Tuyển dịch bởi Nguyên Giác
Selected & translated by Nguyên Giác
…. o ….
Phạm vi công cộng. Xin tự do sử dụng.
Public domain. Free to use.
…. o ….
MỤC LỤC
Lời thưa
- Cha rồng, mẹ tiên
- Phật Tử Việt Nam Đầu Tiên
- An Tiêm: Sự tích trái dưa hấu
- Sơn Tinh và Thủy Tinh
- Ăn khế, trả vàng
- Trương Chi và Mỵ Nương: Ca khúc say tình
- Cây tre trăm đốt
- Thần Của Nghề Đúc Đồng: Thiền Sư Không Lộ
- Thánh Gióng: Cậu bé anh hùng
- Thạch Sanh
- Tấm và Cám: Chị em oan nghiệt
- Bánh Chưng, Bánh Giầy
- Cây nêu ngày Tết
- Hai Bà Trưng: Chiến đấu vì tự do
- Bát Nàn Tướng Quân
- Bà Triệu Cưỡi Voi Đánh Giặc
- Khương Tăng Hội: Sơ Tổ Thiền VN
- Đinh Tiên Hoàng: vị vua bổ nhiệm vị Tăng Thống đầu tiên
- Lý Công Uẩn: vị vua sinh trưởng trong chùa
- Trần Thái Tông: vị vua trốn lên núi, xin xuất gia
- Vua Trần Thái Tông đề cao Phật giáo, Khổng giáo, và năm giới cấm
- Trần Nhân Tông: vị vua sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm
- Tuệ Trung Thượng Sĩ: sống trong đời, vui với đạo
- Tổ Cáy: Từ bi với chúng sinh
- Ngô Thì Nhậm: Hải Lượng Thiền Sư
- Nguyễn Du: nhà thơ thiên tài
- Nguyễn Đình Chiểu: nhà thơ của đạo lý
…. o ….
TABLE OF CONTENTS
Preface
- Dragon Father, Fairy Mother
- The First Vietnamese Buddhist Disciple
- An Tiêm: The Legend of the Watermelon
- Sơn Tinh and Thủy Tinh: Lords of Mountain and Sea
- The Starfruit Tree and the Golden Debt
- Trương Chi and Mỵ Nương: A Tale of Love and Song
- The Hundred-Knot Bamboo
- The Patron Saint of Bronze Casting: Zen Master Không Lộ
- Saint Gióng: The Boy Who Became a Hero
- Thạch Sanh
- Tấm and Cám: The Ill-fated Sisters
- Bánh Chưng and Bánh Giày
- The Tết Bamboo Pole
- The Trưng Sisters: Warriors of Freedom
- General Bát Nàn: The Woman of Valor
- Lady Triệu: Riding an Elephant into Battle
- Khương Tăng Hội: The First Patriarch of Vietnamese Zen
- Đinh Tiên Hoàng: The King Who Appointed the First Patriarch
- Lý Công Uẩn: The King Raised in a Temple
- Trần Thái Tông: The King Who Fled to the Mountains Seeking Ordination
- Trần Thái Tông: A Monarch Who Honored Buddhism, Confucianism, and the Five Precepts
- Trần Nhân Tong: The King Who Founded the Truc Lam Zen School
- Tuệ Trung Thượng Sĩ: Living in the World, Joyful in the Way
- Tổ Cáy: Compassion for All Beings
- Ngô Thì Nhậm: The Zen Master of Vast Seas
- Nguyễn Du: The Genius Poet of Vietnam
- Nguyễn Đình Chiểu: The Poet of Morality
…. o ….
LỜI THƯA
Các truyện trong sách này dựa vào văn học truyền khẩu, và các sách chính sử ghi lại từ nhiều đời vua, bây giờ phần lớn đã đưa vào Wikipedia. Bản song ngữ thực hiện bởi Nguyên Giác Phan Tấn Hải vì lợi ích cho giới trẻ. Người viết không giữ bản quyền. Bất kỳ ai cũng có quyền in ấn, phổ biến toàn phần hay một phần trong mọi phương tiện khả dụng. Bố cục các truyện sẽ đi từ huyền thoại sang lịch sử, và văn hóa, trang bị cho giới trẻ cái nhìn tổng quan thích nghi, trước khi họ có thể tự nghiên cứu sâu hơn về đất nước, con người và Phật giáo Việt Nam.
…. o ….
PREFACE
The stories in this book are drawn from oral traditions and from historical records preserved across many dynasties—now largely accessible through Wikipedia. This bilingual edition has been prepared by Nguyên Giác Phan Tấn Hải for the benefit of the youth. The author claims no copyright. Anyone is free to print, share, or reproduce these stories, in whole or in part, through any available medium. The arrangement of the tales moves from legend to history, and then to culture, offering young readers a broad and adaptive overview—before they embark on deeper explorations of Vietnam’s land, its people, and its Buddhist heritage.
…. o ….
