Lê Thanh Trường: Phát biểu nhận Giải Thơ – Giải Văn Việt lần thứ Mười Một

Lê Thanh Trường

1.

Tôi không biết như vậy là ít hay nhiều, những lần tôi nghĩ về thơ – hay những gì liên quan tới thơ.

Có lẽ nhiều hơn nhiều thứ khác. Bởi sau khi tự hỏi như vậy, tôi nhận ra mình đã nghĩ về thơ thường xuyên hơn những việc lẽ ra là “sát sườn” hơn trong cuộc sống.

Mặc dù vậy, không thể nói là tôi đã thủ đắc được gì nhiều nhặn qua những trận “tư lường” đó. Một trăm bận nghĩ về, tôi có hơn một trăm định nghĩa về thơ – và cuối cùng, không có câu trả lời nào khả dĩ thể hiện một quan niệm đầy đủ về thơ cả.

Có phần lớn ngày đời, tôi thức dậy với một ám ảnh tất nhiên: muốn viết một bài thơ. Cái ám ảnh đeo đẳng từng giây, cho tới khi ngày tàn, rồi lại thức dậy theo một ngày khác. Những giấc ngủ và bận bịu ngày thường không làm gián đoạn sự ám ảnh đó mà chỉ lấp liếm qua loa, cho tới khi nó tự tan đi hoặc đọng xuống thành một bằng chứng – một bài thơ.

Nhưng tôi không viết như một “thực hành nghề nghiệp”, tôi không coi những cơn ám ảnh dậm duộc kia là nghiệp dĩ – như cách người ta thường nói về.

Chỉ đơn giản là một lúc nào đó trong ngày, đặt tay xuống và gõ ra. Một chữ. Một câu. Một bài thơ.

Cái tên gọi “bài thơ” đơn thuần là một danh từ. Nếu có thể, tôi không gọi nó là gì cả. Đó chỉ là dấu vết của một trận cởi bỏ, hết mọi ấm ức, để phơi mình, khỏa thân trước trời trăng nắng gió của đời riêng chung vần vụ.

Như một lần chảy mình thành dòng nước, róc rách hay ầm ào mà lượn qua từng chướng ngại mà tiếp tục đi tới. Tới một cùng đích nào chưa thấy, hay chỉ tới khỏi cái chỗ đời đang ngưng đọng!

Tôi viết những bài thơ như cách tự tả mình. Từng nghĩ rằng, không nhất thiết phải tường trình thành lời, những gì ở trong mình đây. Nhưng tôi biết, một khi chưa giãi bày thành chữ thành câu trên trang giấy, những bài thơ sẽ còn xoi đục đòi thoát thai, không để tôi yên. Rồi khi chúng đã hiện diện, chúng trở nên độc lập với tôi.

Chúng đứng ra giữa trời đất, nói to hay thầm thì bằng dáng vẻ riêng chúng, lúc ấy tôi hầu như không còn quyền năng gì với chúng nữa.

Tôi chỉ có thể yêu, hoặc có khi chán ngấy chúng mà khôn bề thoái thác.

3.

Tôi bày thơ lên trước mặt mọi người, có thể do cái ý hướng mong mỏi tri âm. Nhu cầu bày tỏ, nhu cầu được lắng nghe, được hiểu…, cách nào đó đã “đánh lận” vào trong động tác “viết ra”. Một nhu cầu thuộc về bản năng xã hội mà tôi dầu không cố tình o bế, vẫn không thể ruồng rẫy.

Tôi có thể nhìn việc đó bằng con mắt lạnh lùng để thấy đàng sau mỗi sự trình bày đó, là tiếng kêu gọi sự tiếp nhận. Được thừa nhận không phải là nhu cầu danh dự, mà là nỗi ao ước chan hòa với người ta thiên hạ.

Nghĩ về những bài thơ và độc giả của chúng, chính là nắm lấy những mối dây cảm thông có thể có được, để cảm thấy mình đang sống với. Mình hiện diện. Mình được hiểu. Mình thuộc về. Mình ở giữa nhân quần…

Tôi không thể tránh né và cũng không muốn tránh né điều đó.

Vì vậy hôm nay, sự ghi nhận từ Ban Xét giải Văn Việt, đối với tôi là một tiếng vang hồi đáp cho tất cả những niệm âm thầm tôi đã buông vào trong thơ.

Điều đó thực sự có ý nghĩa rộng lớn hơn một giải thưởng, một tên gọi.

Tôi rất biết ơn!

L. T. T.

This entry was posted in Phát biểu nhận giải Văn Việt, Số đặc biệt and tagged . Bookmark the permalink.