Celebrity art: Từ hiện tượng đến phong trào trên thế giới và ảnh hưởng tại Việt Nam

Tobi Trần – Giám tuyển Độc lập

Nhiều năm qua khái niệm “Celebrity art” đã xuất hiện khá nhiều tại nhiều nước trên thế giới từ Mỹ sang Âu và từ Âu sang Á, chiếm sóng truyền thông giải trí một cách dày đặc để tạo ra những thành tựu thương mại lẫn giá trị nghệ thuật và cũng có những góc khuất cần được nhìn nhận đầy đủ.

Vậy thì “celebrity art” đó là gì ? Hiện tượng này đang diễn ra như thế nào trong những năm qua và có ảnh hưởng thế nào đối với Việt Nam. Liệu hình thức này có thể phát triển ở Việt Nam hay không ?

Trong thế giới nghệ thuật ngày nay, để phân biệt một tác phẩm chỉ là “sản phẩm của người nổi tiếng” hay là nghệ thuật có sức nặng thực sự chúng ta cần một số tiêu chí nền tảng như sau :

– Trước hết, tác phẩm phải xây dựng được ngôn ngữ hình họa hoặc ý tưởng độc lập, nhận diện được chứ không thể chỉ là bản sao của một phong cách vốn đã quen thuộc.

– Kế đó, bản thân quá trình thực hành sáng tác phải mang đến cho tác phẩm ý thức lý thuyết hoặc tư tưởng triết học, nghĩa là tác phẩm có một chiều sâu tư tưởng hơn là sự bắt chước hình thức.

– Thêm vào đó, tác phẩm cần tham gia vào cuộc đối thoại với lịch sử nghệ thuật, với hệ thống gallery, giới phê bình và các viện hay bảo tàng nghệ thuật để được cộng đồng nghệ thuật và giới chuyên môn cũng như thể chế nhìn nhận hoặc đánh giá.

– Cuối cùng, giá trị của tác phẩm phải xuất phát từ nội tại của chính tác phẩm chứ không chỉ đến từ cái danh tiếng của người tạo ra nó.

Nếu một dự án thiếu những yếu tố này thì nó sẽ thường được đọc như một sản phẩm giải trí hoặc thương mại được gắn với tên tuổi nổi tiếng hơn là một phát ngôn mỹ thuật có khả năng mở rộng diễn ngôn.

Trên thế giới những ngày gần đây trong năm 2025, ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi tiếng Ed Sheeran là ví dụ tiêu biểu cho cơ chế của celebrity art trên thế giới.

Tháng 07/2025, Sheeran tung ra bộ tác phẩm “Cosmic Carpark” với phong cách gợi nhớ đến action painting của Jackson Pollock và hợp tác cùng HENI, đơn vị từng vận hành các dự án của Damien Hirst.

Các bản in được bán với mức giá khoảng 900 bảng Anh và một phần lợi nhuận chuyển vào quỹ từ thiện. Sự kiện này được truyền thông quốc tế PR rất mạnh mẽ, báo chí mô tả rầm rộ như một “sự kiện nghệ thuật”. Tuy nhiên, giới phê bình nghệ thuật quốc tế chỉ ra rằng tranh của Sheeran tuy dễ nhận diện nhưng thiếu ngôn ngữ hội họa riêng và giá trị chính nằm ở tên tuổi của ca sĩ cùng chiến dịch từ thiện hơn là những đóng góp về mặt sáng tạo nghệ thuật.

Đây là một mô hình quen thuộc khi nghệ thuật vận hành như một sản phẩm giải trí được thị trường và các chiến dịch PR hợp thức hóa.

Một trường hợp khác là cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush. Năm 2017 khi ông xuất bản cuốn Portraits of Courage gồm những bức chân dung cựu binh Mỹ, báo chí Mỹ thừa nhận chất lượng tranh vẽ không hề tệ về kỹ thuật nhưng khá nhiều nhà phê bình cho rằng các tác phẩm chủ yếu phục vụ mục đích chính trị khi giúp tái định hình hình ảnh của cựu Tổng thống Bush cũng như làm dịu dư luận về di sản chiến tranh và tạo cảm giác nhân văn hơn cho một nhân vật gây nhiều tranh cãi.

Ở đây, nghệ thuật không được đọc như một hành vi sáng tạo tri thức mà như một công cụ phục hồi hình ảnh mang tính cá nhân hơn là tuyên ngôn nghệ thuật của cá nhân được tạo ra.

