Truyện ngắn của Đào Ngọc Chương
1
– “Đây là sứ trắng” – người nữ y tá trạm cấp cứu vừa nói vừa cười, rồi đưa tay lắc nhẹ chậu hoa.
Tôi sững người. Vẫn cánh lá xanh to bản hằn rõ những đường gân lá ấy, vẫn những búp xanh phong kín cái màu trắng suốt của những cánh hoa chưa nhìn thấy ấy, sao gọi là sứ trắng. Tôi ngắt một chút lá vò nát rồi đưa lên mũi. (Ai lại tìm về với hoa như vậy, nhưng đó là thói quen của những ngày tôi học thuốc nam). Như có vị cay trong mùi hương lá nồng nàn. Đích thị Ngọc Lan rồi.
– “Ngọc Lan mà. Em chưa đọc Hồn bướm mơ tiên”.
Đấy là lần đầu tôi gặp Thắm sau lúc đi thăm nhà bia của Trương Vĩnh Ký. Mãi về sau này, Thắm cứ hỏi tôi sao lại gán ghép chuyện Hồn bướm mơ tiên vào đấy và cứ ngạc nhiên sao tôi gọi cô là em ngay từ phút ấy. Còn tôi cứ cười cười. Đúng là tôi không có thói quen gọi những người phụ nữ mình mới gặp lần đầu như vậy. Hơn nữa, tôi đã gần tuổi bốn mươi – cái tuổi bất hoặc. Có lần, tôi đánh bạo trả lời: “Đó toàn là chuyện đời xưa cả”. Chỉ còn đôi mắt Thắm với những dấu hỏi.
Về sau trong một thoáng trăng Cái Mơn, tôi đã gặp lại Ngọc Lan.
2
Bấy giờ là rằm tháng Tám, đúng một tháng sau ngày tế thập loại chúng sinh. Chẳng lẽ chúng sinh cứ lang thang mãi hay sao mà trời cứ mưa sùi sụt. Còn tôi thì gò người đạp xe về Cái Mơn. Anh Dũng hẹn tôi đến chơi với gia đình anh trước khi cả nhà dọn về thành phố. Tôi cũng muốn nhân tiện gặp Thắm.
Nghĩ cho cùng đi trong mưa kiểu như vậy cũng có điều hay. Mưa, gió của trời đó; đá, cỏ của đất đó; cây trái của người đó; chiếc xe đạp cà tàng của nền công nghiệp nhỏ đó; còn ta là của ai mà đi trong gió mưa, trên đá cỏ, giữa cây trái? Không phải là chúng sinh ư? Thì ra chúng sinh vẫn có cái tự do riêng không kém phần thú vị.
Tôi đến lúc gia đình anh Dũng đang chuẩn bị ăn bữa cơm chiều. Có tôi, thêm một cái chén, một đôi đũa và một chai rượu. Anh Dũng bảo: “Đón khách đường xa”. Tôi nói: “Bố thí cho chúng sinh lạc loài”. Chị Dũng hỏi: “Khách là chúng sinh, còn chủ?”. Anh Dũng cười lớn: “Chủ là mười loài”. Chị Dũng lườm chồng “Chủ kiểu ấy thì có mà loạn”. Hai đứa con nhỏ của anh Dũng cứ ngơ ngác.
Thật ra anh chị Dũng có ý đãi tôi nên có món giả cầy. Ngồi nhìn món giả cầy, anh Dũng bảo: “Cái gì cũng giả cả, đến chó cũng giả”. Chị Dũng cãi: “Heo thì giả chó còn chó thì giả heo, thế mới có chuyện”. Còn tôi thì nói: “Nhờ vậy rượu mới ngon”. Chị Dũng cười xòa, không có ý giận.
Tôi ngạc nhiên, bữa ăn chia tay mà không ai nói lời nào nghiêm chỉnh cả. Chờ mãi, tôi đành hỏi, lúc mời chị Dũng uống rượu:
– “Bao giờ thì anh chị đi?”
