy nổi tiếng nhất của ông là Đại sư Vạn Hạnh – một vị quốc sư tài giỏi, người không chỉ tinh thông Phật pháp mà còn có tầm nhìn chiến lược về chính trị và quân sự. Sống trong môi trường thanh tịnh nhưng lại là nơi tập trung của giới trí thức, Lý Công Uẩn đã học được lòng từ bi của Phật giáo, sự trung hiếu của Nho giáo, và đặc biệt là tài năng trị quốc từ các vị sư phụ của mình. Đại sư Vạn Hạnh đã sớm nhận ra khí chất đế vương của cậu bé Công Uẩn, tiên đoán rằng: “Người này lớn lên ắt sẽ làm chủ được thiên hạ”.
Dưới sự giới thiệu của Sư Vạn Hạnh, khi trưởng thành, Lý Công Uẩn bước ra khỏi cửa chùa và bắt đầu làm quan dưới triều vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Ông được vua Lê Đại Hành tin tưởng, ban cho chức Thập đạo Tướng quân và sau đó là Điện Tiền Chỉ Huy Sứ (chỉ huy cấm quân, bảo vệ kinh thành và hoàng cung).
Giữ chức vụ quan trọng này, Lý Công Uẩn có cơ hội rèn luyện tài thao lược và tạo dựng uy tín trong quân đội. Ông nổi tiếng là người nhân đức, công minh, được cả triều thần và binh lính kính trọng. Khi vua Lê Đại Hành băng hà, các con vua Lê tranh giành ngôi vị, dẫn đến bất ổn. Lý Công Uẩn đã hóa giải thành công cuộc binh biến, giữ vững kinh thành. Nhờ công lao này, ông càng được triều đình và dân chúng tin yêu.
Năm 1009, vua Lê Ngọa Triều (vua cuối cùng của nhà Tiền Lê) mất. Triều đình và nhân dân đã quá mệt mỏi với sự bạo ngược của nhà vua này. Các quan cấp cao trong triều đình đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua. Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lý Thái Tổ. Ngài là vị vua duy nhất tại Việt Nam sinh ra và trưởng thành trong một ngôi chùa, học chữ và Phật pháp trước khi ra đời làm quan.
Một công lao vĩ đại của Lý Thái Tổ chính là Dời Kinh Đô. Năm 1010, chỉ một năm sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã viết “Chiếu Dời Đô” (Thiên Đô Chiếu). Trong chiếu thư, ông chỉ rõ kinh đô Hoa Lư đã quá chật hẹp, hiểm trở, không phù hợp để phát triển đất nước lâu dài.
Ông quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La, nơi có địa thế “rồng cuộn hổ ngồi”, “tiện đường giao thông” và “thế đất thịnh vượng muôn đời”. Khi thuyền rồng của vua cập bến Đại La, ông thấy một con rồng vàng bay lên, nên đã quyết định đổi tên thành Thăng Long (Rồng bay lên). Việc dời đô mở ra một kỷ nguyên thịnh trị, ổn định của triều đại nhà Lý kéo dài hơn 200 năm. Thành Thăng Long bây giờ có tên là Hà Nội, từ đó trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất của đất nước.
Vua Lý Thái Tổ qua đời năm 1028. Ông là một vị vua nhân từ, khoan dung, đã đặt nền móng vững chắc cho một quốc gia độc lập và phát triển rực rỡ sau này. Ảnh hưởng của Phật giáo từ những năm tháng ở chùa đã giúp ông xây dựng một triều đại lấy lòng dân làm gốc.
…. o ….
- LÝ CÔNG UẨN: THE KING WHO WAS BORN AND RAISED IN A BUDDHIST TEMPLE
Lý Công Uẩn (later known as King Lý Thái Tổ) was born in 974. According to historical records, his mother, Lady Phạm Thị, gave birth to him at Cổ Pháp Pagoda (in present‑day Từ Sơn, Bắc Ninh). Due to hardship or perhaps to protect her child, she entrusted him to the abbot of the temple to be raised.
From early childhood, Lý Công Uẩn was nurtured and educated within the Buddhist monastic environment. This detail is profoundly significant in understanding his life. During his years in the temple, he was not only cared for by eminent monks but also taught both Confucian and Buddhist learning. At that time, temples were the most important educational centers in the country.
His most renowned teacher was the great master Vạn Hạnh, a brilliant national preceptor who possessed deep mastery of Buddhist doctrine as well as strategic insight in politics and military affairs. Growing up in a serene environment that was also a gathering place for scholars, Lý Công Uẩn absorbed the compassion of Buddhism, the loyalty and filial piety of Confucianism, and—most importantly—the principles of governance from his teachers. Master Vạn Hạnh recognized early on the regal bearing of the young Công Uẩn and predicted: “This child, when grown, will surely rule the realm.”
Through Master Vạn Hạnh’s recommendation, Lý Công Uẩn left the temple as a young man and began serving as an official under King Lê Đại Hành (Lê Hoàn). The king trusted him deeply, appointing him as Commander of the Ten Circuits and later as Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, the officer in charge of the imperial guards responsible for protecting the capital and royal palace.
In this crucial position, Lý Công Uẩn had the opportunity to develop his strategic abilities and build prestige within the military. He became known as a virtuous and just leader, respected by both officials and soldiers. When King Lê Đại Hành passed away, the princes fought over the throne, causing instability. Lý Công Uẩn successfully quelled the uprising and secured the capital. This achievement further strengthened the trust and admiration of both the court and the people.
In 1009, King Lê Ngọa Triều—the last ruler of the Early Lê dynasty—died. The court and the populace, exhausted by his tyranny, supported the elevation of Lý Công Uẩn to the throne. He ascended as Lý Thái Tổ. He remains the only Vietnamese king known to have been born and raised in a Buddhist temple, receiving his earliest education in literacy and Buddhist teachings before entering government service.
One of Lý Thái Tổ’s greatest accomplishments was the relocation of the capital. In 1010, just one year after his accession, he issued the Edict on the Transfer of the Capital (Chiếu Dời Đô). In this proclamation, he explained that Hoa Lư was too small and rugged, unsuitable for the long‑term development of the nation.
He decided to move the capital from Hoa Lư to Đại La, a site with “the coiled dragon and crouching tiger” geomantic configuration, advantageous transportation routes, and a terrain promising “prosperity for ten thousand generations.” When the royal barge arrived at Đại La, he witnessed a golden dragon rising into the sky, and thus renamed the new capital Thăng Long (“Rising Dragon”). This relocation inaugurated a long era of stability and prosperity under the Lý dynasty, which lasted more than two centuries. Thăng Long—now Hà Nội—became the foremost political, economic, and cultural center of the nation.
King Lý Thái Tổ passed away in 1028. He is remembered as a benevolent and tolerant ruler who laid the firm foundations for an independent and flourishing Vietnamese state. The influence of Buddhism from his formative years in the temple shaped his governance, enabling him to build a dynasty rooted in the welfare and trust of the people.
…. o ….
- TRẦN THÁI TÔNG: VỊ VUA TRỐN LÊN NÚI, XIN XUẤT GIA
Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông sau này) sinh năm 1218. Ông là cháu của Trần Thủ Độ, một nhân vật quyền lực nhất lúc bấy giờ. Năm 1225, Trần Thủ Độ đã thực hiện một cuộc thay đổi lịch sử: đưa cháu mình là Trần Cảnh kết hôn với Lý Chiêu Hoàng (vị nữ hoàng cuối cùng của nhà Lý). Sau đó, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng, chấm dứt triều đại nhà Lý và mở ra triều đại nhà Trần.
Trần Cảnh lên ngôi khi mới 8 tuổi, trở thành Trần Thái Tông. Việc lên ngôi đột ngột và sớm như vậy đã khiến vị vua trẻ gặp rất nhiều áp lực từ triều chính và đặc biệt là sự chi phối của người chú ruột, Thái sư Trần Thủ Độ.
Trần Thái Tông lớn lên trong sự thiếu tự do của một vị vua trẻ tuổi. Năm 1236, không vui với Trần Thủ Độ và các xung đột trong triều đình, Trần Thái Tông một đêm bí mật rời Thăng Long, lên núi Yên Tử, xin tu theo thiền sư Đạo Viên. Khi thiền sư hỏi ông có nhu cầu gì mà lên núi, nhà vua bày tỏ, “Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thạnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác”.
Sư Đạo Viên trả lời, “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.” Sau đó, Trần Thủ Độ đưa các quan lên núi Yên Tử năn nỉ Thái Tông trở lại kinh đô.
Sư Đạo Viên cũng khuyên rằng, “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ trở về, Bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển Phật giáo, mong Bệ hạ đừng xao lãng.”
Trần Thái Tông đã trở về kinh thành, biến cung điện thành nơi tu hành, và Phật giáo trở thành kim chỉ nam cho tư tưởng và chính sách của triều Trần. Trần Thái Tông không chỉ là một vị vua trị vì xuất sắc (đã lãnh đạo cả nước đánh thắng quân Mông Cổ trong cuộc chiến năm 1257-1258) mà còn là một thiền sư, học giả uyên thâm.
