Dạ Ngân

Sau Vũng Tàu 1982, Nguyễn Quang Thân cùng một nhóm đi miền Tây viết về lương thực (một Nxb ở Hà Nội đặt hàng). “Nghe đâu nhà văn Mường Mán ở Cần Thơ em có biết không?”.
Lần đầu tiên tôi nghe nói đến nhà văn ấy. “Em ở trong đây mà không nghe nói đến Nguyễn Thị Hoàng, Trần Thị NgH, Mường Mán sao?”. “Có, em biết Vòng tay học trò, biết Nhà có cửa khóa trái, nhưng người có bút danh miền núi đó thì…”. “Thì anh cũng mới biết từ Nhật Tuấn, Biên Hồ, Lưu Ngũ cùng ở Vũng Tàu. Tay Mường Mán này năm Sáu mươi lăm đã có thơ trên tạp chí Văn, trẻ đấy, tài đấy, oách đấy!”.
Không được cấp có thẩm quyền tổ chức cuốn sách về lương thực duyệt mời Mường Mán chuyến ấy, nhóm Hà Nội bất bình. Vì sao ư? Vì tay đó là trung úy – phóng viên chiến trường từng đi cải tạo, nay đang làm việc vặt như công nhân nông nghiệp ở đâu mạn Ô Môn. Hỏi rõ, được biết, nhờ anh trai là giảng viên Đại học Cần Thơ trước 1975, Mường Mán chuyên lo chuyện đi thực tế của cánh sinh viên Khoa Nông nghiệp Đại học Cần Thơ. Nghe đã thấy tréo ngoe và bấp bênh.
—-
Cái tên Mường Mán vẫn trụ lại trong tôi và cả anh Thân bởi liên tài. Tỉnh Hậu Giang thời Lê Duẩn thay trời đổi đất sắp xếp lại giang sơn gồm Cần Thơ + Sóc Trăng, nếu đi xe đò rùa bò thì sáng ở bến xe Cần Thơ, tối mịt mới tới được Vĩnh Châu – thị tứ cuối cùng giáp biển, nơi người Khmer chuyên nghề rẫy mà món trứ danh là hành tím.
Thật là mừng khi sau đó, Hội Văn Nghệ thành phố Cần Thơ giải cứu được Mường Mán về Hội (tại Cần Thơ khi ấy có hai Hội Văn Nghệ, tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ, tôi ở Hội Hậu Giang). Nhanh chóng hình thành nhóm Lê Đình Bì & Nguyễn Bích Như – hai cựu sĩ quan VNCH từng cải tạo sơ sơ, cũng từng ôm kế sách Thuyền nhân nhưng không thành và Mường Mán (nhân thân là con liệt sĩ thời Việt Minh mà tuổi trẻ thì bị đời lính phía VNCH nuốt). Tôi nhìn ba người ấy, luôn thói quen của đứa làm văn xuôi: Ôi trời, ai cũng hiền từ thanh lịch tao nhã, ăn nhập gì với quân phục ngầu và giày binh hở trời?
Cả ba đều vợ con lốc nhốc, mưu sinh không đùa. Người thì dịch bài từ nguồn sách báo qua ngả Hàng không (cho trang Quốc tế các loại báo sách ở Sài Gòn); người thì cặm cụi dịch sách, người thì bỗng nhẹ gánh hẳn với đặt hàng của Nxb Mũi Cà Mau đình đám khi đó. Chuông Đổi mới lan tỏa, Lê Đình Bì đã thành nhà báo trong tầm ngắm của tờ Thanh Niên; Nguyễn Bích Như thành dịch giả “chuyên trị” văn học Pháp; Mường Mán thì năm 1987 tái xuất với tiểu thuyết Hồng Hạ, thời gian ngắn đã bán vèo 35.000 bản.
—-
Tôi được khều vô nhóm vì làm việc ở Hội Hậu Giang, bởi “cái bà scandal ái tình đó có vẻ không phân biệt bên này bên kia”. Một phòng ở tầng trên của trụ sở Hội Văn Nghệ thành phố Cần Thơ là nơi vợ chồng Mường Mán và hai đứa nhỏ tá túc tạm an cư. Mẹ con tôi gởi thân ở trụ sở báo Văn Nghệ Hậu Giang từ 1983. Xuất hiện nhân tố Lê Chí – nhà thơ kháng chiến cựu trào bỗng rời Nxb Cà Mau vì “lỡ yêu” em gái nhà thơ gốc VNCH Trần Kiêu Bạt. Lê Chí & Nguyệt lập tức hòa tan vào cái nhóm “văn nghệ văn gừng bấp bênh lập trường” này, chỗ già nhân ngãi non vợ chồng của đôi ấy là trụ sở Hội Văn Nghệ Hậu Giang. Vị trí tạm mà hình tam giác, nghe đã thấy tùm lum, cái đám hay bị miệt thị “trốn chúa lộn chồng” ấy. Kệ, khi đó tôi là cô Anna Karenina “được” chính giới xem như ngoài luồng, Lê Chí cũng không khá hơn tôi, thậm chí một chân trong BCH Hội Văn Nghệ tỉnh (như nhiều anh chị em hội viên thực sự mong muốn) cũng không thể!
