Tino Cao

Những ngày tháng Tư hàng năm vẫn là thời điểm khơi dậy trở lại nhiều cảm xúc sâu sắc và phức tạp trong một bộ phận người Việt sống ở hải ngoại, đặc biệt nơi tập trung nhiều người đã rời Việt Nam trong hoặc sau biến cố tháng Tư năm 1975, từ những người di tản vào thời điểm chiến tranh kết thúc, những thuyền nhân vượt biển trong các năm sau đó, cho đến những người sang Mĩ theo diện H.O. trong nhiều năm tiếp theo. Đối với họ, ngày 30 tháng Tư không chỉ là một mốc lịch sử được ghi nhận trong niên biểu chính trị của một quốc gia. Nó còn là một vết cắt tinh thần, một kí hiệu tập thể của tan rã, chia lìa, mất mát và đứt đoạn. Trong kí ức của nhiều người, đó là ngày mà thể chế quốc gia của họ bị sụp đổ, một thế giới quen thuộc của họ biến mất, và cùng với nó là cảm giác phần đời trước đó của họ bỗng nhiên không còn chỗ đứng trong lịch sử nữa. Chính vì vậy, nếu chỉ nhìn thái độ phê phán dai dẳng của một bộ phận người Việt hải ngoại đối với chính quyền Việt Nam hiện nay như một biểu hiện của bảo thủ chính trị hay hận thù vô cớ, thì cách nhìn ấy sẽ bỏ qua một khía cạnh quan trọng của vấn đề, nơi lịch sử, tâm lí, kí ức tập thể, căn tính lưu vong và kinh nghiệm di dân đan cài vào nhau một cách phức tạp.
Đã năm mươi mốt năm kể từ khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, những hình ảnh của các cuộc di tản vội vã, những chiếc trực thăng cất cánh khỏi nóc nhà, những gia đình li tán, những con thuyền mong manh lênh đênh trên biển, những trại tị nạn ở Đông Nam Á, những năm tháng bắt đầu trở lại từ con số zero trên đất lạ trong thiếu thốn và bất định, vẫn chưa hề bị xóa nhòa khỏi tâm thức của nhiều người Việt lưu vong. Thời gian đã trôi qua rất lâu, nhưng trong trường hợp này, độ dài của thời gian không đồng nghĩa với sự quên lãng. Có những biến cố lịch sử không lùi hẳn vào quá khứ theo quy luật vận động thông thường của trí nhớ. Trái lại, chúng tiếp tục tồn tại như một điểm quy chiếu trung tâm, chi phối cách thức cá nhân và cộng đồng dùng để diễn giải về đời sống của họ. Điều đó đặc biệt đúng với những cộng đồng được hình thành trực tiếp từ chấn thương lịch sử. Với nhiều người Việt ra đi sau năm 1975, cuộc chiến không phải đã kết thúc ở thời điểm súng ngừng nổ. Nó tiếp tục kéo dài dưới hình thức khác, trong kí ức, trong diễn ngôn, trong nghi thức tưởng niệm, trong cách định nghĩa và định danh biến cố, trong việc giữ gìn biểu tượng và ngôn ngữ xưa cũ, và cả trong thái độ chính trị đối với một nhà nước chính danh đại diện cho một trật tự thay thế cái trật tự mà họ từng thuộc về.
Sự phê phán đối với chính quyền Việt Nam vẫn thường xuất hiện trong một bộ phận cộng đồng người Việt ở Mĩ. Ở đó lắng lại một kinh nghiệm “mất nước” theo nghĩa tinh thần, kéo theo sự đổ vỡ của hệ quy chiếu từng giúp họ hiểu đời mình có ý nghĩa gì. Với nhiều quân nhân, công chức, trí thức, giáo chức, viên chức hay người dân miền Nam trước 1975, sự tan rã của Việt Nam Cộng Hòa không chỉ làm đảo lộn điều kiện sinh tồn mà còn làm đổ vỡ toàn bộ nền tảng để họ xác định vị trí của mình trong xã hội. Từ một đời sống có trật tự, có danh xưng, có tương lai, họ bị đẩy vào tình thế lưu lạc, vô định, thậm chí bị xem như những người bị lịch sử gạt ra ngoài lề. Khi một con người mất đi cùng lúc quê hương, địa vị xã hội, hệ giá trị và ngôn ngữ chính trị từng nâng đỡ mình thì chấn thương đó không thể được quy giản thành một thái độ cảm tính nhất thời. Tôi tin rằng đó là một biến cố hiện sinh theo đúng nghĩa sâu sắc nhất của từ này.