- CHA RỒNG, MẸ TIÊN
Truyện này ghi lại huyền thoại về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, những bộ tộc có tên cổ là Bách Việt, hình thành từ nhiều nhóm dân cổ đại ở nơi bây giờ là Miền Bắc Việt Nam. Con số 100 sắc tộc Việt chỉ là ước lệ. Truyện kể rằng 100 người con có cùng cha là rồng, mẹ là tiên để kêu gọi tất cả mọi người nơi cõi này hãy nuôi dưỡng lòng từ bi, yêu thương nhau, như là anh em ruột.
Ngày xưa, Âu Cơ là một nàng tiên xinh đẹp sống ở trên những ngọn núi cao. Nàng đã kết hôn với Lạc Long Quân là giống rồng, sinh ra 100 người con và đó là nguồn gốc dân tộc Việt Nam sau này.
Truyện kể rằng, Âu Cơ là một tiên nữ, con gái của vị vua cõi tiên. Nàng đi khắp bốn phương để giúp đỡ và chữa trị cho những người đang lâm bệnh và gặp khó khăn. Nàng có lòng từ bi và có tài về y thuật.
Một ngày nọ, một con quái vật làm nàng sợ hãi. Nàng liền biến thành phượng hoàng mà bay đi. Lạc Long Quân, là thần rồng từ biển cả, thấy nàng đang gặp nguy hiểm liền cầm lấy cục đá và giết quái vật.
Lạc Long Quân thấy Âu Cơ xinh đẹp nên đã đem lòng yêu mến. Ông bèn hóa thành một trang thiếu niên phong tư tú lệ, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh trống. Cung điện tự nhiên dựng lên. Âu Cơ thấy thế vui mừng e thẹn, bèn bằng lòng cùng Lạc Long quân đến Long Đài, sinh sống cùng nhau.
Vua cõi tiên không thấy Âu Cơ, sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Lạc Long Quân có phép thần thông biến hóa thành trăm hình vạn trạng yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi… làm cho bọn lính đi tìm đều sợ hãi không dám sục sạo. Lâu sau, Âu Cơ đẻ ra một cái bọc. Sau bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ kỳ dị, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng, cho là phi thường.
Một ngày nọ, Lạc Long Quân nói với nàng rằng vì hai người đến từ hai chủng tộc và môi trường rất khác nhau nên không thể chung sống với nhau trọn đời được. Họ bèn chia nhau mỗi người 50 đứa con, 50 theo mẹ, 50 theo cha. 50 người con theo mẹ đi đến ở Phong Châu, người anh cả trở thành vua Hùng Vương của nước Văn Lang.
Đền mẫu Âu Cơ là nơi thờ Mẹ Âu Cơ, được xây dựng từ thời Hậu Lê, nằm trên địa phận xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Tương truyền, Âu Cơ tới đây, cho các con cháu khai hoang, lập ấp, dạy dân cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Khi trang ấp ở Hiền Lương đã ổn định, phát triển, bà Âu Cơ lại cùng các con cháu đi khai phá các vùng đất mới. Sau này, bà đã quyết định trở về sống tại xã Hiền Lương, nơi gắn bó nhất với cả cuộc đời bà.
Tương truyền, ngày 25 tháng 12 năm Nhâm Thìn, Bà Âu Cơ cùng bày tiên nữ đã bay về trời để lại dưới gốc đa một dải yếm lụa. Sau này, nhân dân trong vùng đã dựng lên một ngôi miếu thờ phụng, đời đời hương khói tưởng nhớ công ơn của bà đối với toàn dân tộc Việt Nam. Ngày lễ chính của đền Mẫu Âu Cơ là ngày Tiên giáng mùng 7 tháng Giêng mỗi năm.
Sau khi chia tay với Quốc mẫu Âu Cơ, Lạc Long Quân cùng 50 người con còn lại xuôi đường lần ra Nam Hải. Đến đất Bình Đà (bây giờ là huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội) cách biển không xa, sông nước mênh mang, Lạc Long Quân truyền cho các con dừng chân dựng trại, nổi lửa nấu ăn. Đi dạo khắp vùng một lượt, thấy thế đất nơi đây màu mỡ, sông suối lượn quanh, nhiều thềm đất cao mang dáng long chầu hổ phục, bèn quyết định chọn đất này làm nơi dựng xây cơ nghiệp. Ngày ngày, Lạc Long Quân cùng quần thần văn võ dạy dân trồng dâu nuôi tằm dệt vải, đuổi diệt thú dữ. Lại truyền cho các con lựa chọn dân chúng khỏe mạnh, tỏa đi khắp vùng duyên hải khai khẩn đất hoang, lấn biển mở mang bờ cõi…
Chẳng bao lâu, cả vùng đất với trung tâm là xã Bảo Cựu, cuộc sống dân lành đã trở nên trù phú, mọi thảo khấu trong vùng bị dẹp tan. Ruộng đồng, làng xóm ngày một mở rộng, hình thành nên những làng xóm đầu tiên của châu thổ sông Hồng sau này. Lúc ấy, dân sống ở ven biển, xuống nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Đáp: “Giống sơn man và giống thủy tộc có thù với nhau, thường ghét nhau cho nên hại nhau đó”. Khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình Long Quân, theo dạng thủy quái. Từ đó, dân không bị tai họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đấy. Từ truyện này, người dân Việt thường nhắc nhau hãy yêu thương nhau như anh em ruột trong nhà.