Nhưng, nếu so sánh với trường hợp của David Bowie sẽ cho thấy đâu là ngoại lệ thật sự. David Bowie vốn đã là một huyền thoại trong âm nhạc và có nền tảng nghệ thuật vững chắc, ông là một nhà sưu tập bài bản khi sở hữu bộ sưu tập quy mô từ Basquiat, Hirst cho tới Hockney và từng được bảo tàng uy tín như MoMA trưng bày.

Một số tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên thị trường mà còn được nghiên cứu trong giới học thuật. Trường hợp Bowie khẳng định rằng một người nổi tiếng hoàn toàn có thể là nghệ sĩ thị giác nghiêm túc nếu hội đủ điều kiện từ ngôn ngữ riêng, quá trình thực hành bền vững và được công nhận trong hệ thống bảo tàng, phê bình và thể chế nghệ thuật.

Cùng lúc đó, trường hợp của một ca sĩ – nhạc sĩ nổi tiếng khác là John Lennon khi ông để lại nhiều bản in và bản khắc xuất hiện trong các phiên đấu giá nhưng tính chất lại khác so với Bowie.

Dù các tác phẩm mang nhiều giá trị lưu niệm và được nhiều fan hâm mộ săn đón nhưng các tác phẩm này lại hiếm khi đạt giá trị cao như thị trường nghệ thuật quốc tế, điều này cho thấy phần lớn sức hút của tác phẩm đều đến từ thương hiệu của Lennon hơn là sự đột phá trong ngôn ngữ hội họa.

Từ các trường hợp quốc tế đó, chúng ta có thể nhận ra những cơ chế quen thuộc giúp celebrity art được thị trường hợp thức hóa khi hiệu ứng halo khiến công chúng mặc định rằng một ngôi sao thành công trong âm nhạc, điện ảnh thì cũng “giỏi” trong nghệ thuật thị giác.

Các gallery và nền tảng như HENI tận dụng các chiến dịch PR, mạng lưới nhà đấu giá và hoạt động từ thiện để biến sự kiện giải trí thành triển lãm nghệ thuật. Báo chí giải trí nhanh chóng nhân bản thông tin và đưa tin ở mục “nghệ thuật” mà thiếu phân tích chuyên môn, khiến công chúng tiếp nhận theo tỷ lệ và tần suất truyền thông nhiều hơn là theo giới phê bình hay nhìn nhận học thuật.

Tại Việt Nam, hiện tượng celebrity art vài năm cũng đã xuất hiện, chịu ảnh hưởng và cũng gây ra các tranh luận trên truyền thông nhưng trong giới phê bình thì hoàn toàn không có động tĩnh hay phản ứng gì.

Có những trường hợp rất đáng tôn trọng chẳng hạn diễn viên Hứa Vĩ Văn, một người từng học tại Đại học Mỹ thuật TP.HCM và tổ chức triển lãm cá nhân Vùng vênh vào tháng chín năm 2023. Hoạt động này, dù vẫn gắn với tên tuổi trong giới giải trí của anh nhưng yếu tố mấu chốt lại xuất phát từ nền tảng học thuật và có quá trình thực hành nghiêm túc của Hứa Vĩ Văn. Đây là một ví dụ cho thấy cần phân biệt rõ giữa “tay ngang” và nghệ sĩ có hồ sơ sáng tác thực sự.

Ngược lại, nhiều triển lãm của người nổi tiếng khác từ diễn viên, nhạc sĩ đến các nhà thơ – nhà văn được khán giả đón nhận chủ yếu vì tò mò, vì muốn “xem thần tượng làm gì” chứ ít đặt nặng vấn đề về chuyên môn. Báo chí truyền thông trong nước từng ghi nhận hiện tượng này và ra sức khen ngợi rất nhiều đồng thời coi đó như là một sự kiện mỹ thuật cho thấy xu hướng “đa nghề” ngày càng lan rộng nhưng không đồng nghĩa với chuẩn phê bình nghệ thuật có sự phát triển hay nâng cao.