Trong bối cảnh ấy, việc một bộ phận người Việt hải ngoại tiếp tục phê phán chính quyền trong nước có thể được hiểu như một cách giữ lại phần ý nghĩa của đời sống đã bị đứt gãy sau biến cố 1975. Việc tiếp tục chống cộng, tiếp tục nhắc đến tháng Tư đen, tiếp tục gắn bó với lá cờ vàng ba sọc đỏ, với nhiều người, không chỉ là lựa chọn lập trường mà còn là cách để giữ cho kí ức về chính mình không bị phai nhạt. Khi quá khứ bị cắt lìa bởi những vết thương quá sâu, con người thường tìm đến biểu tượng như một điểm tựa để duy trì căn tính. Chính vì vậy, những gì từ bên ngoài có thể bị xem là cực đoan, cố chấp hoặc lạc hậu, từ bên trong nhiều khi lại là một phương thức sinh tồn tinh thần. Không phải ngẫu nhiên mà trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt ở thế hệ ra đi từ những ngày cuối tháng Tư năm 1975, các biểu tượng chính trị thường mang cường độ tình cảm mạnh hơn rất nhiều so với những tranh luận chính trị thông thường. Chúng không chỉ đại diện cho một lựa chọn về thể chế, chúng thực sự mang vác một sức nặng kí ức về gia đình, về chiến tranh, về tù cải tạo, về biển cả, về cái chết bi thảm giữa đại dương, về li tán, về những năm tháng khởi đầu đầy tủi nhục trên đất lạ xứ người.
Ở đây cần nhấn mạnh thêm một điểm quan trọng. Chấn thương của người Việt ra đi sau năm 1975 không chỉ là chấn thương của chiến bại mà còn là chấn thương của lưu đày. Người ra đi không chỉ mất một chính quyền mà còn mất luôn quyền ở lại nơi mình từng sống như một người bình thường. Nhiều người đã rời quê hương trong tình trạng bị truy bức, bị tước đoạt, bị đẩy vào hành trình sống còn. Những người vượt biển đối diện với đói khát, bão tố, cướp biển, hãm hiếp, mất tích, chết chìm. Những người vào trại cải tạo, hoặc có thân nhân bị bắt cải tạo, mà thực chất là những người tù không án, mang theo một kí ức khác, sâu sắc và dai dẳng. Những người sang Mĩ theo diện H.O. nhiều năm sau đó mang theo một quãng đời bị kéo dài trong tình trạng chờ đợi, tương lai gần như bị đóng băng. Những kinh nghiệm ấy khác nhau, nhưng gặp nhau ở một điểm: chúng kéo dài biến cố 1975 thành một thực tại tiếp diễn thay vì một cột mốc đã khép lại. Vì thế, tháng Tư không chỉ thuộc về quá khứ. Nó là một cánh cửa của hiện tại mà mỗi năm cộng đồng người lưu vong lại đi ngang qua và buộc phải nhìn vào căn phòng tối của quá khứ ấy.
Tuy nhiên, nếu chỉ giải thích thái độ phê phán kéo dài bằng chấn thương lịch sử thì vẫn chưa đủ. Vấn đề còn nằm ở chỗ chấn thương này đã được cộng đồng hóa và thể chế hóa ra sao. Bởi kí ức của một cộng đồng không tồn tại như kí ức rời rạc của từng cá nhân. Nó được tổ chức, lặp lại, chọn lọc, nghi lễ hóa và truyền đạt qua gia đình, đoàn thể, nhà thờ, chùa chiền, truyền thông cộng đồng, trường Việt ngữ, sinh hoạt tưởng niệm, văn nghệ đấu tranh, báo chí và các tổ chức chính trị xã hội. Chính qua những thiết chế ấy, biến cố 30 tháng Tư được giữ lại không chỉ như một sự kiện đã qua mà như một trục xoay của bản sắc tập thể. Kí ức tập thể vì thế không chỉ là sự nhớ lại. Nó chính là một cơ chế tạo sinh ý nghĩa. Nó xác định ai là người trong cộng đồng, đâu là ranh giới giữa ta và họ, kí ức nào được giữ, câu chuyện nào được kể, biểu tượng nào được tôn vinh, và thái độ nào được xem là chính đáng.