Có ba chiếc xe máy để bọn tôi vi vu: Lê Đình Bì chở Lê Chí, Nguyệt chở Dạ Ngân, Nguyễn Bích Như chở Mường Mán. Địa chỉ ưa thích là cù lao An Bình – Vĩnh Long của nhà thơ Song Hảo, được gặp nhạc sĩ Trúc Phương để ngắm và nghe bạn nào đó ôm guitar hát những ca khúc để đời của anh ấy. Sóc Trăng, một điểm khác nữa để bất tận với những ngôi chùa Khmer như cổ tích, rồi bữa ăn ở chỗ anh Quốc Bình cũng làng văn nghệ địa phương như chúng tôi; hơn ai hết, anh có bà vợ cực kỳ thơm thảo.
Tại Cần Thơ nhóm nở ra thêm Phù Sa Lộc, Huỳnh Duy Lộc. Chiến tranh biên giới Tây Nam chưa kết thúc, ai cũng bị chữ nghèo nó dọa chung thân. Chúng tôi gặp nhau bù khú khi thì chỗ Dạ Ngân tôi, khi thì chỗ Lê Chí (để nghe Nguyệt hát bolero rụng tim), khi thì chỗ Nguyễn Bích Như để biết thế nào là Hollywood qua băng lậu, khi thì hotel Hào Hoa (quốc doanh nho nhỏ mà Huỳnh Duy Lộc làm quản lý). Thập niên 90s, dễ thở hơn một chút, thì bao nhiêu bạn bè văn nghệ miền Tây tiện đường Cần Thơ tạt qua, rồi bạn hữu nữa từ Sài Gòn xuống, (khi ấy Nguyệt & Lê Chí đã chính thức thành đôi và có nhà chung cư áp lưng với dãy nhà chỗ tôi cũng hình ống như vậy sau 1990). Lê Chí – Nguyệt làm thành một đôi tưng bừng trong chủ kiến, văn thơ, bếp núc và nhạc tiền chiến không ai hay bằng (theo tôi). Lê Chí, tụ điểm chính, không ít lần được Võ Đắc Danh – Nguyễn Trọng Tín (Cà Mau) tót lên, cả Sơn Nam – Nguyễn Hồ và các bạn báo Tuổi Trẻ từ Sài Gòn ào xuống, rồi là nhóm “ăn nói không theo ý ai” từ Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ: Trương Quang Chế, Chiêm Thành Bé, Huỳnh Công Tín, Tào Văn Ân, Lê Đình Bích…
Nhóm càng rộng thì “tai tiếng” càng lộng, cấp trên của hai Hội Văn Nghệ địa phương càng nhiều cái chau mày. Nhưng hơi hướm kết thúc Cấm vận cũng rõ dần lên. Năm 1993 tôi ra Hà Nội, Lê Đình Bì lên hẳn Sài Gòn phụ trách trang Quốc tế cho tờ Thanh Niên, Nguyễn Bích Như tham gia cùng Lê Đình Bì khi được mời dịch món gì đó (con gái anh ấy cũng lên Sài Gòn học Khoa Piano Nhạc viện). Sau đó không lâu Mường Mán cũng khăn gói lên Sài Gòn – công việc được anh Nguyễn Hồ tìm cho ở Công ty Phương Nam.
—
Mường Mán trong mắt tôi là một người buồn. Buồn – và rất hiền, vẻ hiền trong, trong đằm. Khi nghĩ đến cái mác Con-liệt-sĩ, tôi thương anh vô hạn, anh mồ côi cha còn sớm hơn tôi, lúc 7 tuổi. Cái đoạn trung úy VNCH chất thêm nỗi buồn trong anh. Truyện ngắn Những vầng trăng mê hoặc của anh viết trước 1975, in ở Sài Gòn trên chuyên san nào đó không nhớ nhưng tôi nhớ tình yêu của mình với tác phẩm ấy. (Khi làm Ban Văn ở báo Văn nghệ, chúng tôi có số báo đặc biệt in topten “Truyện ngắn hay nhất ở miền Nam trước 1975”, tôi đã chọn truyện ngắn ấy để Mường Mán gởi ra; những truyện khác tôi lọc từ bộ Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta (xuất bản 1974) do Lê Đình Bì đích thân tìm và chuyển sách ra cho tôi).