Mình vẫn còn nhớ cách đây ít năm Việt Nam còn đối mặt với những vụ việc cụ thể liên quan đến thẩm định và kiểm chứng như việc triển lãm Điện Biên Phủ của Mai Duy Minh từng bị yêu cầu tạm dừng ngay trước khai mạc vào 05/2022 đã phản ánh khoảng trống trong khâu thẩm định và đối thoại chuyên môn hay trước đó vào năm 2016, dư luận cũng từng xôn xao về nghi vấn tranh giả trong một số triển lãm hay sự kiện đấu giá đã cho thấy vấn đề thiếu quy trình giám định và thiếu provenance chuẩn đã làm giảm niềm tin vào thị trường nghệ thuật Việt Nam như thế nào.

Tuy là có nhiều lý do đã tạo điều kiện cho “celebrity art” có thể diễn ra theo mô thức thị trường nhưng điểm nghẽn sâu xa nhất vẫn là khoảng trống phê bình. Nhìn một vòng hết cả Việt Nam chúng ta sẽ thấy đội ngũ lý luận phê bình ở Việt Nam vừa ít vừa yếu, vừa thiếu văn hóa phản biện lẫn văn minh tranh biện, tuyển sinh ngành phê bình mỹ thuật thì èo uột, thiếu lực lượng có tiếng nói uy tín thực sự để định hướng hay gợi mở về học thuật hay mỹ cảm cho cộng đồng nghệ thuật.

Khi vành đai kiểm chứng chuyên môn yếu, “celebrity art” dễ dàng lấp chỗ trống “real art” để trở thành tâm điểm truyền thông mà không gặp sức ép từ phản biện, từ giới phê bình cũng như sự im lặng từ chính những “giám tuyển hàng đầu”…

Hệ quả rõ ràng là khái niệm nghệ thuật bị kéo mỏng đi khi “ai cũng có thể làm họa sĩ” dẫn đến ranh giới về chuyên môn dần mất đi, thị trường thì méo mó và ưu tiên tên tuổi thay vì tiếng nói sáng tạo. Trong khi đó, nghệ sĩ chuyên nghiệp thì gặp việc cạnh tranh bất công từ hoạt động triển lãm, truyền thông cho đến cả giá trị thương mại lẫn nghệ thuật của tác phẩm trên “thị trường nghệ thuật” Việt Nam.

Truyền thông giải trí thì tiếp tục tung hô còn trách nhiệm phê bình thì bị giảm sút hoặc lặng thinh như vốn dĩ nó như vậy trong nhiều năm. Khi đó văn hóa nghệ thuật dễ rơi vào trạng thái vòng xoáy thương mại hóa một chiều, nơi công chúng được dẫn dắt bởi các hashtag truyền thông, chiến dịch PR và trending hợp thời hơn là trải nghiệm rộng về góc nhìn nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng.

Nói như thế nhưng “celebrity art” không nhất thiết phải là “rác”, trường hợp của David Bowie đã cho thấy có thể có ngoại lệ nhưng cơ chế khiến những tác phẩm thiếu giá trị nghệ thuật vẫn được lăng xê là quá phổ biến.

Tại Việt Nam, vấn đề này còn trầm trọng hơn bởi thiếu tiếng nói của phê bình, thiếu đánh giá của hội đồng thẩm định độc lập và lại chịu sự chi phối lớn của truyền thông giải trí.

Câu hỏi đặt ra là chúng ta cần làm gì, tham gia gì để “celebrity art” tại Việt Nam sẽ được đặt đúng vị trí khi là một sự kiện giải trí đáng chú ý hay là một đóng góp thực sự cho diễn ngôn nghệ thuật và sự phát triển đa dạng của nghệ sĩ lẫn các mô hình nghệ thuật hiện nay…

Ed Sheeran cùng các tác phẩm của mình

Tác phẩm của Ed Sheeran

Tác phẩm của Ed Sheeran

Hứa Vĩ Văn và tác phẩm

Một tác phẩm của Hứa Vĩ Văn

Hứa Vĩ Văn và tác phẩm

George W. Bush tại xưởng vẽ cùng tác phẩm

Tác phẩm của David Bowie

Tác phẩm của David Bowie

Tác phẩm của David Bowie

Tác phẩm của David Bowie

Tác phẩm của John Lennon

Tác phẩm của John Lennon

Tác phẩm của John Lennon

Tác phẩm của John Lennon, bản viết lời bài “Imagine” của Beatles.

Tác phẩm của John Lennon

 

This entry was posted in Nghệ thuật and tagged . Bookmark the permalink.