Ở đây, xuất hiện một hệ quả nữa. Khi kí ức đã được tổ chức thành một hệ thống tương đối khép kín, nó có xu hướng tự bảo vệ bằng phản ứng quyết liệt với những cách diễn giải khác ngoài mong đợi. Một bộ phận trong cộng đồng vì thế hình thành một trạng thái phòng thủ kéo dài, những thông tin, những thay đổi từ trong nước, hoặc những cách hiểu khác về lịch sử… thường bị tiếp nhận với sự nghi ngờ mặc định. Theo thời gian, phản xạ này có thể tạo ra ấn tượng về sự bảo thủ, thậm chí lạc hậu, của một bộ phận người Việt lưu vong. Điều cần lưu ý là tính bảo thủ ấy không phải tự nhiên mà có, nó là hệ quả của một cấu trúc kí ức đã được củng cố quá lâu và quá chặt, đến mức mọi điều chỉnh về quan điểm và thái độ đều rất khó khăn.
Khi một kí ức bước vào trạng thái được chuẩn hóa bởi cộng đồng, việc chất vấn hay điều chỉnh nó trở nên đặc biệt khó khăn. Không phải vì kí ức ấy bất biến về bản chất mà vì nó gắn với đạo lí tưởng niệm và nghĩa vụ trung thành đối với những người đã mất, những người đã hi sinh, những người đã chịu đựng. Trong hoàn cảnh đó, thay đổi quan điểm không còn là một động tác nhận thức đơn giản mà dễ bị hiểu như một sự phản bội tinh thần. Điều này giúp lí giải tại sao trong nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt ở các địa bàn đông người Việt như California, ngôn ngữ chính trị quanh tháng Tư thường mang sắc thái rất quyết liệt. Đằng sau ngôn ngữ ấy không chỉ có ý thức hệ mà còn có đạo lí gắn với kí ức. Một lập trường đôi khi được giữ không chỉ vì nó đúng hay sai về mặt chính trị mà vì từ bỏ nó đồng nghĩa với việc chấp nhận rằng những đau đớn trong quá khứ không còn giữ địa vị trung tâm nữa. Mà đó lại là điều nhiều người Việt lưu vong chưa thể hoặc chưa muốn làm.
Bên cạnh lịch sử và kí ức, còn có một yếu tố khác rất đáng chú ý: kinh nghiệm tồn tại của cộng đồng Việt lưu vong trong xã hội Mĩ. Người Việt đến Mĩ không phải là bước vào một khoảng không vô định. Họ bước vào một xã hội đã có sẵn các cấu trúc thể chế bao gồm cả chủng tộc, chính trị, kinh tế và văn hóa, trong đó mỗi cộng đồng di dân đều phải tìm cách xác lập sự hiện diện hợp pháp và có ý nghĩa cho mình. Đối với người Việt tị nạn, câu chuyện về việc ra đi vì tự do, vì chạy trốn cộng sản, vì không thể sống dưới chế độ mới, không chỉ là sự thật lịch sử của nhiều người, mà còn là nền tảng để họ xác lập căn tính trước xã hội Mĩ. Trong cách nhìn ấy, việc chống cộng không chỉ nhắm về Việt Nam mà còn là một phần trong cách họ tự trình bày mình trước nước Mĩ, với tư cách là những người đã chọn tự do, đã trả giá cho tự do và xứng đáng được tiếp nhận. Nói cách khác, kí ức chính trị của cộng đồng không chỉ có đối tượng là quá khứ quê nhà mà còn có chức năng xã hội ngay tại nơi định cư.
Điều này dẫn tới một nghịch lí quan trọng. Chính những yếu tố giúp cộng đồng gắn kết và tồn tại lại có thể làm họ khó thích ứng với những thay đổi của hiện thực mới. Khi Việt Nam sau Đổi Mới từng hội nhập kinh tế quốc tế, khi quan hệ Việt Nam và Hoa Kì được bình thường hóa, khi những chuyến thăm quê hương trở nên phổ biến, khi dòng đầu tư, du lịch, giao lưu giáo dục và văn hóa gia tăng, thì bức tranh về Việt Nam không còn trùng khớp hoàn toàn với hình ảnh đóng băng trong kí ức của cộng đồng lưu vong. Thế nhưng, vì hình ảnh cũ đã gắn quá sâu với căn tính, việc điều chỉnh cách nhìn trở thành một tiến trình vừa khó khăn vừa nhạy cảm. Có người chọn mở ra với thực tại mới, có người miễn cưỡng thừa nhận thay đổi nhưng vẫn giữ khoảng cách, có người tiếp tục từ chối nhìn nhận vì sợ rằng bất kì nhượng bộ nào về nhận thức cũng sẽ kéo theo sự đổ vỡ của hệ giá trị mà họ đã bám giữ suốt nhiều thập niên.