Trần Thái Tông là tác giả của nhiều bộ sách Phật giáo nổi tiếng, tiêu biểu là “Khóa Hư Lục”, ghi lại những điều căn bản về sự tu tập Thiền Tông. Ông đã đưa Phật giáo Thiền tông vào triều đình và dân gian, làm cho giáo lý nhà Phật trở nên gần gũi và thực tế hơn.
Dưới thời Trần Thái Tông, các chùa tiếp tục được xây dựng và mở rộng. Phật giáo được coi là quốc giáo, các vị cao tăng được trọng dụng và thường xuyên được mời vào triều đình cố vấn cho vua về chính sự. Đặc biệt, ông đã đặt nền móng cho việc phát triển Phái Thiền Trúc Lâm sau này (dưới thời Trần Nhân Tông), biến Yên Tử thành trung tâm của Phật giáo Việt Nam.
Trần Thái Tông là minh chứng cho thấy một người có thể vừa làm tròn trách nhiệm thế tục (làm vua, trị nước, đánh giặc) vừa giữ được tinh thần giác ngộ của nhà Phật. Ông đã kết hợp hài hòa giữa trí tuệ và từ bi trong cai trị, tạo nên một thời kỳ hưng thịnh rực rỡ cho Đại Việt. Ông qua đời năm 1277, để lại cho hậu thế một tấm gương sáng về một vị vua tài đức vẹn toàn, người đã tìm được sự thanh tịnh trong chính sự xô bồ.
…. o ….
- TRẦN THÁI TÔNG: THE KING WHO FLED TO THE MOUNTAIN TO SEEK ORDINATION
Trần Cảnh—later known as King Trần Thái Tông—was born in 1218. He was the nephew of Trần Thủ Độ, the most powerful political figure of the time. In 1225, Trần Thủ Độ orchestrated a historic transition: he arranged for his nephew Trần Cảnh to marry Lý Chiêu Hoàng, the last reigning queen of the Lý dynasty. Shortly afterward, Lý Chiêu Hoàng ceded the throne to her husband, bringing the Lý dynasty to an end and inaugurating the Trần dynasty.
Trần Cảnh ascended the throne at the age of eight, taking the title Trần Thái Tông. Such an abrupt and early enthronement placed immense pressure on the young king, especially under the strong influence and control of his uncle, Grand Chancellor Trần Thủ Độ.
Growing up, Trần Thái Tông lived with little personal freedom. In 1236, distressed by Trần Thủ Độ’s overbearing authority and the political conflicts within the court, he secretly left Thăng Long one night and fled to Mount Yên Tử, seeking to become a monk under Zen master Đạo Viên.
When the master asked what had brought him to the mountain, the king confessed: “I lost both parents at a young age and have stood alone before the people with no one to rely on. Reflecting on the rise and fall of past emperors, I see that prosperity and decline are never constant. Thus I have come to this mountain seeking only to become a Buddha, nothing else.”
Master Đạo Viên replied: “There is no Buddha to be found in the mountains; the Buddha is only within the mind. When the mind is still and aware, that is the True Buddha. If Your Majesty awakens to this mind, you become a Buddha instantly, without the need to search outside yourself.”
Soon after, Trần Thủ Độ led court officials up Mount Yên Tử to persuade the king to return to the capital. Master Đạo Viên also advised him: “One who rules over others must take the will of the people as his own will, and take the hearts of the people as his own heart. Now that the people wish to welcome Your Majesty back, how could you refuse to return? Yet in your study of the Buddhist teachings, I hope Your Majesty will not grow negligent.”
Trần Thái Tông returned to the capital and transformed the royal palace into a place of spiritual cultivation. Buddhism became the guiding compass for the thought and policies of the Trần dynasty. He was not only an outstanding ruler—who led Đại Việt to victory against the Mongol invasion of 1257–1258—but also a Zen master and a deeply learned scholar.
He authored several influential Buddhist works, most notably the Khóa Hư Lục, which records essential teachings on Zen practice. He brought Zen Buddhism into both the royal court and everyday life, making Buddhist teachings more accessible and practical for the people.
During his reign, temples continued to be built and expanded. Buddhism was regarded as the state religion, and eminent monks were highly respected, frequently invited to the court to advise the king on matters of governance. Most importantly, he laid the foundation for the later development of the Trúc Lâm Zen School under King Trần Nhân Tông, establishing Mount Yên Tử as the spiritual center of Vietnamese Buddhism.
Trần Thái Tông stands as a testament to the possibility of fulfilling worldly responsibilities—ruling a nation, administering government, defending the country—while maintaining the spirit of Buddhist awakening. He harmonized wisdom and compassion in governance, ushering in a flourishing and radiant era for Đại Việt. He passed away in 1277, leaving behind the enduring example of a virtuous and enlightened king who found inner peace amid the turbulence of worldly affairs.
…. o ….
- VUA TRẦN THÁI TÔNG ĐỀ CAO PHẬT GIÁO, KHỔNG GIÁO, VÀ NĂM GIỚI CẤM
Năm 1231, Trần Thái Tông hạ chiếu cho dựng tượng thờ Phật ở các quán trạm trong nước. Sử quan đời Lê-Trịnh là Ngô Thì Sĩ trong sách Việt sử tiêu án đã lý giải nguồn gốc của việc này rằng: “Tục nước ta: vì nắng bức, nên lập ra nhiều đình quán ở dọc đường cho hành khách nghỉ ngơi, tránh nắng. Khi Vua còn hàn vi, thường vào nghỉ ở một cái đình, có nhà sư bảo rằng: ‘Cậu bé này ngày sau phải đại quý’, nói rồi, không biết nhà sư ấy đi đâu mất, cho nên đến khi bấy giờ phàm chỗ nào có quán trạm đều tô vẽ tượng Phật”.
Hoàng đế Trần Thái Tông cũng có nhiều đóng góp cho sự lớn mạnh của nền giáo dục Nho giáo. Từ năm 1232, ông đã tổ chức các khoa thi Thái học sinh để tuyển nho sĩ giỏi ra giúp nước. Năm 1236, Thái Tông cho các nho sinh thi đỗ vào hầu vua, việc này sau trở thành lệ. Tháng 10 âm lịch cùng năm, ông lập Quốc tử viện làm nơi học của con em các quan.
Bên cạnh các sách ghi những lời dạy thâm sâu về Thiền Tông, vua Trần Thái Tông đưa ra lời dạy căn bản và phổ quát là dạy về năm giới cấm. Bài “Năm Giới” trong sách Khóa Hư Lục chính là lời căn dặn từ trái tim của vị vua này, dạy cho dân sống một cuộc đời an lạc và ý nghĩa.
- Giới Thứ Nhất: Cấm giết sinh vật. Trần Thái Tông viết rằng, tất cả chúng sinh, dù là loài nở từ trứng, từ thai, hay sinh ra từ ẩm ướt, từ hóa sinh, về bản chất đều biết nghe, biết thấy, biết hiểu. Do vậy, đừng nghĩ chúng khác mình! Ngày trước, có khi chúng là bạn bè, là anh em của chúng ta, nay vì nghiệp báo mà chúng khoác lên mình hình dáng khác—có con thành vảy cá, có con mọc cánh chim. Chúng sợ chết, tham sống đâu khác gì ta, nhưng lại không thể kêu một lời cầu xin đau khổ. Nếu ta giết nó, kiếp sau nó sẽ giết ta. Oan trái cứ thế chồng chất, đời đời kiếp kiếp không bao giờ dứt. Người trí tuệ thì quay đầu về làm thiện, kẻ mê muội cứ phóng tâm thì mãi chìm trong địa ngục. Giữ giới không giết sinh vật là thể hiện lòng từ bi, là nền tảng của mọi điều thiện.
- Giới Thứ Hai: Cấm trộm cắp. Vua Trần Thái Tông dạy rằng người biết nhân nghĩa là người quân tử, còn kẻ trộm cướp chỉ là tiểu nhân! Người quân tử ôm lòng cứu giúp kẻ khó khăn, nhưng kẻ tiểu nhân thì chỉ tham lấy tài sản người khác. Họ chỉ biết lợi ích cho mình, mặc kệ người khác trách cứ. Họ không hiểu rằng giàu sang là do phước đức kiếp trước và thiện nghiệp kiếp này. Vua nhấn mạnh rằng kẻ trộm cắp khi sống thì bị pháp luật trừng trị, khi chết thì rơi vào địa ngục, chịu khổ. Đừng vì cái lợi nhỏ của đời này mà phải trả giá bằng muôn phen kiếp ngựa trâu sau này. Hãy giữ sự liêm khiết tuyệt đối.
- Giới Thứ Ba: Cấm tà dâm. Lời vua dạy rằng cái đẹp của thân thể (như lưng ong, tóc mượt) dễ khiến tâm người say mê. Lụy vì sắc đẹp sẽ làm đạo đức tiêu tan. Vì quá phóng mắt đuổi theo cái đẹp bên ngoài, nên con người không chịu xoay đầu nhìn lại bên trong tâm mình. Hãy nhìn sự thật trần trụi: bên trong các tà áo lụa đẹp đẽ đó, bên trong chỉ là “một đãy da hôi thúi”, một làn da bọc thịt, sẽ bị hủy hoại sau khi chết. Người tu phải nhìn thẳng vào bản chất vô thường của sắc đẹp để tâm không bị dao động, giữ mình trong sạch.