…. o ….
- DRAGON FATHER, FAIRY MOTHER
This tale preserves the ancient legend of the origins of the Vietnamese people, once known collectively as the Bách Việt (the Hundred Việt tribes), formed from many ancient groups in what is now Northern Vietnam. The number “one hundred” is symbolic. The story tells of one hundred children born of a dragon father and a fairy mother, reminding all who dwell in this land to nurture compassion and love one another as true brothers and sisters.
Long ago, Âu Cơ was a beautiful fairy who lived high in the mountains. She married Lạc Long Quân, a dragon lord from the sea, and together they gave birth to one hundred children—the ancestors of the Vietnamese nation.
Âu Cơ was said to be the daughter of the King of the Fairy Realm. She wandered across the four directions, healing the sick and aiding those in distress. Her heart was filled with compassion, and she possessed great skill in medicine.
One day, a fearsome monster frightened her. She transformed into a phoenix and flew away. Lạc Long Quân, the dragon god of the seas, saw her in danger, seized a stone, and slew the beast.
Captivated by Âu Cơ’s beauty, Lạc Long Quân fell in love. He transformed into a handsome young adult, surrounded by attendants, singing and beating drums as palaces rose magically around him. Âu Cơ, both joyful and shy, agreed to dwell with him at Long Dai.
When the Fairy King discovered Âu Cơ missing, he sent his soldiers to search the world. But Lạc Long Quân wielded his powers, transforming into countless spirits, demons, dragons, serpents, tigers, and elephants, terrifying the searchers until they dared not continue.
In time, Âu Cơ gave birth to a magical pouch. After seven days, it burst open, revealing one hundred eggs. Each egg hatched into a son. They needed no nursing; they grew swiftly, handsome and extraordinary, each gifted with both wisdom and courage.
One day, Lạc Long Quân told Âu Cơ that because they came from different realms—the mountains and the seas—they could not remain together forever. They divided their children: fifty followed their mother to Phong Chau, where the eldest became Hung Vuong, the first king of Van Lang; fifty followed their father to the southern seas.
The Temple of Mother Âu Cơ, built during the Later Le dynasty, still stands in Hien Luong village, Ha Hoa district, Phu Tho province. Legend says Âu Cơ came here with her children, teaching them to cultivate rice, plant mulberry, raise silkworms, and weave cloth. When the land prospered, she led them to settle new regions, but eventually returned to Hien Luong, the place closest to her heart.
It is told that on the 25th day of the 12th lunar month in the Year of the Dragon, Âu Cơ and her fairy maidens ascended to heaven, leaving behind a silk sash beneath a banyan tree. The people built a shrine there, honoring her for generations. The temple’s main festival is held annually on the 7th day of the first lunar month, known as the Day of the Fairy’s Descent.
After parting from Mother Âu Cơ, Lạc Long Quân led his fifty sons southward to the Nam Hai. They reached Bình Đa (now Thanh Oai district, Hanoi), a fertile land near the sea. There he taught his children to build homes, weave cloth, and tame wild beasts. He sent them across the coastal plains to reclaim land and expand the borders.
Soon, the region flourished. Villages spread across the Red River Delta, and bandits were driven away. Yet fishermen near the sea were often attacked by sea monsters. Lạc Long Quân explained: “The mountain tribes and the water tribes are enemies; they harm each other.” He taught the people to tattoo their bodies with dragon and sea-creature designs, so the monsters would no longer attack. Thus began the tattooing tradition of the Hundred Viet tribes.
From this legend, the Vietnamese people remind one another: love each other as siblings, children of the same dragon father and fairy mother.
…. o ….
- PHẬT TỬ VIỆT NAM ĐẦU TIÊN
Vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, có chàng trai Chử Đồng Tử rất nghèo, gia sản không có cả áo quần, vì cái khố cũng cuối cùng chôn theo người cha quá cố. Nhờ tâm ly tham, và nhờ lòng hiếu thảo, do vậy phước đức sinh, Chử Đồng Tử cưới được công chúa. Hai vợ chồng bị vua đuổi đi, khi mua bán ngoài biển thì gặp một nhà sư, và họ trở thành những Phật tử Việt Nam đầu tiên.
Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên. Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Hưng Yên trong thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch. Một hôm, nhà cháy, chỉ còn chiếc khố, nên hai cha con thay nhau mặc. Khi rời nhà, Chử Đồng Tử mặc khố và cha phải ở nhà, và ngược lại.
Trong giờ hấp hối, người cha dặn con phải giữ lấy khố để mặc. Thương cha, Chử Đồng Tử cãi lời, liệm khố chôn theo cha. Chử Đồng Tử câu cá ban đêm, ban ngày bơi theo thuyền buôn để đổi thực phẩm.
Lúc đó, vua Hùng Vương thứ ba có con gái tên là Tiên Dung, cô thích đi thuyền du lịch khắp nước. Một hôm, công chúa và đoàn hầu tới Hưng Yên. Thấy đoàn thuyền rồng tới, Chử Đồng Tử vùi mình vào cát ẩn thân.