Nhìn từ góc độ tâm lí học, hiện tượng này có thể được hiểu như một cơ chế ứng phó kéo dài với sang chấn. Một trong những cách con người đối diện với đau thương là kể lại câu chuyện tổn thương của mình, lặp đi lặp lại nó để duy trì cảm giác rằng đau đớn ấy có ý nghĩa, có chứng nhân, có vị trí trong thế giới. Đối với nhiều người Việt hải ngoại, việc kể lại tháng Tư, kể lại biển cả, kể lại những năm tù cải tạo, kể lại cảnh ra đi, không chỉ là hồi tưởng mà còn là hành vi bảo vệ phẩm giá. Vấn đề chỉ nảy sinh khi việc kể lại ấy dần dần mất đi khả năng chuyển hóa, thay vào đó là một vòng tròn lặp đi lặp lại và khép kín. Khi đó, kí ức không còn là phương tiện để đi qua nỗi đau mà trở thành không gian nơi nỗi đau phục sinh chính nó. Sự tức giận có thể là một nguồn năng lượng đạo đức trong giai đoạn đầu, nhưng nếu kéo dài quá lâu mà không tìm được một lối thoát khác, nó có thể biến thành tình trạng bị mắc cạn trong bãi lầy của quá khứ. Nói như vậy không có nghĩa là kêu gọi quên lãng hay phủ nhận đau thương. Nó chỉ cho thấy rằng kí ức, nếu không được đặt vào một quá trình tự phản tư rộng hơn, rất dễ chuyển từ chức năng gìn giữ sang chức năng giam giữ tù đày chính mình.
Dĩ nhiên, cũng cần tránh một cách nhìn quá tâm lí hóa, như thể toàn bộ sự phê phán của người Việt hải ngoại chỉ là biểu hiện của chấn thương chưa lành. Cách giải thích ấy vừa thiếu công bằng, vừa dễ vô hiệu hóa những nội dung chính trị có thực trong sự phê phán đó. Nhiều người trong cộng đồng hải ngoại lên tiếng về nhân quyền, tự do ngôn luận, đàn áp tôn giáo, kiểm soát xã hội dân sự, những giới hạn của đời sống chính trị trong nước, không chỉ vì họ bị ám ảnh bởi quá khứ mà vì họ thực sự xem đó là các vấn đề cần được đặt ra. Dù đồng ý hay không đồng ý với họ ở từng điểm cụ thể, vẫn cần thừa nhận rằng không thể đánh đồng hoàn toàn mọi phản biện với tâm lí hận thù. Sự công tâm đòi hỏi phải phân biệt giữa phê phán có cơ sở, phê phán mang tính biểu tượng và phê phán xuất phát từ cảm xúc chưa được giải quyết. Ba động cơ phê phán này thường đan xen vào nhau nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau.
Ngược lại, cần nhìn thẳng vào một thực tế rằng trong một bộ phận cộng đồng người Việt lưu vong, thái độ của họ luôn chất chồng hận thù với Việt Nam, cực đoan và khép kín trước những biến chuyển của thực tế. Ở nhiều trường hợp, ngôn ngữ chống cộng được sử dụng như một thứ phản xạ vô thức, tách khỏi chức năng truy vấn và nhận thức thế giới. Lập trường chính trị lỗi thời và ấu trĩ của họ được duy trì chủ yếu như một dấu hiệu nhận diện căn tính. Khi chức năng này chiếm ưu thế, phê phán đi vào trạng thái đông cứng: mọi thay đổi của xã hội Việt Nam bị đặt ra ngoài vùng quan tâm hoặc bị quy giản thành những yếu tố thù địch. Từ đây, những biểu hiện thường được gọi là cố chấp, bảo thủ hay lạc hậu xuất hiện như một hệ quả nội tại của chính não trạng đó. Sự đông cứng này thu hẹp không gian đối thoại và đồng thời làm suy giảm giá trị của phê phán, khi phê phán không còn bám vào thực tại đang vận động mà chỉ tự lặp lại chính mình.