- Giới Thứ Tư: Cấm nói dối. Vua dạy rằng tâm là gốc của mọi thiện ác, còn miệng là cửa của họa phúc. Nghĩ một niệm thì thế giới tương ưng hiển lộ, nói ra một lời thì bóng theo chẳng lệch. Người quân tử phải trọng lời nói như vàng. Nói ra phải ngay thẳng, công bằng, không được cong queo tà vạy. Đừng bao giờ khua môi múa lưỡi để nói đây hay kia dở, hay bàn mình phải người sai. Người nói dối sẽ bị người đời khinh rẻ. Sau khi chết, họ sẽ bị nghiệp kéo lôi xuống địa ngục, chịu hình phạt đau đớn. Phải giữ miệng gìn lời, luôn nói lời chân thật.
- Giới Thứ Năm: Cấm uống rượu. Người thích uống rượu thì đức hạnh sẽ suy kém và lời nói sẽ nhiều lỗi lầm. Trần Thái Tông viết rằng rượu làm rối loạn tinh thần, khiến tâm trí hôn mê. Người say có thể làm những điều tội lỗi nhất, thậm chí mắng chửi trời đất, hủy Phật chê tăng. Họ ồn ào nơi quán xá, say mèm ngoài đường, mất hết lễ nghi, phẩm giá.
Qua bản văn “Năm Giới”, Vua Trần Thái Tông đã thể hiện vai trò của một vị vua-thiền sư, dùng lời lẽ chân tình và sâu sắc để dạy dân về con đường sống thiện, giữ giới, đặt nền móng đạo đức vững chắc cho đất nước Đại Việt.
…. o ….
- TRẦN THÁI TÔNG: THE KING WHO PROMOTED BUDDHISM, CONFUCIANISM, AND THE FIVE PRECEPTS
In 1231, King Trần Thái Tông issued an edict ordering Buddhist statues to be installed at rest stations throughout the country. The Lê–Trịnh era historian Ngô Thì Sĩ, in his Việt Sử Tiêu Án, explained the origin of this practice:
“According to the customs of our land, because of the intense heat, many roadside pavilions were built for travelers to rest and escape the sun. When the King was still living in humble circumstances, he often rested at one such pavilion. A monk once told him, ‘This boy will one day attain great nobility,’ and then disappeared without a trace. Thus, when he later ascended the throne, every rest station was adorned with images of the Buddha.”
Emperor Trần Thái Tông also made significant contributions to the growth of Confucian education. Beginning in 1232, he organized examinations for Thái học sinh to recruit talented Confucian scholars for government service. In 1236, he instituted the practice of selecting successful candidates to serve in attendance at court—a custom that later became established tradition. In the tenth lunar month of the same year, he founded the Quốc Tử Viện, the national academy for the education of officials’ children.
Alongside his writings on profound Zen teachings, King Trần Thái Tông also offered universal and foundational moral instruction through his exposition of the Five Precepts. The essay The Five Precepts in the Khóa Hư Lục is a heartfelt admonition from the king, guiding the people toward a life of peace and meaning.
- The First Precept: Refraining from Taking Life
Trần Thái Tông wrote that all sentient beings—whether born from eggs, wombs, moisture, or transformation—possess the capacities of hearing, seeing, and understanding. Therefore, one must not think they are different from us. In past lives, they may have been our friends or siblings; now, due to karmic conditions, they bear different forms—some covered in fish scales, others with the wings of birds. They fear death and cling to life no differently than we do, yet they cannot utter a single plea for mercy. If we kill them, they will kill us in a future life. Thus, cycles of vengeance accumulate endlessly, life after life without cessation. The wise turn back toward goodness; the deluded let their minds run wild and sink into hellish realms. Upholding the precept of not killing is the expression of compassion and the foundation of all virtue.
- The Second Precept: Refraining from Stealing
The king taught that one who understands righteousness is a junzi—a noble person—while a thief is merely a petty person. The noble-hearted seek to help those in difficulty, whereas the petty-minded covet the possessions of others. They care only for their own gain, indifferent to reproach. They fail to understand that wealth arises from past merit and present good deeds. The king emphasized that thieves are punished by the law in this life and fall into hellish suffering after death. One must not trade the small gains of this lifetime for countless future rebirths as beasts of burden. Absolute integrity must be upheld.
- The Third Precept: Refraining from Sexual Misconduct
The king warned that physical beauty—slender waists, glossy hair—easily entangles the mind. Becoming ensnared by sensual desire leads to the collapse of moral virtue. Because people chase after external beauty, they refuse to turn inward and examine their own minds. One must see the stark truth: beneath the elegant silk garments lies “a foul bag of skin,” flesh destined to decay after death. Practitioners must contemplate the impermanence of beauty so that the mind remains undisturbed and purity is preserved.
- The Fourth Precept: Refraining from False Speech
The king taught that the mind is the root of all good and evil, while the mouth is the gate of fortune and misfortune. A single thought gives rise to a corresponding world; a single word casts a shadow that never misses its mark. A noble person values speech as if it were gold. Words must be upright and just, never twisted or deceitful. One must not wag the tongue to praise oneself and belittle others, nor argue right and wrong for personal gain. Liars are despised by society and, after death, dragged by their karma into hellish torment. One must guard the mouth and always speak the truth.
- The Fifth Precept: Refraining from Intoxicants
Those who indulge in alcohol diminish their virtue and commit many errors in speech. Trần Thái Tông wrote that alcohol disrupts clarity, plunging the mind into confusion. A drunk person may commit the gravest offenses—cursing heaven and earth, slandering the Buddha, insulting the Sangha. They cause disturbances in taverns, collapse drunkenly in the streets, and lose all sense of propriety and dignity.
Through The Five Precepts, King Trần Thái Tông embodied the role of a king–Zen master, using sincere and profound words to guide his people toward virtuous living and moral discipline, laying a firm ethical foundation for the nation of Đại Việt.
…. o ….
- TRẦN NHÂN TÔNG: VỊ VUA SÁNG LẬP DÒNG THIỀN TRÚC LÂM
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
Ngài tên húy là Trần Khâm, sinh năm 1258, ưa thích và tu theo Thiền tông từ thuở nhỏ. Năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử. Ngài cố từ để nhường lại cho em, mà vua cha không chịu. Một hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá, Ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trụ trì ở đây thấy Ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm thấy, Ngài bất đắc dĩ phải trở về.
Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279). Tuy làm vua, thường ngày, Ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập. Ngài thường ăn chay lạt thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do. Ngài trình thật với cha. Thánh Tông khóc bảo: “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự nghiệp của tổ tiên?” Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt.
Ngài thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời). Khi nhàn rỗi, Ngài mời các Thiền sư giải thích về Thiền. Bản thân ngài học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ Tuệ Trung.
Hai lần giặc phương Bắc sang quấy rối, Ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ đoàn kết toàn dân, Ngài đã hai lần (năm 1285, và năm 1288) đuổi được quân Nguyên, giữ gìn trọn vẹn đất nước. Dưới triều đại Ngài, hai cuộc hội nghị nổi tiếng được ghi vào sử sách là: hội nghị các tướng lãnh ở Bình Than, hội nghị những bô lão trong cả nước ở Diên Hồng để bàn mưu kế, tỏ quyết tâm chống giặc.
Giặc thua và bỏ chạy; các cuộc chiến kết thúc vớI quá nhiều sinh mạng hy sinh và thị trấn bị phá hủy. Phải mất nhiều năm mới tái thiết lạI đất nước. Năm Quí Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, Ngài sắp đặt việc xuất gia.
Năm 1299, Ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Từ năm 1304, Ngài du hành khắp nơi, khuyên dân tu hành thập thiện, truyền bá Thiền Tông, giảng Truyền Đăng Lục. Năm 1308, Ngài vào núi Yên Tử, lên ở am Tử Tiêu, chỉ cho vài đệ tử theo; thời gian ngắn sau, Ngài viên tịch.
Trần Nhân Tông sống chỉ nửa thế kỷ, nhưng dòng Thiền do ngài sáng lập bây giờ đã trở thành dòng Thiền lớn nhất ở Việt Nam, sau hơn bảy trăm năm phát triển. Cũng còn là một tác giả đa dạng, ngài đã để lại nhiều bài thơ Thiền và sách về giáo pháp nhà Phật từ đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ tương lai.
Điểm đặc biệt của Thiền phái Trúc Lâm là tinh thần “Phật tại tâm, không cần tìm đâu xa” và “Cư trần lạc đạo” (sống giữa đời thường mà vẫn vui với đạo). Điều này khuyến khích mọi người vừa làm tròn trách nhiệm với gia đình, đất nước, vừa tu tập, không cần phải hoàn toàn bỏ nhà cửa. Tư tưởng này rất phù hợp với bối cảnh xã hội Đại Việt thời bấy giờ, khi tinh thần độc lập và tự cường đang lên cao.
…. o ….