– “Đi đâu?”. Anh Dũng hỏi lớn rồi cười ha hả.
Chị Dũng đẩy ly rượu về phía tôi:
– “Đi đâu cũng là chúng sinh cả”.
Hóa ra tôi ngồi giữa anh chị Dũng, đối diện với hai đứa con anh. Hai thằng bé cứ nhìn tôi cười. Một đứa lên tiếng:
– “Dì Thắm dặn không được cho chú Minh uống rượu”.
Chị Dũng nạt:
– “Đi mà nói với dì Thắm”.
– “Tối nay chú sẽ rước đèn với hai cháu”.
Anh Dũng cười bảo:
– “Chú Minh còn biết múa lân nữa đó”.
Tôi cãi:
– “Múa lân thì chú chịu. Chú chỉ biết múa rồng mà rồng là giống vật bị sỉ vả nhiều nhất nên tuyệt nòi”.
Anh Dũng kề sát tai tôi nói nhỏ:
– “Nghe đâu rồng vừa đứt đuôi con nòng nọc”.
Rồi cả anh Dũng và tôi la lớn: “Đích thị!”.
Mấy ly rượu đã làm tôi chếnh choáng, chỉ muốn hát lên những câu ứng tác vu vơ, nhưng cố ghìm lại. Đã có lần anh Dũng bảo tôi hát như là khóc. Tất cả nhạc sĩ đều sẵn sàng đãi tôi cà phê để tôi không hát những bản nhạc của họ. Câm hay ngóng, ngọng hay nói; suy rộng ra là cứ giành làm điều mà mình không làm được thì nát bét hết, mà nát bét thì mới có người sợ chứ. Tôi chỉ muốn người khác sợ giọng hát của tôi cho họ nhớ đời… Trớ trêu thật. Nên cuối cùng tôi đã hát. Hai đứa con anh Dũng đang loay hoay với cái lồng đèn trung thu cũng ngừng lại, giương mắt nhìn tôi.
Trời vẫn cứ mưa sùi sụt. Tôi nghe giọng của mình lẩn trong tiếng dế rên rỉ. Anh Dũng vỗ tay. Còn chị Dũng cười khan rồi hét:
– “Thôi đừng hát nữa. Cười đứt ruột”.
Bấy giờ tôi mới hay mình đang huơ tay chỉ mưa gió ngoài kia. Tôi im bặt. Anh Dũng nhắc tôi uống nước chanh rồi dìu tôi lại nằm trên chiếc giường kê sát cửa sổ.
Ngay lúc đó trời đất quay cuồng. Tôi có cảm giác như chiếc giường, bàn ghế, căn nhà, cây trái ngoài kia và mưa và gió và thế giới quay lộn tùng phèo cùng cái ruột cồn cào của tôi. Tôi đưa tay bóp cổ mình, nuốt những hơi không khí đắng ngắt lẫn lộn vị chua của món giả cầy xuống bụng. Tôi quyết tâm chống chọi với cơn sóng dữ. Mặc cho trời đất mù mịt. Tôi chìm xuống, chìm xuống cái miệng hang sâu hoắm có lửa cháy bừng bừng. Tôi nghe văng vẳng tiếng anh Dũng khi xa khi gần, rồi tiếng của chị Dũng la ”Cháy! Cháy!”, rồi tiếng khóc của đứa con anh Dũng. Cái giọng rên rỉ của tiếng khóc khiến tôi bực bội. Tôi tìm gặp lại giọng hát của mình và tôi thiếp đi.
Lúc tôi tỉnh dậy cả người nóng ran hơi dầu cù là. Chị Dũng khuấy nước chanh bắt tôi uống và nói:
– “Dì Thắm có ghé lại, nói sẽ đợi chú chỗ cây cầu”.
Anh Dũng bảo:
– “Đừng để uống cuộc rượu lỡ buổi hẹn hò”.
