Art talk và sự trì hoãn của tri thức

Tobi Trần – Giám tuyển Độc lập

Trong đời sống nghệ thuật đương đại tại Việt Nam, art talk thường được nhìn nhận như một hình thức diễn ngôn phụ trợ cho triển lãm, một không gian đối thoại nhằm tạo nên tính mở của sự kiện nghệ thuật.

Tuy nhiên, khi chúng ta bắt đầu quan sát kỹ hơn thì có thể thấy hầu hết các art talk chỉ dừng lại ở mức độ trình diễn ngôn từ, nơi mọi phát biểu hiện hữu trong khoảnh khắc và ngay lập tức tan biến cùng với sự kết thúc của buổi trò chuyện. Điều gây ngạc nhiên và cũng đáng quan ngại là phần lớn các art talk không hề được nối dài bằng bất kỳ văn bản học thuật nào.

Sự thiếu vắng đó khiến cho giá trị tri thức vốn dĩ nên là cốt lõi lại bị trì hoãn và thậm chí bị triệt tiêu không dấu vết. Các bạn có thể dễ dàng kiểm chứng điều này bằng cách search các thông tin về các art talk đã diễn ra và hầu như sẽ đọc được cái recap sơ sài chủ yếu để cám ơn diễn giả và những người tham dự là chính, hoàn toàn không hề thấy gợi nhớ gì về học thuật liên quan đến triển lãm hay chính buổi art talk đó.

Vấn đề căn bản nằm ở chỗ giữa lời nói và chữ viết sẽ không cùng bản chất trong các buổi art talk. Lời nói cho phép sự uyển chuyển, mơ hồ và thậm chí là né tránh; nó có thể mang tính trình diễn hay gợi cảm xúc tức thì nhưng không buộc phải chịu trách nhiệm về lâu dài kể cả đó là chương trình live stream hay có ghi hình phát lại. Còn khi viết lại là một hành vi cam kết, văn bản có khả năng tồn tại vượt ra khỏi thời điểm phát ngôn và nó đặt người viết vào vị trí phải chịu sự phản biện, phải kiến tạo lập luận hay phải đưa ra chứng cứ cụ thể chi tiếtvà hệ thống hóa tư duy.

Bởi vậy có thể đưa ra một nhận định khá phủ phàng, khi một hệ sinh thái nghệ thuật lựa chọn cách “nói” thay cho “viết” thì nó sẽ đồng thời lựa chọn lấy sự tạm bợ thay cho sự bền vững.

Sự vắng bóng văn bản học thuật sau các art talk không chỉ đơn thuần là một thiếu sót về mặt tổ chức mà nó phơi bày một căn bệnh sâu xa của môi trường nghệ thuật đó là sự e dè trước cam kết về học thuật. Giới nghệ sĩ, giám tuyển, phê bình hay cả những người tổ chức dường như thoải mái trong vai trò người diễn thuyết, diễn giải nhưng lại lảng tránh nghĩa vụ kiến tạo tri thức một cách có hệ thống.

Chính từ điều đó, art talk trở thành một thứ nghi thức văn hóa trong các chiến dịch PR mà nói đùa vui đó là một màn kịch mang tính biểu diễn, nơi sự uyên bác được mô phỏng bằng giọng điệu và không khí của sự kiện mang tính quảng bá hay thương mại nhiều hơn là gợi mở thực sự các cánh cổng đi đến gần hơn các tác phẩm hay chính tác giả nên lại thường không được xác thực bằng văn bản học thuật. Chính ở điều này, art talk đã không còn là một công cụ mở rộng tri thức mà bị giản lược thành một dạng tiếp thị văn hóa để tạo ra ấn tượng truyền thông nhiều hơn là để lại di sản.

Hệ quả của điều này là sự trống rỗng trong ký ức học thuật, điều này hoàn toàn trái ngược với các thông lệ truyền thống quốc tế trong những hội thảo, symposium hay các cuộc tọa đàm luôn được kèm theo những ấn phẩm cho phép truyền đạt tư duy, tư tưởng và tranh luận không chỉ vang lên trong một thời khắc của art talk mà đi thẳng vào dòng chảy tri thức của nhiều thế hệ.

Ở Việt Nam chúng ta có thể thấy ngay, hầu hết art talk chỉ để lại những bức ảnh, một đoạn clip rời rạc hoặc những mẩu ký ức mơ hồ trong tâm trí của người tham dự. Tri thức được sản xuất tức thì và tiêu thụ tức thì mà không được lưu giữ đúng cách, đúng quy trình mà nó trở thành một dạng tiêu dùng văn hóa thay vì kiến tạo văn hóa thông qua báo cáo học thuật.

Vấn đề đáng nói hơn ở đây là tính “giả hàn lâm” của hiện tượng này khi art talk thường được dựng lên trong một khung cảnh trang trọng với tông giọng mang dáng dấp của học thuật nhưng thực tế nội dung lại thiếu hẳn sự khúc chiết, thiếu chiều sâu lý luận và quan trọng nhất là thiếu cơ chế bảo chứng qua văn bản.

Ở đây chúng ta được chứng kiến một trò chơi diễn ngôn, nơi mà mọi chủ thể cùng tham dự vào một sự giả ngôn khi nghệ sĩ và giám tuyển giả vờ chia sẻ và diễn giải như một học giả trong khi khán thì giả giả vờ tiếp nhận như một hoạt động tri thức và cả hai bên đồng thuận duy trì một sân khấu văn hóa nơi học thuật chỉ còn là một chiếc mặt nạ.

Khi đó art talk trở thành một biểu tượng của sự trì hoãn bao gồm trì hoãn việc viết, trì hoãn việc ghi chép và trì hoãn trách nhiệm với tri thức. Art talk lúc này không sản sinh ra di sản tư tưởng mà chỉ tạo ra một thứ ký ức ngắn hạn, một loại hứng khởi chóng tàn.

Trong ý nghĩa đó, art talk không còn là không gian học thuật mà chỉ là một nhánh của công nghiệp sự kiện văn hóa khi người ta dùng ngôn từ để trang trí cho triển lãm chứ không phải để kiến tạo sự hiểu biết.

Nói một cách trực diện, hiện tượng này phản ánh sự thiếu vắng lòng can đảm của giới nghệ thuật trước thử thách của các văn bản học thuật chính thức. Đó là nỗi sợ bị chất vấn trực tiếp, nỗi sợ phải xây dựng lập luận chặt chẽ về mặt học thuật, nỗi sợ bị lịch sử lưu lại dấu vết …trong khi học thuật đích thực đòi hỏi phải đối diện với tất cả những điều đó.

Việc art talk tại Việt Nam lại chọn con đường dễ dàng hơn khi biến tri thức thành một màn trình diễn tức thời, nơi mọi lời nói có thể bay đi mà không cần chịu bất kỳ hệ lụy nào. Chính điều đó đã làm cho art talk thay vì sẽ là một công cụ phát triển tư duy nghệ thuật thì lại trở thành một biểu hiện sống động nhất của sự trốn tránh học thuật trong đời sống nghệ thuật đương đại.

This entry was posted in Nghệ thuật and tagged . Bookmark the permalink.