- TRẦN NHÂN TÔNG: THE KING WHO FOUNDED THE TRÚC LÂM ZEN SCHOOL
Many centuries ago, a Vietnamese king led the nation in repelling two Mongol invasions. Then, in 1293, this heroic monarch relinquished the throne, and a few years later became a monk, leaving behind a Zen legacy that continues to flourish today as the largest Buddhist tradition in Vietnam. His name was Trần Nhân Tông, the third king of the Trần dynasty and the founder of the Trúc Lâm Zen School.
His personal name was Trần Khâm. Born in 1258, he showed an early affinity for Zen practice. At the age of sixteen, he was appointed Crown Prince. He attempted to decline the position in favor of his younger brother, but his father refused. One night, he secretly climbed over the palace walls and fled toward Mount Yên Tử. At dawn, exhausted, he reached Tháp Temple on Mount Đông Cứu and lay down to rest inside the stupa. The abbot, noticing his extraordinary appearance, offered him a meal. When the king’s father learned of his disappearance, he sent officials to search for him; upon being found, the prince reluctantly returned to the palace.
At twenty-one, he ascended the throne (1279). Despite being king, he regularly visited Tư Phước Temple within the palace grounds to practice meditation. He often ate simple vegetarian meals and grew thin. King Thánh Tông, observing this, asked him why. The young king confessed his aspiration for spiritual cultivation. Thánh Tông wept and said, “I am old now and rely on you alone. If you live like this, how can you shoulder the legacy of our ancestors?” Hearing this, the prince also shed tears.
He was intelligent and diligent in study, mastering both the Buddhist canon and secular literature. In his leisure time, he invited Zen masters to explain the Dharma. He himself studied Zen under Tuệ Trung Thượng Sĩ.
When the northern invaders attacked twice, he set aside his scriptures to safeguard the nation. Through the unity of the people, he twice repelled the Mongol forces (in 1285 and 1288), preserving the integrity of the country. His reign is remembered for two historic assemblies: the council of generals at Bình Than and the gathering of elders from across the nation at Diên Hồng, where strategies were discussed and the collective resolve to resist the enemy was affirmed.
Although the invaders were defeated, the wars left countless casualties and devastated towns. It took many years to rebuild the country. In 1293, he abdicated in favor of his son, Trần Anh Tông, and became the Retired Emperor (Thái thượng hoàng). After six years guiding his son in governance, he prepared for monastic life.
In 1299, he renounced worldly affairs and entered monastic life on Mount Yên Tử. There, he practiced diligently in the austere dhūta tradition, adopting the monastic name Hương Vân Đại Đầu-đà (“Great Ascetic of the Fragrant Cloud”). Beginning in 1304, he traveled widely, encouraging the people to practice the Ten Wholesome Deeds, spreading Zen teachings, and lecturing on the Transmission of the Lamp lineage texts. In 1308, he returned to Mount Yên Tử, residing at Tử Tiêu Hermitage with only a few disciples. Not long afterward, he passed away.
Trần Nhân Tông lived only half a century, yet the Zen lineage he founded has grown over more than seven hundred years to become the largest Zen tradition in Vietnam. A prolific writer, he left behind numerous Zen poems and Buddhist treatises that have inspired generations.
A distinctive feature of the Trúc Lâm Zen School is its emphasis on the principles “The Buddha is in the mind; there is no need to seek afar” and “Dwelling in the world while delighting in the Way.” This teaching encourages people to fulfill their responsibilities to family and nation while cultivating the Dharma, without needing to abandon worldly life entirely. Such a vision resonated deeply with the spirit of independence and resilience that characterized Đại Việt during that era.
…. o ….
- TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ: SỐNG TRONG ĐỜI, VUI VỚI ĐẠO
Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) là một cư sĩ có nhiều vai trò quan trọng tại Việt Nam thế ký thứ mười ba: là một thống đốc, ngài là một trong các vị tướng nổi tiếng những người chỉ huy cuộc kháng chiến chống ba cuộc xâm lăng của Mông Cổ; là một cư sĩ, ngài sống một cuộc đời hòa lẫn với thiền định, thi ca và hào quang vương giả; và là một Thiền sư, ngài đã ảnh hưởng lớn đối với người sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm, một dòng thiền đã trở thành một phần của văn hóa Việt Nam. Pháp danh ngài là Tuệ Trung, nghĩa là Trí Tuệ Bên Trong. Danh hiệu ngài, trao tặng bởi Vua Trần Thánh Tông, là Thượng Sĩ, có nghĩa là Bậc Cao Tột.
Sinh năm 1230, được đặt tên là Trần Tung, Tuệ Trung là con trưởng của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương Trần Liễu. Những người chung quanh Tuệ Trung là những người quyền lực nhất Việt Nam thời đó. Vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho Thái Tử Trần Khảm, người theo học Thiền với Tuệ Trung và sau thường được biết với tên gọi là Vua Trần Nhân Tông, và là người về sau xuất gia và sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm. Tuệ Trung cũng là anh cả của Tướng Trần Hưng Đạo, vị anh hùng quốc gia được dân tộc Việt Nam thờ như một vị thánh uy quyền.
Từ thơ ấu, Tuệ Trung đã được khen là thông minh và dịu dàng. Giữ chức Thống Đốc Hồng Lô (bây giờ là tỉnh Hải Dương), ngài đã hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lược, và được thăng chức Tiết Độ Sứ trấn cửa biển Thái Bình.
Theo học Phật Giáo từ thuở nhỏ, ngài là người có những cơ duyên lớn. Sau nhiều lần tham vấn Thiền Sư Phước Đường Tiêu Dao, ngài lãnh hội được yếu chỉ, dốc lòng thờ làm thầy, và lấy thiền duyệt làm cái vui hàng ngày. Không ưa công danh, ngài lui về đất vua phong tặng, và đổi tên làng Tịnh Bang lại là làng Vạn Niên.
Ngài sống cuộc đời của một cư sĩ, hòa lẫn với dân thường, gieo hạt giống pháp, và dìu dắt các học nhân. Những người tới hỏi pháp ngài đều được chỉ chỗ cương yếu, và nói về những cách an tâm. Tuy nhiên, các giảng dạy của ngài lại rất độc đáo, linh động và khác lạ.
Vua Trần Thánh Tông, nghe đồn về các pháp thoại đầy thiền vị của ngài, đã gửi một sứ giả tới thỉnh ngài vào cung để thuyết pháp. Thiền Sư Cư sĩ Tuệ Trung tới, và giảng pháp với ngôn ngữ thâm sâu và giác ngộ. Vua mới tôn ngài là Sư Huynh, và cho ngài tước hiệu Thượng Sĩ.
Một hôm, Vua Trần Nhân Tông hỏi về yếu chỉ Thiền Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp, “Soi sáng lại chính nơi mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.”
Vua Trần Nhân Tông hốt nhiên hiểu được lối đi, và từ đó thờ ngài Tuệ Trung làm thầy.
Trong một bài thơ, Tuệ Trung Thượng Sĩ viết rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử, người tu phải tự thấy thân tâm mình như con trâu bùn, trâu đất. Khi bước đi, trâu bùn sẽ tan rã vào dòng sông. Đó cũng là lời dạy rằng người tu phải thường trực thấy thân tâm mình là vô ngã, vô thường.
Sinh năm 1230, và từ trần năm 1291, ngài chỉ có vài thập niên để sống cuộc đời của một đại tướng, một đại thi sĩ, và một đại Thiền sư; tuy nhiên, ảnh hưởng của ngài trên lịch sử Việt Nam cực kỳ lớn lao, và kéo dài nhiều thế kỷ.
…. o ….
- TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ: LIVING IN THE WORLD, DELIGHTING IN THE WAY
Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230–1291) was a lay practitioner who held many important roles in thirteenth‑century Vietnam: as a governor, he was among the renowned generals who led the resistance against all three Mongol invasions; as a layman, he lived a life interwoven with meditation, poetry, and the radiance of noble lineage; and as a Zen master, he profoundly influenced the founder of the Trúc Lâm Zen School, a tradition that later became an integral part of Vietnamese culture. His Dharma name, Tuệ Trung, means “Inner Wisdom.” His honorific title, bestowed by King Trần Thánh Tông, was Thượng Sĩ, meaning “The Exalted One.”
Born in 1230 and named Trần Tung, Tuệ Trung was the eldest son of Prince Trần Liễu (Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương). Those around him were among the most powerful figures in Vietnam at the time. King Trần Thánh Tông later abdicated in favor of Crown Prince Trần Khảm, who studied Zen under Tuệ Trung and would become known as King Trần Nhân Tông—the monarch who eventually renounced the throne and founded the Trúc Lâm Zen School. Tuệ Trung was also the elder brother of General Trần Hưng Đạo, the national hero venerated by the Vietnamese people as a mighty and sacred protector.
From childhood, Tuệ Trung was praised for his intelligence and gentle disposition. As Governor of Hồng Lô (present‑day Hải Dương Province), he twice repelled Mongol invasions and was later promoted to Military Commissioner of the Thái Bình coastal defense region.