Tiên Dung quây màn quanh một bờ lau để tắm, không ngờ gần Chử Đồng Tử. Cô xối nước tắm, làm lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Ngạc nhiên và mắc cỡ, Tiên Dung hỏi sự tình. Rồi suy nghĩ kỹ, công chúa xin kết hôn với Chử Đồng Tử.
Buồn bực và giận dữ, Vua Hùng Hương cấm công chúa về cung. Cặp vợ chồng mới dọn về Hà Thám, mở chợ, buôn bán hàng để mưu sinh. Dân địa phương kính thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm chúa, để tỏ lòng mang ơn hai người làm cho khu vực trở nên thịnh vượng.
Chử Đồng Tử và bạn thương buôn thường du hành để mua bán. Một hôm, nhìn thấy ngọn núi Quỳnh Tiên của huyền thoại, Chử lên núi, gặp vị sư tên Phật Quang (nghĩa: ánh sáng Đức Phật) tu ở một ngôi chùa. Sau khi nghe sư thuyết pháp, Chử Đồng Tử giao hết tiền cho bạn thương buôn để ở lại học Phật Pháp với nhà sư.
Khi bạn thương buôn quay thuyền lại đón, Chử Đồng Tử được Phật Quang tặng một cây gậy và một chiếc nón lá thần thông. Chử Đồng Tử về nhà, kể cho vợ về giáo pháp giải thoát. Hai người bỏ việc buôn bán, lên đường tìm thầy học đạo.
Một hôm, hai vợ chồng thấy mệt, nên ngừng nghỉ giữa đồng, cắm gậy úp nón lên trên. Bỗng nửa đêm, thành quách, cung điện vàng hiện lên cùng với lính gác, người hầu. Dân chúng trong vùng kinh ngạc, tới dâng hương và trái cây, xin làm thần dân của hai người. Nơi này trở nên phồn thịnh và độc lập như một nước riêng.
Vua Hùng Vương nghĩ là dân vùng này có ý tạo phản, nên ra lệnh cho lính tới dẹp. Khi lính nhà vua tới, dân chúng xin ra trận chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và nói mọi người hãy bình yên.
Trời tối, quân nhà vua đóng trại bên kia sông, ở bãi Tự Nhiên. Đến nửa đêm, bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, lay động khắp vùng. Thành trì, cung điện, Tiên Dung, Chử Đồng Tử, lính gác và thần dân bay lên trời. Đất sụp xuống và trở thành một cái đầm lớn. Cho đó là điều linh dị, nhân dân bèn lập miếu thờ hai người, gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm).
Truyện vừa kể trên là từ văn học truyền khẩu. Nhưng hiện nay đang có ít nhất bốn ngôi đền cổ ở tỉnh Hưng Yên, nơi dân chúng tôn thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Vào thế kỷ thứ 6, Tướng Triệu Quang Phục đưa binh đoàn trú đóng trong Đầm Dạ Trạch để mai phục quân Trung Quốc xâm lăng. Đó là cuộc chiến du kích đầu tiên tại Việt Nam. Bản doanh chiến khu này bây giờ là xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Nhiều làng thuộc các tỉnh nằm ở hạ lưu châu thổ sông Hồng như Hưng Yên, Hà Nội, Hà Nam đều có thờ đức thánh Chử Đồng Tử, và Tiên Dung. Riêng ở Hưng Yên là có nhiều đền nhất, có 45 làng cùng thờ. Hằng năm vào ngày 10, 12/2 âm lịch, lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung lại được diễn ra.
…. o ….
- THE FIRST VIETNAMESE BUDDHIST DISCIPLE
In the 3rd century BCE, there lived a poor young man named Chử Đồng Tử. He owned nothing—not even clothes—for the last loincloth had been buried with his deceased father. Yet through his detachment from greed and his filial devotion, blessings arose: Chử Đồng Tử married a princess. Banished by the king, the couple lived by trading near the sea, where they encountered a monk and became the first Vietnamese Buddhists.
Chử Đồng Tử lived with his father, Chử Cù Vân, in Hưng Yên. One day, their house burned down, leaving only a single loincloth. Father and son took turns wearing it—one stayed home while the other ventured out. On his deathbed, the father urged his son to keep the cloth, but out of love, Chử Đồng Tử buried it with him. He survived by fishing at night and swimming after merchant boats by day to barter for food.
At that time, the third Hung King had a daughter named Tiên Dung, who loved to travel by boat across the land. One day, her royal fleet arrived in Hưng Yên. Seeing the dragon boats approach, Chử Đồng Tử buried himself in the sand to hide.
Tiên Dung set up a screen by the reeds to bathe, unaware that Chử lay hidden nearby. As she poured water, his body was revealed beneath the sand. Surprised and embarrassed, she questioned him, then, after reflection, chose to marry him.
Angered, the king forbade his daughter from returning to the palace. The couple settled in Ha Tham, opened a market, and prospered. The local people revered Chử Đồng Tử and Tiên Dung as their lords, grateful for the prosperity they brought.