Phải nhìn thấy phần này thì bức tranh mới đầy đủ. Bởi nếu chỉ nói đến chấn thương, người ta dễ bỏ qua trách nhiệm tự phê của cộng đồng trước những mô thức đóng kín do chính mình tạo ra. Mà một cộng đồng trưởng thành không thể chỉ đòi người khác hiểu cho nỗi đau của mình. Nó cũng phải đủ năng lực để nhìn lại những hệ quả mà cách gìn giữ kí ức của mình có thể đã gây nên.
Một trong những hệ quả rõ nhất là sự khó khăn trong việc xây dựng một quan hệ bình tĩnh hơn với Việt Nam đương đại. Trong nhiều thập niên, một phần cộng đồng lưu vong đã hình dung Việt Nam gần như chỉ qua lăng kính của mất mát, phản bội và áp bức. Cách nhìn ấy có nền tảng lịch sử của nó, nhưng nếu không được điều chỉnh, nó dễ xóa mờ đi những thực tại khác đang hình thành trong xã hội Việt Nam. Một đất nước sau chiến tranh, sau cấm vận, sau Đổi Mới, với những biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa, thế hệ và tâm lí rất lớn, không thể được hiểu chỉ bằng những phạm trù được cố định từ năm 1975. Vấn đề ở đây không phải là phủ nhận các khuyết tật của nhà nước Việt Nam hay tô hồng hiện thực trong nước. Vấn đề là phải thừa nhận rằng hiện thực đã thay đổi, và việc tiếp cận một hiện thực thay đổi đòi hỏi một khung nhận thức mới, rộng hơn, linh hoạt hơn và bớt bị thống trị hoàn toàn bởi kí ức đau thương.
Chính ở điểm này, sự khác biệt giữa các thế hệ trong cộng đồng người Việt hải ngoại trở nên đặc biệt đáng chú ý. Thế hệ đầu, những người trực tiếp trải qua chiến tranh và ra đi, mang kí ức dưới dạng sống động nhất, đau nhất, và vì vậy thường giữ lập trường kiên cố nhất. Thế hệ thứ hai và thứ ba tiếp nhận kí ức ấy qua cha mẹ, qua sinh hoạt cộng đồng, qua biểu tượng như lá cờ vàng, những buổi tưởng niệm tháng Tư, những câu chuyện được kể lại trong gia đình, nhưng đồng thời lớn lên trong một xã hội Mĩ có hệ quy chiếu khác hoàn toàn. Họ nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng mẹ đẻ, học hành và làm việc trong những môi trường ít liên hệ trực tiếp với lịch sử đã sản sinh ra cộng đồng của chính họ, và họ giữ một khoảng cách rõ rệt với quá khứ ấy. Đối với họ, tháng Tư có thể vẫn là một phần của di sản gia đình, nhưng không nhất thiết còn là trung tâm tuyệt đối của căn tính bản thân. Một số người tiếp nối di sản chống cộng của cha mẹ với cường độ tương tự. Một số khác tìm cách tái diễn giải nó theo hướng nhân quyền, dân chủ và kí ức lịch sử, đặt trọng tâm vào trải nghiệm và trách nhiệm hơn là ý thức hệ thuần túy. Cũng có những người gần như bước ra ngoài hẳn không gian ngôn ngữ cũ, nhìn Việt Nam qua những trải nghiệm cụ thể như đi lại, công việc, văn hóa, hoặc đơn giản như một phần nguồn gốc cá nhân. Sự đa dạng ấy cho thấy cộng đồng người Việt hải ngoại hoàn toàn không phải là một khối đồng nhất.