Tôi cười rồi ngồi lại với anh Dũng trước hàng hiên. Ngọn đèn dầu phía sau lưng hắt bóng hai chúng tôi xuống mảnh sân sũng nước. Mưa đã tạnh. Nhưng bầu trời vẫn âm u. Một chút ánh sáng xanh hắt xuống hàng cây tối. Dòng sông loang loáng những vệt sáng mờ tỏ. Tôi có cảm giác như tiếng sóng vỗ nghe xa lắc là từ những vệt sáng hư ảo ấy. Anh Dũng uống từng ngụm nước trà nhỏ. Tôi bứt rứt:
– “Thì ra anh chị ở lại?”
Anh Dũng đưa điếu thuốc vẽ những vòng tròn lửa trước mặt, không nói gì, mãi sau anh mới bảo:
– “Tất cả tưởng đã xong xuôi. Cuối cùng quyết định ở lại. Đó là ý của chị. Còn dì Thắm thì mừng ra mặt” – Anh Dũng nhìn tôi cười – “Dì Thắm sợ một mình ở với cha mẹ già”.
Chị Dũng từ trong nhà đi ra nói:
– “Trung thu mà chẳng có một chút trăng. Hai ông tướng chờ chú dậy múa rồng không được, đi chơi rồi”.
Tôi hỏi:
– “Cái lồng đèn bị cháy hả chị?”
Chị Dũng cười:
– “Ừ, cháy lên phừng phừng, sáng được một hồi rồi tắt ngấm”.
Hai đứa đành chơi một cái lồng đèn. Anh Dũng bảo:
– “Một ngôi sao có những năm cánh lo gì”.
Tôi nhớ ngày nhỏ cố nhìn ngôi sao để tìm cho được năm cánh nhưng chịu. Chú Cuội, cây đa trên mặt trăng thì còn tưởng tượng được. Có một thời người ta lo hoảng lên rằng việc con người đổ bộ xuống mặt trăng sẽ làm chết ánh trăng của các nhà thơ. Buồn cười thật. Hay là vì vậy mà trung thu này không có ánh trăng?
Lúc tôi nói phải ra chỗ Thắm, chị Dũng dặn: “Chú Minh có đi chơi với dì Thắm thì nhớ về sớm”. Anh Dũng thêm: “Đừng có đi tìm trăng”. Tôi nói: “Trời đất thế này thì làm gì có trăng mà tìm”. Bỗng nhiên tôi nghe ấm áp một niềm vui từ những lời dặn dò tưởng như bâng quơ đó.
Tôi đi dọc theo đường bờ sông. Lúc ngang qua dãy lầu làm Phòng Giáo dục huyện tối om, tôi chợt nghĩ đến sự hoang phế. Cái sân thì rộng tuềnh toàng, thông thốc gió mà suốt hai dãy lầu chẳng có một ngọn đèn.
Sao âm u đến rợn người và tôi chợt nhớ cái cảm giác lần đầu đi thăm nhà bia của Trương Vĩnh Ký. Loáng thoáng câu chuyện anh Dũng nói trong cuộc rượu. Thì ra đã bàn giao. Ngày mai hai dãy lầu này sẽ biến thành nhà thương, còn phòng Giáo dục thì đi chỗ khác. Lại thay đổi. Sao người ta nghĩ ra một ngày bàn giao đáng nhớ thế! Tôi là giáo viên nên cứ như động đến vết thương. Tôi lại đưa tay bóp cổ mình, ghìn cơn nôn ruột.
Thắm đợi tôi bên cây cầu thật. Có lần đứng bên kia cầu, buổi chiều, nhìn về phía ngôi nhà thờ phía bên này cầu đằng sau hàng cây lá cao vút, tôi nói: ”Cứ y như một góc phố phương Tây”. Thắm chế giễu “Đừng có phịa, anh. Làm gì có phố phương Tây ở đây. Mà sao anh biết giống. Sông nước đó, con đò đó. Có về Bến Tre thì về”. Giá bây giờ được ngồi trên con đò đó cùng Thắm đi Bến Tre, nửa khuya cả hai bước chập choạng trên con phố lạ, dù lầm lũi cũng thích. Thật ngớ ngẩn cho cái tuổi đã bất hoặc của tôi có Thắm.