Chử Đồng Tử often traveled with merchants. One day, he climbed the legendary Quỳnh Tiên Mountain and met a monk named Phat Quang (“Light of the Buddha”), who lived in a temple. After hearing the Dharma, Chu entrusted his wealth to his companions and remained to study.
When the merchants returned, Phật Quang gifted Chử Đồng Tử a staff and a magical conical hat. Chử returned home, shared the teachings of liberation with his wife, and together they abandoned trade to seek the Way.
One night, weary from travel, they rested in a field, planting the staff and covering it with the hat. At midnight, a golden palace arose, complete with guards and attendants. The astonished villagers offered incense and fruit, pledging themselves as subjects. The land flourished, independent like a kingdom of its own.
The Hung King suspected rebellion and sent troops. The villagers prepared to resist, but Tiên Dung only smiled, urging peace. That night, as the royal army camped across the river at Tu Nhien, a storm arose. The palace, guards, subjects, and the couple themselves ascended to heaven, while the earth collapsed into a vast lake. The people built a shrine, naming it Nhất Dạ Trạch Lake (“The One-Night Lake”).
This legend comes from oral tradition. Today, at least four ancient temples in Hưng Yên honor Chử Đồng Tử and Tiên Dung. In the 6th century, General Trieu Quang Phuc stationed his troops at Dạ Trạch Lake to ambush invading Chinese forces—Vietnam’s first guerrilla campaign. The site is now Dạ Trạch commune, Khoái Châu district, Hưng Yên province.
Many villages across the Red River Delta—Hưng Yên, Hanoi, Ha Nam—worship Saint Chử Đồng Tử and Princess Tiên Dung. Hưng Yên alone has 45 villages with temples dedicated to them. Each year, on the 10th and 12th days of the second lunar month, the Chử Đồng Tử–Tiên Dung Festival is celebrated.
…. o ….
- AN TIÊM: SỰ TÍCH TRÁI DƯA HẤU
An Tiêm và vợ con bị vua đày ra đảo vắng, nhưng lòng tin vào luật nhân quả đã cho họ niềm tin là sẽ không bị chết đói. Một hôm, chim mang hạt lạ tới đảo, rồi dưa hấu mọc lên đầy khắp. Khái niệm Trời trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam xưa cổ có thể dịch là nghiệp, tức là những ý nghĩ và hành động thiện hay ác sẽ dẫn tới những hoàn cảnh tương ưng. Chữ Trời trong truyện cổ Việt Nam tương ưng với hình ảnh Vua Trời Sakka trong Bản Sanh Truyện của Phật Giáo.
Ngày xưa, Vua Hùng Vương thứ 18 có nuôi một đứa trẻ thông minh khôi ngô, đặt tên là Mai Yển, hiệu là An Tiêm. Lớn lên, vua cưới vợ cho An Tiêm, và tin dùng ở triều đình. An Tiêm nói rằng tự sức mình tài giỏi mới gây dựng được sự nghiệp, chứ chẳng nhờ ai. Lời nói này đến tai vua. Vua cho là An Tiêm là kẻ vô ơn, bèn đầy An Tiêm cùng vợ con ra một hòn đảo xa, ở ngoài biển Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa, Bắc Việt). An Tiêm bình thản nói: “Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta, việc gì phải lo”.
Hai vợ chồng An Tiêm cùng đứa con sống hiu quạnh ở một bãi cát, trên hoang đảo. Họ ra sức khai khẩn, trồng trọt để kiếm sống. Một ngày kia, vào mùa hạ, có một con chim lạ từ phương tây bay đến đậu trên một gò cát. Chim nhả mấy hạt gì xuống đất. Được ít lâu, thì hạt nẩy mầm, mọc dây lá cây lan rộng.
Cây nở hoa, kết thành trái to. Rất nhiều trái vỏ xanh, ruột đỏ. An Tiêm bảo vợ: “Giống cây này tự nhiên không trồng mà có. Tức là vật của Trời nuôi ta đó”. Rồi An Tiêm hái nếm thử, thấy vỏ xanh, ruột đỏ, hột đen, mùi vị thơm và ngon ngọt, mát dịu. An Tiêm bèn lấy hột gieo trồng khắp nơi, sau đó mọc lan ra rất nhiều.
Một ngày kia, có một chiếc tàu bị bão dạt vào cù lao. Mọi người lên bãi cát, thấy có nhiều quả lạ, ngon. Họ đua nhau đổi thực phẩm cho gia đình An Tiêm. Rồi từ đó, tiếng đồn đi là có một giống dưa rất ngon ở trên đảo. Các tàu buôn tấp nập ghé đến đổi chác đủ thứ vật dụng và thực phẩm cho gia đình An Tiêm. Nhờ đó mà gia đình bé nhỏ của An Tiêm trở nên đầy đủ, cuộc sống phong lưu.
Vì chim đã mang hột dưa đến từ phương Tây, nên An Tiêm đặt tên cho thứ trái cây này là Tây Quạ. Người Trung Hoa ăn thấy ngon, khen là “hẩu”, nên về sau người ta gọi trại đi là Dưa Hấu.