Thực tế cũng chứng minh rằng bên cạnh những người tiếp tục giữ lập trường đối kháng mạnh mẽ, đã có không ít người Việt hải ngoại quay về Việt Nam để thăm thân, làm từ thiện, đầu tư, kinh doanh, hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa, hay đơn giản chỉ để nối lại một mối dây với nơi chốn mình từng rời bỏ. Sự trở lại ấy không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với hòa giải tư tưởng. Nhiều người vẫn giữ khoảng cách chính trị rõ ràng với nhà nước Việt Nam nhưng đồng thời không muốn cắt đứt hoàn toàn với xã hội Việt Nam. Điều này rất quan trọng, vì nó cho thấy giữa hai cực đối kháng tuyệt đối và chấp nhận hoàn toàn còn có nhiều vùng trung gian. Trong các vùng trung gian ấy, người ta vừa có thể giữ kí ức, vừa có thể điều chỉnh cách nhìn; vừa có thể tưởng niệm quá khứ, vừa có thể thừa nhận hiện tại; vừa có thể phê phán, vừa có thể tiếp xúc. Chính những vùng trung gian đó mới phản ánh đúng hơn tính phức tạp của đời sống cộng đồng sau nửa thế kỉ.
Nhìn rộng hơn, câu chuyện của người Việt tị nạn và hậu tị nạn ở hải ngoại thực ra không chỉ là một câu chuyện Việt Nam. Nó cũng là câu chuyện phổ quát của nhiều cộng đồng lưu vong trong lịch sử hiện đại, nơi nỗi đau mất nước, mất chế độ, mất chỗ đứng xã hội thường được chuyển hóa thành kí ức tập thể, thành chính trị kí ức và thành những tranh chấp kéo dài quanh việc ai có quyền định nghĩa quá khứ. Điều làm trường hợp người Việt trở nên đặc biệt là thời gian đã quá dài nhưng kỉ niệm về chấn thương vẫn còn hiện diện quá rõ, một phần vì nó gắn với chiến tranh lạnh, với chia cắt ý thức hệ, với sự phân đôi lịch sử quốc gia, và một phần vì cộng đồng lưu vong đã đủ lớn, đủ bền và đủ thiết chế để tự duy trì câu chuyện của mình qua nhiều thế hệ. Điều đó vừa là dấu hiệu của sức sống cộng đồng, vừa là chỉ dấu của một vết thương chưa được giải quyết trọn vẹn.
Sau năm mươi mốt năm, có lẽ điều cần thiết nhất không phải là buộc mọi phía phải đồng thuận với nhau, càng không phải là yêu cầu kí ức phải nhường chỗ cho quên lãng. Điều cần hơn là một cách nhìn trưởng thành hơn về bản chất của bất đồng này. Thái độ phê phán sâu sắc và dai dẳng của một bộ phận người Việt hải ngoại đối với chính quyền Việt Nam không thể bị bác bỏ bằng vài công thức giản đơn như “ảo tưởng”, “lỗi thời” hay “thù hằn vô căn cứ”. Đằng sau nó là một lịch sử mất mát có thật, một cấu trúc kí ức tập thể được duy trì qua nhiều thập niên, một nhu cầu bảo vệ căn tính trong đời sống lưu vong, và một nỗ lực không phải lúc nào cũng thành công nhằm giữ cho đau thương của mình không bị lịch sử xóa mất. Nhưng đồng thời, cũng phải nhìn nhận rằng bất kì cộng đồng nào nếu chỉ sống bằng kí ức bị tổn thương mà không dần dần phát triển những khả năng tự phản tư, phản biện mới, thì rất dễ tự nhốt mình trong quá khứ mịt mù và vô nghĩa. Đó là giới hạn mà một bộ phận cộng đồng người Việt hải ngoại cũng đang phải đối diện.
Vì vậy, một cách tiếp cận công tâm, tỉnh táo và khách quan đòi hỏi phải tránh cả hai thái cực, không rơi vào cái bẫy của cực đoan. Một bên là thái độ phủi bỏ, xem mọi phê phán như biểu hiện của cố chấp và hận thù. Bên kia là thái độ tuyệt đối hóa kí ức, xem nó như chân lí cuối cùng miễn nhiễm với mọi chất vấn. Giữa hai cực ấy là một không gian khó kiến tạo nhưng giữ được sự trung thực: nơi nỗi đau được thừa nhận mà không bị thần thánh hóa, biến chuyển của hiện thực được nhìn nhận mà không bị xem như phản bội quá khứ, và kí ức được gìn giữ mà không trở thành nhà tù. Chính trong không gian ấy, câu chuyện tháng Tư của người Việt hải ngoại mới có thể được hiểu đúng hơn, không như một tàn dư đơn giản của lịch sử mà là biểu hiện của một cộng đồng vẫn đang thương lượng với mất mát, với căn tính, thời gian và một quê hương họ chưa bao giờ thôi mang theo trong mình.