Thoáng thấy tôi, Thắm bước xuống con dốc dọc bờ sông trước ngôi nhà thờ trắng lên trong đêm tối. Tôi lặng lẽ đi sau như đuổi theo một ảo ảnh.
Con đường có lúc như khép lại rồi mở ra thênh thang, có lúc chìm sâu xuống rồi chênh vênh trên những đoạn cầu cong bắc qua mương rạch.
Hóa ra tôi vẫn đi trong cơn say ban chiều còn sót lại. Còn Thắm thì cứ lung linh phía trước trong màu hư ảo của một đêm trăng giấu mặt.
Tôi bối rối. Nếu có một loại hương nào khiến tôi say hơn rượu thì đó là hương tóc của Thắm lúc ấy. Nhưng tôi biết sự bối rối kia là do con phố chợ Thắm gợi dậy đột ngột. Hóa ra đã nhiều lần đến Cái Mơn, tôi vẫn chưa hề tới phố chợ, xưa là trung tâm sinh hoạt của huyện lỵ. Cơn cớ gì trong đêm trung thu mù mịt này Thắm lại nghĩ ra một điều hết sức kỳ quặc: đi thăm phố chợ.
Toàn bộ cảm giác của tôi về con phố chợ với những con đường sũng nước mưa, với tiếng đập nước đá khô khốc ở một vài hàng quán nước khuya, với những ngọn đèn dầu chập chờn và hơi sương lạnh giữa đêm trung thu mờ tỏ ấy là sự xa vắng của một điều gì đó gần gũi. Hay đó là vì một Thắm rất thật vẫn như lung linh hư ảo.
Lúc trở về, đứng trên cây cầu, chúng tôi nhìn lại dãy phố. Vẫn vẻ hiu quạnh đầy phiền muộn ấy, toát ra hơi lạnh từ màu trắng của bờ tường nhờ hắt xuống mặt sông lô xô thành những khối đen quờ quạng.
Ngay lúc ấy, ánh trăng bỗng rớt xuống, sáng lên sắc xanh mênh mang cả một vùng cây lá. Chúng tôi bay lên, bay lên. Hương tóc Thắm ngộp trong hơi thở tôi dồn dập. Đêm chợt lung linh bởi vô vàn màu sắc. Còn chúng tôi vẫn bay lên. Điều bất ngờ choáng ngợp: Thắm trong suốt, tinh khiết, ngợp màu trắng biếc giữa mênh mông đất trời, sông nước, cây lá.
Trí nhớ của tôi loãng ra, bốc hơi, tan biến. Không còn chuyện rồng, chuyện rắn, chuyện giả cầy. Không còn chuyện áo cơm của một đời thầy giáo, chuyện uống rượu say khướt, hát vu vơ. Không còn chuyện bàn giao nhà thương, trường học. Không còn chuyện chúng sinh lần lữa trong cơn mưa sùi sụt. Không còn chuyện nhà bác học một đời cứ đau mãi cho cái tiểu sử của mình ở cái nhà bia loang lở, lật từng trang Chuyện đời xưa mà khóc. Không còn chuyện phố chợ quạnh hiu. Không còn chuyện mờ mịt trung thu trẻ con chờ được rước đèn. Không còn. Không còn…
Tất cả ở dưới kia giữa những cơn lốc mê sảng, tù túng, nhỏ nhen, trong những suy nghĩ ám khói, lật lọng bay trong những nỗi phiền muộn đắng ngắt.
Chúng tôi vẫn bay lên, bay lên và trôi đi, trôi đi. Bên tai chúng tôi thoảng đến một điệu lý mượt mà giữa trắng ngần màu trắng Ngọc Lan ngan ngát.
Tháng 10-1989
Đ. N. C.