Ít lâu sau, Vua sai người ra cù lao ngoài biển Nga Sơn dò xét xem gia đình An Tiêm ra làm sao, sống hay chết. Sứ thần về kể lại cảnh sống sung túc và nhàn nhã của vợ chồng An Tiêm, nhà vua ngẫm nghĩ thấy thầm phục đứa con nuôi, bèn cho triệu An Tiêm về phục lại chức vị cũ trong triều đình.
An Tiêm đem về dâng cho Vua giống dưa hấu mà mình may mắn có được. Rồi phân phát hột dưa cho dân chúng trồng ở những chỗ đất cát, làm giầu thêm cho xứ Việt một thứ trái cây danh tiếng. Hòn đảo mà An Tiêm ở, được gọi là Châu An Tiêm.
Ngày nay, tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, có một dãy núi mang tên Mai An Tiêm, tương truyền chính là hòn đảo xưa kia vợ chồng An Tiêm đi đày. Dưới chân núi này có đền thờ ông và được nhân dân địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 12 đến 15 tháng Ba âm lịch hàng năm.
…. o ….
- AN TIÊM: THE LEGEND OF THE WATERMELON
An Tiêm and his family were exiled to a deserted island by the king. Yet their faith in the law of cause and effect gave them confidence that they would not starve. One day, a bird brought strange seeds to the island, and soon watermelons grew in abundance. In ancient Vietnamese belief, “Heaven” (Trời) can be understood as karma—the idea that wholesome or unwholesome thoughts and actions lead to corresponding circumstances. In Buddhist tradition, this image of Heaven resembles King Sakka in the Jataka tales.
Long ago, the eighteenth Hung King raised a bright and handsome boy named Mai Yen, later known as An Tiêm. When grown, the king gave him a wife and trusted him at court. But An Tiêm declared that his success came from his own abilities, not from others. The king, hearing this, judged him ungrateful and banished him with his family to a distant island off Nga Son (Thanh Hóa province). Calmly, An Tiêm said: “Heaven gave me life; life and death lie with Heaven and with me—why should I worry?”
On the lonely sands of the island, An Tiêm and his family worked hard to survive. One summer day, a strange bird from the west landed on a dune and dropped seeds. Soon vines spread, blossomed, and bore large fruits—green on the outside, red within. An Tiêm told his wife: “This plant grows without our planting. It is Heaven’s gift to sustain us.” He tasted the fruit: green rind, red flesh, black seeds, fragrant and sweet, cool and refreshing. He sowed the seeds across the island, and watermelons flourished everywhere.
One day, a storm drove a merchant ship ashore. The sailors discovered the strange, delicious fruit and eagerly traded food for An Tiêm’s harvest. Word spread of the wondrous melons, and soon ships came regularly, exchanging goods and provisions. The family prospered, living in abundance.
Because the bird had brought seeds from the west, An Tiêm named the fruit Tay Qua (“Western Gourd”). The Chinese, tasting it, praised it as hao (“good”), and over time the name became dua hau—watermelon.
Later, the king sent envoys to see whether An Tiêm’s family had survived. They reported a life of comfort and plenty. The king, impressed, recalled his foster son to court. An Tiêm presented the king with watermelons and shared the seeds with the people, who planted them in sandy soils. Thus Vietnam gained a famous fruit. The island where An Tiêm lived became known as Chau An Tiêm.
Today, in Nga Phu commune, Nga Son district, Thanh Hoa province, there is a mountain range named Mai An Tiêm, said to be the very island of exile. At its foot stands a temple to An Tiêm, where each year, from the 12th to the 15th day of the third lunar month, a festival is held in his honor.
…. o ….
- SƠN TINH VÀ THỦY TINH
Vua Hùng Vương thứ 8 gả công chúa cho Sơn Tinh, vị thần núi. Thủy Tinh, vị thần nước, tới cầu hôn trễ, nên nổi giận, gây mưa lụt hàng năm. Nhưng nước lụt dâng cao tới đâu, Sơn Tinh cho núi mọc cao hơn để chống lại. Truyền thuyết này đề cao sức mạnh của cộng đồng người Việt cổ trong công cuộc đắp đê, trị thủy, cho thấy sức chịu đựng và mạnh con người trước thiên tai khắc nghiệt. Truyện cho thấy tâm tham dẫn tới tâm sân hận, và hai tâm đều là cội nguồn bất thiện, dẫn tới hư hoại.
Sách sử chép rằng Vua Hùng thứ 18 có một Công chúa rất xinh đẹp tên là Mỵ Nương. Vua mới ban truyền trong nhân gian tìm nhân tài kén làm phò mã. Sau có hai chàng trai đến xin hỏi cưới. Cả hai đều rất tài giỏi. Một là Sơn Tinh, hai là Thủy Tinh.
Sơn Tinh còn được gọi là Tản Viên Sơn Thánh, thần cai quản vùng núi. Sơn Tinh chỉ tay đến đâu núi rừng mọc lên đến đấy, muông thú đầy đàn. Thủy Tinh là thần nước, khi vẫy tay thì nước dâng lên cao, thú dữ từ sông như ba ba, thuồng luồng nổi đầy mặt nước.