Having studied Buddhism from a young age, he possessed exceptional karmic affinity. After many consultations with Zen Master Phước Đường Tiêu Dao, he grasped the essential teaching, devoted himself to the master, and took meditative joy as his daily nourishment. Disliking fame and official rank, he withdrew to the estate granted by the king and renamed the village of Tịnh Bang as Vạn Niên.
He lived the life of a lay practitioner, blending in with ordinary people, sowing seeds of Dharma, and guiding students. Those who came to seek instruction were shown the essential points and taught methods for calming the mind. Yet his teachings were remarkably unique, dynamic, and unconventional.
Hearing reports of his Dharma talks filled with Zen flavor, King Trần Thánh Tông sent an envoy to invite him to the palace to teach. The lay Zen master Tuệ Trung arrived and expounded the Dharma in profound, awakened language. The king honored him as “Elder Brother in the Dharma” and granted him the title Thượng Sĩ.
One day, King Trần Nhân Tông asked about the essential principle of Zen. Tuệ Trung Thượng Sĩ replied, “Illuminating your own mind is the fundamental task; it cannot be obtained from anywhere else.” The king suddenly understood the path and thereafter revered Tuệ Trung as his teacher.
In one poem, Tuệ Trung Thượng Sĩ wrote that to cross the river of birth and death, a practitioner must see body and mind as nothing more than a mud‑ox or clay‑ox. When it steps into the river, the mud‑ox dissolves into the flowing water. This is a teaching that one must constantly perceive body and mind as non‑self and impermanent.
…. o ….
- TỔ CÁY: TỪ BI VỚI CHÚNG SINH
Vào đời Hậu Lê, tại một ngôi làng nhỏ ở miền Bắc Việt Nam, có một cậu bé, sau này trở thành Viện Chủ chùa Hòe Nhai, Hà Nội, được mọi người kính trọng và gọi là Tổ Cáy. Ngay từ thơ ấu, Tổ Cáy đã có một điều rất đặc biệt: lòng thương yêu loài vật khác thường. Lòng từ bi đó không phải là thứ học được trong sách vở mà là tự nhiên có sẵn trong tâm hồn cậu.
Một buổi trưa, mẹ cậu đi chợ về, mua một rổ “cáy” (một loại cua nhỏ sống ở đồng ruộng) để làm thức ăn. Mẹ đặt rổ cáy gần nơi cậu đang nghỉ. Tiếng kêu của lũ cáy vang lên. Đó không phải là tiếng kêu rôm rả mà là một âm thanh rù rì, rủ rỉ, nghe như tiếng nỉ non của những người đang gặp nạn. Tâm cậu bé xúc động mạnh mẽ. Cậu không chịu nổi tiếng kêu đau thương đó. Không chần chừ, cậu mang cả rổ cáy ra đồng ruộng, cẩn thận đổ hết xuống nước để chúng được tự do bơi lội và sống sót. Khi mẹ phát hiện rổ cáy đã biến mất và hỏi, cậu bé tình thật thưa lại mọi chuyện.
Thời gian trôi qua, cậu bé xin phép mẹ xuất gia. Thấy con thiết tha, mẹ cậu cho cậu vào chùa tu. Một thời gian sau, nhà sư trẻ đi nhiều nơi để học Thiền. Suốt mấy chục năm, Tổ Cáy không về thăm quê. Trong khi đó, quê hương của cậu cũng đã trải qua biết bao tang thương dâu bể, vật đổi sao dời, không còn dấu vết ngày xưa. Với sự tu tập tinh tấn, cuối cùng, người tu sĩ đó đã trở thành một vị có tuổi đời và tuổi đạo cao, và được bổ làm Trụ trì một ngôi chùa lớn ở Hà Nội, đó là chùa Hòe Nhai.
Một hôm, Tổ Cáy có dịp đi qua thôn cũ. Dọc đường, ông thấy một cái chòi rách nát, có một bà cụ bán nước, cau trầu để kiếm sống qua ngày. Bước vào quán nước, chỉ một thoáng nhìn, Tổ Cáy đã nhận ra ngay bà cụ chính là mẹ đẻ của mình!
Tuy nhiên, Tổ vẫn làm như không quen biết. Ông điềm tĩnh hỏi thăm bà cụ về quê hương. Bà cụ cũng không hề nhận ra vị Sư trụ trì uy nghiêm đang đứng trước mặt là con trai mình. Tổ Cáy liền đưa ra một lời đề nghị đầy tình thương, “”Thưa cụ, một mình cụ ở đây đơn chiếc quá, không ai giúp đỡ. Hay là cụ về chùa tôi làm công quả (làm việc thiện để tích đức) thì hay biết mấy.”
Bà cụ mừng rỡ đồng ý. Thế là bà được Tổ đưa về chùa Hòe Nhai, nơi có Tăng chúng và Phật tử đông đúc. Về chùa, Tổ Cáy không hề nói cho ai biết bà cụ là mẹ mình. Ông âm thầm bố trí chỗ ở và giao việc cho bà cụ làm hằng ngày.
Công việc của bà cụ là nhổ cỏ trong sân chùa. Điều đặc biệt là mỗi ngày, Tổ Cáy đều dùng gậy khoanh một đám cỏ cho bà cụ nhổ, và tùy theo sức khỏe của mẹ, Tổ khoanh đám cỏ nhỏ lại dần. Đồng thời, Tổ khuyên mẹ vừa làm vừa niệm Phật thường xuyên.
Tổ đã dùng chính việc làm công quả này để giúp mẹ tu tập và tạo phước báu một cách kín đáo và trọn vẹn nhất. Năm tháng trôi qua, sức khỏe bà cụ suy yếu dần. Cho đến một buổi hoàng hôn, bà cụ đã từ giã cõi đời trong khuôn viên chùa, bên cạnh sự hộ niệm của chúng Tăng.
Lúc này, Tổ Cáy vẫn bình tĩnh, không lộ cảm xúc, lo liệu khâm liệm, tẩm liệm cho mẹ. Khi nắp quan tài từ từ khép lại, đứng trước linh cữu của mẹ mình, Tổ Cáy mới nói cho Tăng chúng và Phật tử biết rằng cụ bà nằm trong quan tài này chính là mẹ đẻ của Tổ! Mọi người vô cùng xúc động và rơi lệ.
Mọi người hiểu rằng, Tổ làm như vậy là vì Tổ muốn giữ tròn lòng từ bi của nhà Phật: không phô trương, không muốn mọi người biết để mẹ được bình đẳng như mọi Phật tử khác khi làm công quả. Tổ muốn mẹ ông tập trung tu tập (niệm Phật và nhổ cỏ), không bị tâm lý ỷ thị (ỷ lại vào con mình là trụ trì) làm xao nhãng. Từ đó, người đời sau đã gọi ngài là Tổ Cáy.
…. o ….
- PATRIARCH CÁY: COMPASSION FOR ALL BEINGS
During the Later Lê dynasty, in a small village in northern Vietnam, there lived a boy who would one day become the Abbot of Hòe Nhai Temple in Hà Nội, revered by all and affectionately known as Patriarch Cáy. From early childhood, he possessed an extraordinary quality: an unusual, innate love for living creatures. This compassion was not something learned from books; it arose naturally from the depths of his heart.
One noon, his mother returned from the market with a basket of cáy—tiny field crabs commonly used as food. She set the basket near where the boy was resting. The crabs made soft, rustling sounds—not loud or frantic, but a faint, murmuring cry, like the subdued lament of beings in distress. The boy’s heart was deeply moved. He could not bear the sound of their suffering. Without hesitation, he carried the entire basket out to the rice fields and gently released the crabs into the water so they could swim freely and live. When his mother discovered the basket was gone and asked about it, the boy honestly told her everything.
As time passed, the boy asked his mother for permission to become a monk. Seeing his sincerity, she allowed him to enter a monastery. After some years, the young monk traveled widely to study Zen. For several decades, Patriarch Cáy did not return to his native village. Meanwhile, his homeland had undergone countless upheavals—war, famine, shifting fortunes—until nothing remained of the old days. Through diligent practice, the monk eventually became a venerable elder in both age and attainment, and he was appointed Abbot of a major temple in Hà Nội: Hòe Nhai Temple.
One day, Patriarch Cáy happened to pass through his old village. Along the roadside, he saw a tattered hut where an elderly woman sold tea, betel, and areca to survive from day to day. Entering the humble stall, he recognized her instantly—she was his own mother.
Yet he acted as though they were strangers. Calmly, he asked her about the village. The old woman did not recognize that the dignified abbot standing before her was her son. With gentle compassion, Patriarch Cáy made a heartfelt suggestion: “Madam, you live here all alone with no one to help you. Why don’t you come to my temple and do công quả—meritorious work? It would be a much better life.”
The old woman gladly agreed. Patriarch Cáy brought her to Hòe Nhai Temple, where monks and lay devotees gathered in great numbers. At the temple, he told no one that she was his mother. Quietly, he arranged a place for her to stay and assigned her simple daily tasks.
Her work was to pull weeds in the temple courtyard. Each day, Patriarch Cáy would use his staff to draw a circle around a patch of grass for her to weed, adjusting the size according to her strength, making it smaller as she grew weaker. At the same time, he encouraged her to recite the Buddha’s name while she worked.