Ai cũng bảo Mường Mán luôn buồn. Ít khi thấy anh cười rạng rỡ, cười tràn trề. Cũng không có gì lạ. Tuổi thơ côi cút, chiến tranh dồn đuổi, ở thành thị miền Nam thì Lệnh động viên không chừa ai cả. Bản lề 1975 mở với bên này lại đóng với bên kia; tình yêu trai gái, tình yêu văn chương, tình yêu quê hương tình yêu đất nước chất vào một trái tim một tâm hồn Thơ – Văn – Họa đặc biệt nhạy cảm với số phận mình, bảo sao ít buồn? Anh và Bình kết hôn trong hoàn cảnh nhiều trái ngang thế sự đó. Con gái ra đời, phải rời Huế, đặt là Huế Ly. Tên là vận, con là Huế mà ly, con không cứng cáp một cách bình thường. Con trai ra đời ở Cần Thơ, khi ấy tôi đã thân thiết nhiều với Mường Mán, thấy cháu khôi ngô và giỏi Văn từ bé, tôi hay tấm tắc: “Anh nghĩ ra Gia Văn cho tên con trai, hay quá!”.
Kẻ Hà Nội êm ấm nhưng chật vật bởi “túi tiền phải dành để rắc đường Hà Nội – Cần Thơ mãi”. Lê Đình Bì yên việc nhưng đời tư lộn tùng phèo. Nguyễn Bích Như nuôi ba con gái học hành, khá mệt. Nguyệt vợ Lê Chí bị K và qua đời trong nỗi tiếc thương của bao nhiêu bạn hữu. Mường Mán nhiều tài viết: tổ chức bản thảo, thêm ngón biên kịch cho phim điện ảnh phim truyền hình nhiều tập, thêm vẽ bìa sách và minh họa cho các tờ chỗ bạn chí cốt Đoàn Thạch Biền nữa, có vẻ anh ấy ung dung nhất, rồi mua được đất xây được nhà ở Gò Vấp và nuôi được Gia Văn du học ở Úc.
—-
Chúng tôi mua nhà ở Thanh Đa 2005, hạ cánh Sài Gòn 2008. Đến RUỐC của vợ chồng Mường Mán nhiều lần, để mừng cho bạn, phần thưởng thức ẩm thực cho mình, nhưng sự ủng hộ là cho bạn (như việc mua sách khi bạn ra sách). Ngắm tranh Mường Mán trên tường quán, nhìn anh cười hiền với bè bạn và với thực khách độc giả hoặc thuần thực khách vì Huế, vì Ruốc. Có lần vợ chồng tôi gặp anh ở một sự kiện của ai đó, Mường Mán bảo: “Hôm nào ông bà đến nhà tui cho biết, hồi trước nhà cấp bốn, giờ xây lên mấy tầng ngon rồi”. Tôi thực sự mừng: “Ôi, Bình giỏi, trong vợ của các ông, Bình giỏi nhất, hai tay xây dựng cơ đồ”.
Chúng tôi quá bận, bận viết, bận khách, bận ra Hà Nội, bận con cháu bên trời Âu, bận hai gia tộc hai quê. Khi anh Thân mất thì nhu cầu với bán kính rộng như xưa ở tôi không còn nữa, tôi tiếp khách tại gia, không lần nào đến RUỐC. Vậy nên chiều nay tôi và con gái Thu Uyên đến viếng và tiễn Anh ấy, buồn thương vốn dĩ, Mường Mán bị tiểu đường đã lâu, biến chứng sang tim, ngót 2 tháng trời ở bệnh viện. Tuổi 79 ngặt nghèo.
Nhưng, chuyện tôi sốc nhất là cháu Gia Văn, cháu mất từ 2015 mà chúng tôi không hề hay biết, mất năm 28 tuổi, cũng bệnh hiếm về tim! Những tưởng phu nhân Mường Mán có Huế Ly – đứa con gái bốn mươi tuổi mà mẹ phải chăm sóc dù cháu đỡ đần bếp núc và quán xá cho mẹ rất nhiều và rồi Bình sẽ vững vì có Gia Văn giỏi. Nhưng Gia Văn ơi. Thật sự không còn từ nào để diễn tả được nữa!
Bình cũng đã vào U80 như tôi. Góa bụa, âu là, ai cũng có một tuổi già buồn để mình không suy sụp khi nhìn sang người khác. Chắc chắn anh Mường Mán và cháu Gia Văn sẽ không rời, sẽ không thôi phù hộ cho Bình và Huế Ly, mãi mãi.

Mường Mán và Nguyễn Quang Thân, Đại hội Nhà văn lần V – Hà Nội.

Lê Đình Bích ở Đại học Cần Thơ, cùng dự Đại hội chụp.

Nguyệt vợ nhà thơ Lê Chí và tôi ở bên chùa Dơi – Sóc Trăng.

Chiều nay, 30/1

Bình phu nhân anh Mường Mán và con gái Huế Ly.