Nhà vua không biết nên chọn ai, bèn quyết định chỉ gả Mỵ Nương cho người nào đến trước với sính lễ là một trăm ván cơm nếp, một trăm xấp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.
Hôm sau, trời vừa hửng sáng, Sơn Tinh đã đến trước cổng thành với tất cả lể vật cầu hôn công chúa. Vua Hùng rất mừng bèn gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh. Thủy Tinh đến trễ, và ngỡ ngàng khi biết Mỵ Nương đã theo chồng là Sơn Tinh. Thần lập tức đuổi theo và kêu binh tướng đánh Sơn Tinh để đòi lại Mỵ Nương.
Hai thần đánh nhau trời long đất lở. Thủy Tinh làm phép dâng nước định dìm chết Sơn Tinh, Sơn Tinh làm phép cho núi dâng cao cản nước. Thủy Tinh càng làm nước dâng cao, Sơn Tinh càng làm núi mình cao hơn. Sơn Tinh đã dùng phép thuật bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi để đắp đê, ngăn lũ lụt. Cuối cùng Thủy Tinh đánh không lại, chịu thua. Từ đó, Sơn Tinh và Mỵ Nương sống hạnh phúc bên nhau.
Tuy nhiên, hàng năm cứ vào khoảng tháng 7 âm lịch, Thủy Tinh lại nhớ đến thù xưa và dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Nhưng lần nào cũng bị Sơn Tinh đánh bại.
Người dân mang ơn Sơn Tinh đã giúp dân khai sơn, trị thuỷ, làm nông nghiệp. Họ gọi ngài là thần núi Tản Viên, hàng năm mở lễ hội ở Đền Thượng trên núi Ba Vì, Hà Nội.
…. o ….
- SƠN TINH AND THỦY TINH: LORDS OF MOUNTAIN AND SEA
The eighth Hung King gave his daughter in marriage to Sơn Tinh, the Mountain God. Thủy Tinh, the Water God, arrived late to propose and, enraged, unleashed floods year after year. Yet whenever the waters rose, Sơn Tinh raised the mountains higher to resist. This legend celebrates the strength of the ancient Vietnamese people in building dikes and taming rivers, showing human resilience against harsh natural disasters. It also teaches that greed leads to anger, and both are roots of destruction.
History records that the eighteenth Hung King had a beautiful daughter named Mỵ Nương. The king announced a contest to find a worthy son-in-law. Two suitors appeared, both gifted: Sơn Tinh and Thủy Tinh.
Sơn Tinh, also called Tản Viên Son Thanh, ruled the mountains. Wherever he pointed, forests sprang up and animals gathered. Thủy Tinh, lord of the waters, raised rivers at a wave of his hand, filling them with fierce creatures—giant turtles and water dragons.
The king, uncertain whom to choose, declared that Mỵ Nương would wed the one who arrived first with the bridal gifts: one hundred trays of sticky rice, one hundred bundles of Bánh Chưng (square rice cakes), elephants with nine tusks, roosters with nine spurs, and horses with nine red manes—each in pairs.
At dawn the next day, Sơn Tinh arrived at the palace gates with all the gifts. The king rejoiced and gave Mỵ Nương to him. Thủy Tinh came too late, and upon learning she had wed Sơn Tinh, he pursued them with his army, demanding her return.
The two gods clashed, shaking heaven and earth. Thủy Tinh raised the waters to drown Sơn Tinh, but Sơn Tinh lifted the mountains higher. The more Thủy Tinh flooded, the higher Sơn Tinh raised the land. He moved hills and shifted ranges to build dikes and block the torrents. At last, Thủy Tinh was defeated, and Sơn Tinh lived happily with Mỵ Nương.
Yet each year, around the seventh lunar month, Thủy Tinh remembered his old grudge and sent floods to attack again. Each time, Sơn Tinh prevailed.
The people honored Sơn Tinh for teaching them to cultivate the land, tame the waters, and farm the valleys. They revered him as Tản Viên, the Mountain God, and each year they hold a festival at Đền Thượng Temple on Ba Vì Mountain, Hanoi.
…. o ….
- ĂN KHẾ, TRẢ VÀNG
Ngày xưa, có hai anh em chia gia tài. Khi người anh kết hôn, anh ta chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn và gia súc, chỉ để lại cho người em một cây khế duy nhất. Một ngày nọ, một con chim lạ đến ăn quả, rồi đưa người em đến một hòn đảo xa xôi đầy vàng bạc châu báu. Người anh thấy em mình giàu có, liền đòi đổi nhà cửa ruộng vườn lấy cây khế. Khi con chim đến lần nữa và đưa anh ta đi, lòng tham lam khiến anh ta lấy quá nhiều, và con chim nghiêng cánh, thả anh ta xuống một hòn đảo hoang vắng. Câu chuyện này dạy rằng: đừng tham lam – hãy sống biết đủ, và hạnh phúc sẽ đến.