Through this humble labor, he skillfully guided his mother in cultivating merit and deepening her practice in the most discreet and complete way. As the years passed, her health gradually declined. One evening at sunset, she passed away peacefully within the temple grounds, surrounded by the chanting of the monastic community.
Even then, Patriarch Cáy remained composed, showing no outward emotion as he personally oversaw the washing, dressing, and encoffining of her body. Only when the coffin lid was about to close did he turn to the monks and lay devotees and reveal that the woman inside was his own mother. Everyone was deeply moved and wept.
They understood that he had acted this way to preserve the pure compassion of the Buddhist path: without display, without seeking recognition, ensuring that his mother was treated equally with all other devotees performing công quả. He wanted her to focus on practice—reciting the Buddha’s name and pulling weeds—without relying on the status of having a son who was the abbot. From then on, people called him Patriarch Cáy.
…. o ….
- NGÔ THÌ NHẬM: HẢI LƯỢNG THIỀN SƯ
Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), còn được nhớ tới tới trong lịch sử Thiền Tông là Hải Lượng Thiền Sư, sinh ra trong một gia đình khoa bảng danh tiếng ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội). Ông là người có văn tài lỗi lạc từ nhỏ, đỗ Tiến sĩ năm 1775 dưới triều vua Lê Cảnh Hưng. Sự nghiệp làm quan của ông khởi đầu khá thuận lợi. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới thời vua Lê – Chúa Trịnh, nhưng đây là thời kỳ đất nước vô cùng rối ren, phong kiến suy yếu và loạn lạc khắp nơi.
Chứng kiến sự mục nát của triều đình Lê-Trịnh, Ngô Thì Nhậm là một trong những người đầu tiên nhận ra tài năng và chí lớn của thủ lĩnh nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ. Ngô Thì Nhậm rời bỏ triều Lê, theo phò Nguyễn Huệ (sau này là Vua Quang Trung), và trở thành quân sư hàng đầu của Quang Trung.
Khi quân Thanh kéo 29 vạn quân sang xâm lược, chính Ngô Thì Nhậm đã đưa ra kế sách “tạm rút lui để bảo toàn lực lượng” và sau đó “tiến công thần tốc, bất ngờ” vào dịp Tết Kỷ Dậu (1789) đánh tan quân nhà Thanh.
Sau khi Vua Quang Trung băng hà (1792), triều Tây Sơn dần suy yếu. Ngô Thì Nhậm nhận thấy sự vô thường của chính sự và bản chất giả tạm của danh vọng. Ông quyết định rũ bỏ mọi chức tước, lui về chuyên tâm vào con đường tu hành. Ông lập thiền viện, soạn công án, trở thành Hải Lượng thiền sư. Từ một nhà nho nhiệt tín, một nhà chính trị nhiệt tín, ông trở thành đệ tứ tổ của Thiền tông Việt Nam. Ông đã hoàn thành một tác phẩm rgiá trị là Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (1796), nêu lên tông chỉ Thiền.
Năm 1802, sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn bị đánh bằng roi tại Văn Miếu năm 1803. Nhưng vì có mâu thuẫn trước đó với Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường đã cho người tẩm thuốc vào roi để đánh ông. Sau trận đánh đòn, về nhà, Ngô Thì Nhậm chết.
Đóng góp vĩ đại nhất của Ngô Thì Nhậm đối với Phật giáo chính là việc ông tổng hợp và hệ thống hóa tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm trong bộ sách: “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh” (Tông chỉ Trúc Lâm giải thích về cội nguồn cái được nghe).
Tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh viết rằng những ai vùng vằng chống chọi những cái được thấy hay cái được nghe là chưa hiểu đạo. Bởi vì thái độ cứ muốn cái được thấy và cái được nghe phải thế này hay phải thế kia đều là gây nghiệp sinh tử luân hồi. Sách này cũng viết rằng khi buông bỏ hết tính người thì tính trời hiển lộ: nghĩa là khi buông bỏ thân tâm, buông bỏ toàn bộ các pháp hữu vi (căn, trần, thức, uẩn, xứ, giới…) thì pháp vô vi (Niết bàn) sẽ hiển lộ. Lời dạy đó cũng là lời Đức Phật dạy rằng hãy buông bỏ cả ba thời, rằng đừng níu kéo quá khứ, đừng mơ tưởng tới tương lai, và đừng bám chấp hiện tại thì sẽ giải thoát.
…. o ….
- NGÔ THÌ NHẬM: ZEN MASTER HẢI LƯỢNG
Ngô Thì Nhậm (1746–1803), remembered in the history of Vietnamese Zen as Zen Master Hải Lượng, was born into a distinguished scholarly family in Tả Thanh Oai village (now part of Hà Nội). Gifted with exceptional literary talent from a young age, he earned the Doctorate degree (Tiến sĩ) in 1775 under King Lê Cảnh Hưng. His official career began auspiciously, and he held many important posts under the Lê kings and Trịnh lords—though this was a time when the country was deeply troubled, the feudal system weakened, and turmoil spread everywhere.
Witnessing the decay of the Lê–Trịnh court, Ngô Thì Nhậm was among the first to recognize the talent and great ambition of Nguyễn Huệ, leader of the Tây Sơn uprising. He left the Lê court to support Nguyễn Huệ—later Emperor Quang Trung—and became one of Quang Trung’s foremost strategists.
When the Qing dynasty sent 290,000 troops to invade Vietnam, it was Ngô Thì Nhậm who proposed the strategy of “temporary retreat to preserve strength,” followed by a “swift and unexpected counterattack” during the Lunar New Year of 1789. This plan led to the decisive victory that crushed the Qing forces.
After Emperor Quang Trung passed away in 1792, the Tây Sơn regime gradually declined. Seeing the impermanence of political affairs and the illusory nature of fame and rank, Ngô Thì Nhậm chose to abandon all titles and devote himself fully to spiritual cultivation. He established a meditation center, composed Zen koans, and became known as Zen Master Hải Lượng. From a devoted Confucian scholar and statesman, he transformed into the fourth patriarch of Vietnamese Zen. His most important work, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (1796), articulated the essential principles of the Trúc Lâm Zen tradition.
In 1802, after Emperor Gia Long destroyed the Tây Sơn dynasty, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, and several former Tây Sơn officials were publicly flogged at the Temple of Literature in 1803. Because of a prior personal conflict, Đặng Trần Thường ordered the use of poisoned whips against Ngô Thì Nhậm. After the beating, he returned home and died shortly thereafter.
Ngô Thì Nhậm’s greatest contribution to Vietnamese Buddhism was his synthesis and systematization of Trúc Lâm Zen thought in his work Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (“The Essential Principles of Trúc Lâm Zen School Explains the Origin of What Is Heard”).
In this text, he wrote that those who resist or struggle against what they see or hear have not yet understood the Way. The attitude of insisting that what is seen or heard must be this way or that way only perpetuates karmic cycles of birth and death. He also taught that when one relinquishes all human conditioning, the heavenly nature reveals itself; that is, when one lets go of body and mind—releasing all conditioned phenomena (the sense bases, sense objects, consciousness, aggregates, realms, elements)—the unconditioned (Nirvāṇa) naturally manifests.
This teaching echoes the Buddha’s instruction to abandon attachment to the three times: do not cling to the past, do not chase after the future, and do not grasp the present. In such letting go, liberation is found.
…. o ….
- NGUYỄN DU: NHÀ THƠ THIÊN TÀI
Nguyễn Du (1766–1820) sinh ra tại kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Ông là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” và tác phẩm Truyện Kiều của ông được xem là một kiệt tác văn học.
Trong thời đất nước điêu linh, gia tộc Nguyễn và bằng hữu chia nhiều phe – một phần theo phò nhà Lê, một phần theo nhà Tây Sơn dựng nghiệp, một phần theo Nguyễn Ánh, người sau này thống nhất đất nước và trở thành Vua Gia Long. Năm 1783, Nguyễn Du làm quan, giữ chức Trấn thủ Thái Nguyên. Năm 1787, sau trận chiến với quân Tây Sơn, Nguyễn Du đi giang hồ không nhà không cửa cùng Nguyễn Đại Lang, một người anh kết nghĩa sống chết có nhau.
Cuối năm 1787 Nguyễn Du sang Vân Nam (Trung Quốc), bị bệnh trong ba tháng xuân, sau đó Nguyễn Du xuất gia thành nhà sư Chí Hiên, để đi giang hồ đến Trường An và hẹn gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Trung Châu. Nguyễn Du trở thành nhà sư du tăng, đi nhờ các thuyền buôn không mất tiền, đêm trú lại một ngôi chùa trên đường đi, tụng Kinh Kim Cương làm công quả, ăn ngủ tại các chùa trên đường đi. Những năm tháng mặc áo nhà sư du hành là minh chứng rõ nhất cho sự bất mãn và cô đơn của Nguyễn Du, khi ông không tìm thấy chỗ đứng ở quê hương. Cuối năm 1790, Nguyễn Du trở về Thăng Long (Hà Nội).
Năm 1791, người anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh nổi dậy chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết. Dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền, Hà Tĩnh bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt cháy, phá hủy, làng Tiên Điền bị làm cỏ. Năm 1796, Nguyễn Du trốn vào Gia Định để theo quân đội chúa Nguyễn Ánh, nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An, sau án tù được tha về quê sống ẩn dật ở Tiên Điền.
Năm1802), vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Năm 1803, khi vua Gia Long ra Bắc, Nguyễn Du đem quân lương đi đón vua Gia Long, được vua phong chức tri huyện Phù Dung (nay là huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên), vài tháng sau được phong chức tri phủ Thường Tín (Hà Nội. Nhờ thời kỳ đi làm du tăng ở Trung Quốc, Nguyễn Du thông thạo các ngôn ngữ Trung Quốc, ông được đặc cách lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm 1813, ông được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh.
Giọng thơ Nguyễn Du bàng bạc chất buồn của một người sống thâm sâu với ý thức về Khổ Đế, nhiều lần bày tỏ ý muốn rời bỏ mọi thứ trên đời để xuất gia. Nỗi buồn sâu thẳm tới mức khi bệnh nặng, Nguyễn Du không uống thuốc, nói người nhà sờ vào tay chân xem; khi người thân nói lạnh rồi, Nguyễn Du chỉ nói, “Được” – và từ trần, không lời nào trăn trối để lại. Ông chết năm 1820, hưởng thọ 54 tuổi. Nguyễn Du được ca ngợi là nhà thơ thiên tài của Việt Nam.
Trong các tác phẩm Nguyễn Du để lại, có Truyện Kiều, được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam, viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát, gồm 3.254 câu.
Truyện Kiều không chỉ là câu chuyện về một cô gái tài sắc là Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha và trải qua 15 năm lưu lạc, mà còn là tiếng nói của Nguyễn Du về số phận con người trong xã hội phong kiến. Ông thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với những số phận nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ, những người bị xã hội chà đạp và phải chịu đựng nhiều gian nan.
Truyện Kiều được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, với ngôn ngữ trong sáng, tinh tế và giàu cảm xúc đến mức tuyệt vời. Truyện Kiều nêu bật tư tưởng Phật giáo về Khổ đế và về nghiệp.
Trải qua nhiều năm, Truyện Kiều đã trở thành một phần đời sống của dân tộc Việt. Người ta dùng Truyện Kiều để bói (mở ra bất kỳ đoạn nào trong Truyện Kiều để đoán tương lai), lẩy Kiều (chọn các câu thơ trong Truyện Kiều ghép lại để làm bài thơ mới), tranh Kiều (các họa sĩ vẽ minh họa các cảnh trong Truyện Kiều theo họa pháp riêng của họ).
Thêm nữa, tên của nhiều nhân vật trong Truyện Kiều cũng trở thành các nhân vật điển hìnhtrong ngôn ngữ đời thường, như:
– Nàng Kiều: chỉ người kỹ nữ có cuộc đời gian nan, đau khổ.
– Sở Khanh: chỉ người đàn ông phụ tình.
– Tú Bà: chỉ những người dùng phụ nữ để bán dâm, và thu lợi.
– Hoạn Thư: chỉ các phụ nữ có máu ghen thái quá.
– Từ Hải: chỉ những người đàn ông hào hiệp, giúp đỡ, biết tôn trọng phụ nữ bất kể họ ở trong nghề nghiệp nào.
…. o ….
- NGUYỄN DU: THE GENIUS POET
Nguyễn Du (1766–1820) was born in the imperial capital of Thăng Long (Hà Nội). He was a towering poet and cultural figure during the late Lê and early Nguyễn dynasties. The Vietnamese people revere him as the Great National Poet, and his masterpiece The Tale of Kiều is regarded as one of the greatest works in Vietnamese literature.
During a time of national turmoil, the Nguyễn family and their associates were divided into factions—some loyal to the Lê dynasty, some supporting the Tây Sơn uprising, and others following Nguyễn Ánh, who later unified the country and became Emperor Gia Long. In 1783, Nguyễn Du served as an official, holding the post of Military Governor of Thái Nguyên. In 1787, after a battle with Tây Sơn forces, he wandered homeless with Nguyễn Đại Lang, a sworn brother bound to him in life and death.
At the end of 1787, Nguyễn Du traveled to Yunnan (China), where he fell ill for three months in the spring. After recovering, he ordained as the monk Chí Hiên and continued his wandering journey to Chang’an, arranging to meet Nguyễn Đại Lang later in Zhongzhou. As a traveling monk, he boarded merchant boats without paying fare, spent nights in temples along the way, chanted the Diamond Sutra as meritorious work, and lived on the hospitality of monasteries. These years in monastic robes were the clearest testament to his disillusionment and loneliness, unable to find a place for himself in his homeland. At the end of 1790, Nguyễn Du returned to Thăng Long.
In 1791, Nguyễn Quýnh—Nguyễn Du’s half‑brother—rose in rebellion against the Tây Sơn and was captured and executed. The Nguyễn family estate in Tiên Điền, Hà Tĩnh, was burned and destroyed by Tây Sơn general Lê Văn Dụ, and the entire village was razed. In 1796, Nguyễn Du attempted to flee to Gia Định to join the forces of Nguyễn Ánh, but he was arrested by Marquis Nguyễn Thận and imprisoned for three months in Nghệ An. After his release, he returned to Tiên Điền to live in seclusion.
In 1802, Emperor Gia Long defeated the Tây Sơn. In 1803, when the emperor traveled north, Nguyễn Du brought provisions to welcome him and was appointed District Magistrate of Phù Dung (now Phù Cừ, Hưng Yên Province). A few months later, he was promoted to Prefect of Thường Tín (Hà Nội). Because of his years as a wandering monk in China, Nguyễn Du was fluent in Chinese languages, and he was specially assigned to the Nam Quan border gate to receive the Qing envoy who came to confer imperial investiture upon Gia Long. In 1813, he was appointed chief envoy to the Qing court.
Nguyễn Du’s poetic voice carries a pervasive melancholy, the sorrow of one deeply aware of the Buddhist truth of suffering. He often expressed a desire to renounce the world and enter monastic life. His sadness ran so deep that when he fell gravely ill, he refused medicine, asking his family only to touch his hands and feet; when they told him they had grown cold, he simply said, “Good,” and passed away without leaving any final words. He died in 1820 at the age of fifty‑four. Nguyễn Du is celebrated as one of Vietnam’s greatest literary geniuses.
Among his surviving works, The Tale of Kiều stands as the most famous narrative poem in Vietnamese literature. Written in chữ Nôm in the traditional lục bát (six‑eight) meter, it consists of 3,254 lines.
The Tale of Kiều is not merely the story of a talented and beautiful young woman, Thúy Kiều, who sells herself to save her father and endures fifteen years of hardship and wandering. It is also Nguyễn Du’s profound reflection on human fate under the feudal order. He expresses deep compassion for the vulnerable, especially women—those crushed by society and forced to endure endless suffering.
The poem’s language is luminous, refined, and emotionally resonant, elevating the lục bát form to unparalleled beauty. The Tale of Kiều highlights Buddhist themes of suffering (dukkha) and karma.
Over the centuries, The Tale of Kiều has become woven into the fabric of Vietnamese life. People use it for:
. Kiều divination — opening the book at random to seek guidance for the future.
. Kiều improvisation — selecting lines from The Tale of Kiều to compose new poems.
. Kiều painting — artists illustrating scenes from the poem in their own styles.
Moreover, the names of many characters have become archetypes in everyday Vietnamese speech:
. Nàng Kiều — a courtesan whose life is filled with hardship and sorrow.
. Sở Khanh — a deceitful, unfaithful man.
. Tú Bà — a woman who exploits other women for prostitution and profit.
. Hoạn Thư — a woman consumed by jealousy.
. Từ Hải — a chivalrous man who protects and respects women regardless of their circumstances.
…. o ….
- NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU: NHÀ THƠ CỦA ĐẠO LÝ
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), còn được gọi là cụ đồ Chiểu vì từng dạy học, là một nhà thơ lớn của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19. Cụ sinh tại Gia Định, nơi bây giờ TPHCM.
Năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu ra Huế (ở miền Trung) học để chờ khoa thi năm 1849. Cùng đi có em trai là Nguyễn Đình Tựu mới 10 tuổi. Năm 1848, mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ. Trên đường về Nam, Nguyễn Đình Chiểu bệnh nặng giữa đường, phải nghỉ ở Quảng Nam. Trong thời gian nghỉ chữa bệnh ở nhà một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết nhưng ông cũng đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh mù mắt, cửa nhà sa sút… Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851 thì mở trường dạy học và làm thuốc ở Bình Vi (Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên của ông có lẽ được bắt đầu sáng tác vào thời gian này.
Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng. Rồi tiếp theo, quân Pháp vào Nam đánh phá thành Gia Định vào đầu năm 1859. Sau khi tòa thành này thất thủ ngày 17 tháng 2 năm 1859, Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở Cần Giuộc, tức quê vợ ông. Năm 1862, ông và gia đình dọn về Bến Tre sau khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông. Năm 1863, em trai út ông là Nguyễn Đình Huân theo Đốc binh chống Pháp, hy sinh ở Cần Giuộc.
Nguyễn Đình Chiểu dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình ra phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt nhiều thập niên dù mắt đã mù lòa. Năm 1883, Tỉnh trưởng Bến Tre là Michel Ponchon đã đến nhà để yêu cầu ông nhuận chính quyển thơ Lục Vân Tiên, đồng thời ngỏ ý trao trả lại ruộng vườn của ông mà họ đã chiếm đoạt. Nguyễn Đình Chiểu khẳng khái nói: “Đất vua không ai trả thì đất riêng của tôi có sá gì”, rồi khước từ mọi hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền thực dân.
Nguyễn Đình Chiểu để lại nhiều sáng tác văn học, nhưng nổi tiếng nhất là Lục Vân Tiên, cuốn truyện thơ Nôm, gồm 2.082 câu thơ lục bát, đề cao tư tưởng Phật giáo. Truyện Lục Vân Tiên dạy về luật nhân quả, kêu gọi sống thiện và tránh ác, trung thành với đất nước, hiếu thảo với cha mẹ, và giữ giới hạnh cho trong sạch. Tóm lược truyện Lục Vân Tiên như sau.
Lục Vân Tiên là chàng trai văn võ song toàn. Trên đường xuống núi đi thi, chàng đánh tan bọn cướp Phong Lai cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm kích ân nhân, Nguyệt Nga nguyện giữ lòng chung thủy, tự vẽ hình chàng và luôn mang theo hình chàng bên mình. Bi kịch ập đến khi Vân Tiên nghe tin mẹ mất lúc sắp thi. Chàng bỏ thi về quê chịu tang, khóc thương mẹ đến mù cả hai mắt. Sau đó, chàng liên tiếp bị kẻ xấu hãm hại: Bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông (được gia đình ông Ngư cứu); Bị cha con Võ Công (cha vợ hứa hôn) bội ước, bỏ vào hang núi (được Thần và ông Tiều cứu). Cuối cùng, chàng gặp lại bạn cũ Hớn Minh và được đưa về rừng dưỡng bệnh.
Về phần Kiều Nguyệt Nga, vì cự tuyệt lời cầu hôn của con trai Thái sư nên bị bắt đi cống giặc Ô Qua. Nàng ôm tranh Vân Tiên nhảy sông tự tử nhưng được Phật Bà Quan Âm cứu, dạt vào nhà họ Bùi. Bị Bùi Kiệm ép duyên, nàng trốn vào rừng. Một bà lão dệt vải được Phật Bà Quan Âm báo mộng, ra bờ rừng đón Nguyệt Nga về nhà ẩn thân.
Lục Vân Tiên được thần cho thuốc nên mắt sáng lại. Chàng đi thi đỗ Trạng nguyên, được cử đi dẹp giặc và thắng trận. Trên đường về, chàng lạc vào rừng và tình cờ hội ngộ Kiều Nguyệt Nga. Kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được sum vầy hạnh phúc.
Tac giả Nguyễn Đình Chiểu đã quảng bá niềm tin Phật Bà Quan Âm cứu người gặp nguy khốn. Khi Nguyệt Nga nhảy xuống nước tự sát, được Phật Bà cứu lên, và dặn ráng chờ vài năm sau sẽ gặp lại chàng, các câu 1523-1528:
Quan-âm thương đấng thảo ngay,
Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa.
Dặn rằng: “Nàng hỡi Nguyệt Nga!
Tìm nơi nương náu cho qua tháng ngày.
Đôi ba năm nữa gần đây,
Vợ chồng sao cũng sum vầy một nơi”.
Trong các câu 1651-1656, Nguyễn Đình Chiểu kể rằng một cụ bà được Phật Bà Quan Âm báo mộng, dặn tới đón Nguyệt Nga nơi góc rừng về nhà. Trong câu 1665-1668, Vân Tiên vào chùa trú thân, nửa đêm được tiên hiện ra cho thuốc chữa bệnh mù, từ đó mắt sáng trở lại. Truyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm lớn, đã được dịch ra nhiều ngoại ngữ.
…. o ….
- NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU: THE POET OF MORAL VIRTUE
Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888), commonly known as Cụ Đồ Chiểu because he once worked as a village teacher, was one of the greatest poets of southern Vietnam in the latter half of the nineteenth century. He was born in Gia Định, in the area that is now Ho Chi Minh City.
In 1847, he traveled to Huế in central Vietnam to pursue his studies while waiting for the 1849 imperial examination. Accompanying him was his younger brother, Nguyễn Đình Tựu, who was only ten years old. In 1848, while he was still in Huế, his mother passed away in Gia Định. Upon receiving the news, he abandoned the examination and took his younger brother on foot back to the South to mourn her. During the journey, he fell gravely ill and had to stop in Quảng Nam. While recuperating in the home of a physician descended from the royal medical service, he did not fully recover, but he did learn the art of medicine. Soon after, he lost his eyesight, and his family fell into hardship. He remained in seclusion to observe the mourning period for his mother until 1851, when he opened a small school and began practicing medicine in Bình Vi (Gia Định). It was likely during this period that he began composing his verse narrative Lục Vân Tiên.
In 1858, French forces opened fire on Đà Nẵng. Soon after, they advanced southward and attacked the citadel of Gia Định in early 1859. When the citadel fell on February 17, 1859, Nguyễn Đình Chiểu moved his family to Cần Giuộc, his wife’s native village. In 1862, after the French seized the three eastern provinces of southern Vietnam, he and his family relocated to Bến Tre. In 1863, his youngest brother, Nguyễn Đình Huân, joined the anti-French resistance under a local commander and was killed in battle at Cần Giuộc.
Despite his blindness, Nguyễn Đình Chiểu continued to teach, practice medicine, and devote his patriotic pen to supporting the courageous resistance of the people of southern Vietnam for decades. In 1883, Michel Ponchon, the French-appointed provincial chief of Bến Tre, visited his home to request that he revise the text of Lục Vân Tiên and offered to return the lands that the colonial authorities had confiscated from him. Nguyễn Đình Chiểu firmly replied, “If no one returns the king’s land, what meaning is there in returning my private land?” He rejected all offers of assistance from the colonial administration.
Nguyễn Đình Chiểu left behind a substantial body of literary work, but his most celebrated creation is Lục Vân Tiên, a Nôm verse narrative of 2,082 lục bát lines that upholds Buddhist moral ideals. The story teaches the law of karmic causality, encourages virtuous living and the avoidance of wrongdoing, praises loyalty to the nation, filial devotion to parents, and the preservation of moral purity. Its plot may be summarized as follows.
Lục Vân Tiên is a young man accomplished in both literature and martial arts. On his way down the mountain to sit for the imperial examination, he defeats the bandit Phong Lai and rescues Kiều Nguyệt Nga. Grateful to her savior, Nguyệt Nga vows lifelong fidelity, paints his portrait, and keeps it close to her heart. Tragedy strikes when Vân Tiên learns that his mother has died just as he is about to take the examination. He abandons the exam to return home for mourning, weeping so intensely that he becomes blind. Thereafter, he suffers a series of betrayals: Trịnh Hâm deceives him and pushes him into a river (he is rescued by a fisherman’s family); Võ Công and his daughter—his betrothed—break their promise and abandon him in a mountain cave (he is saved by a deity and a woodcutter). Eventually, he meets his old friend Hớn Minh, who brings him into the forest to recover.
Meanwhile, Kiều Nguyệt Nga refuses the marriage proposal of the Grand Chancellor’s son and is forced to be sent as tribute to the Ô Qua invaders. Carrying Vân Tiên’s portrait, she throws herself into a river, but the Bodhisattva Avalokiteśvara (Bodhisattva Guanyin) rescues her and leaves her at the home of the Bùi family. When Bùi Kiệm attempts to force her into marriage, she flees into the forest. An elderly woman, having received a dream message from the Bodhisattva, goes to the forest’s edge to bring Nguyệt Nga home and shelter her.
A celestial being later gives Vân Tiên a miraculous medicine that restores his sight. He sits for the examination, earns the highest degree of Trạng nguyên, and is appointed to lead a military campaign, which he wins. On his return journey, he becomes lost in the forest and unexpectedly reunites with Kiều Nguyệt Nga. The wicked are punished, and the virtuous are joyfully reunited.
Nguyễn Đình Chiểu emphasizes the compassionate intervention of the Bodhisattva Avalokiteśvara in saving those in distress. When Nguyệt Nga leaps into the river to end her life, the Bodhisattva rescues her and instructs her to wait a few years before reuniting with Vân Tiên, as expressed in verses 1523–1528, that would be literally translated as follows:
The Bodhisattva Guanyin took pity on the virtuous woman
and left her in the flower garden.
She instructed her: “My dear Nguyet Nga!
Find a place of refuge to get through the months and days.
In a couple of years, husband and wife will be reunited.”
In verses 1651–1656, the poet recounts how an elderly woman receives a dream message from the Bodhisattva instructing her to go to the forest to find and shelter Nguyệt Nga. In verses 1665–1668, Vân Tiên takes refuge in a temple, where a celestial being appears at midnight and gives him medicine to cure his blindness. Lục Vân Tiên is a major literary work and has been translated into many foreign languages.