Truyện kể rằng, người em, dù nghèo khó, vẫn chăm sóc cây khế chu đáo và làm thuê kiếm sống. Năm đó, cây khế ra quả vàng trĩu trịt. Một con phượng hoàng hạ xuống ăn, và người em khóc: “Chim ơi, cây này là tất cả những gì tôi có. Nếu chim ăn hết, gia đình tôi sẽ sống sao đây?”
Con chim đáp: “Mỗi quả ngươi cho ta, ta sẽ trả lại bằng vàng. Hãy may một cái túi rộng ba gang tay, rồi mang theo.”
Người em làm theo. Chim phượng hoàng đưa anh ta vượt qua núi non biển cả đến một hòn đảo kỳ diệu đầy châu báu. Anh chỉ lấy đầy cái túi ba gang tay, không lấy thêm nữa. Trở về nhà, anh làm ăn phát đạt và chia sẻ của cải cho người nghèo.
Người anh nghe chuyện, liền đòi cây khế. Mùa sau, chim phượng hoàng lại đến. Người anh giả vờ khóc, và con chim lặp lại lời hứa. Tham lam, anh ta sai may một cái túi rộng mười hai gang tay. Trên đảo, anh ta nhét đầy túi và giấu vàng trong quần áo. Chim phượng hoàng khó khăn lắm mới bay được, thúc giục anh ta vứt bớt đi, nhưng anh ta từ chối. Cuối cùng, con chim nghiêng cánh, và anh ta rơi xuống biển.
Người anh sống sót, trôi dạt vào một hòn đảo hoang vắng, cho đến khi ngư dân cứu được anh ta nhiều năm sau đó. Xấu hổ, anh trở về và xin lỗi em trai. Từ đó, hai anh em cùng nhau làm việc chăm chỉ, sống hạnh phúc bên nhau. Họ học được cách sống biết đủ, không tham lam và biết ơn những gì mình có.
…. o ….
- THE STARFRUIT TREE AND THE GOLDEN DEBT
Long ago, two brothers divided their inheritance. When the elder married, he seized all the houses, fields, and cattle, leaving only a single starfruit tree for his younger brother. One day, a strange bird came to eat the fruit, then carried the younger brother to a faraway island filled with gold and jewels. The elder, seeing his brother grow rich, demanded to exchange his house and fields for the starfruit tree. When the bird came again and carried him away, his greed made him take too much, and the bird tilted its wings, dropping him on a deserted island. This story teaches: do not be greedy—live with contentment, and happiness will follow.
The younger brother, though poor, tended the starfruit tree faithfully and worked as a hired laborer. That year, the tree bore golden fruit in abundance. A phoenix descended to eat, and the brother wept: “Bird, this tree is all I have. If you eat it all, how will my family survive?”
The bird replied: “For every fruit you give, I repay with gold. Sew a bag three handspans wide, and bring it along.”
The brother obeyed. The phoenix carried him across mountains and seas to a wondrous island of treasures. He filled his three-span bag, but took no more. Returning home, he prospered and shared his wealth with the poor.
The elder, hearing of this, demanded the starfruit tree. The next season, the phoenix came again. The elder pretended to weep, and the bird repeated its promise. Greedy, he ordered a bag twelve spans wide. On the island, he stuffed it full and hid gold in his clothes. The phoenix struggled to fly, urging him to discard some, but he refused. At last, the bird tilted its wings, and he fell into the sea.
He survived, cast upon a deserted island, until fishermen rescued him years later. Ashamed, he returned and apologized to his brother. From then on, the two worked diligently, living happily together. They learned to be content, free from greed, and grateful for what they had.
…. o ….
- TRƯƠNG CHI VÀ MỴ NƯƠNG
Ngày xưa, có một thiếu nữ tên là Mỵ Nương, con gái của một vị quan lớn. Nàng vô cùng xinh đẹp, nhưng cuộc sống của nàng lại giống như một con chim bị nhốt trong chiếc lồng rộng lớn – chính là dinh thự nguy nga của cha nàng. Thấy nàng buồn bã, cha nàng đã xây một cái đình nhỏ bên bờ sông để nàng có thể nghỉ ngơi và tìm thấy niềm vui.
Ở đó, nàng dành cả ngày để thêu thùa, đọc sách và lắng nghe tiếng sáo du dương vọng lại từ phía bên kia sông. Tiếng sáo ấy là của Trương Chi, một người đánh cá nghèo ở làng ven sông. Tiếng sáo của anh trong trẻo và da diết, nhưng vẻ ngoài của anh lại vô cùng xấu xí và thô kệch.
Một mùa nọ, tiếng sáo bỗng im bặt. Mỵ Nương, nhớ nhung tiếng sáo ấy, lâm bệnh. Các thầy thuốc đến chữa trị nhưng không ai chữa khỏi. Cuối cùng, cha nàng phát hiện ra rằng tiếng sáo của Trương Chi chính là nguyên nhân khiến nàng nhớ nhung. Ông cho gọi chàng trai đến thổi sáo. Nhưng khi nhìn thấy vẻ ngoài xấu xí của anh, ông ra lệnh cho Trương Chi đứng ngoài sân, chỉ được thổi sáo từ xa. Nghe thấy những giai điệu quen thuộc, Mỵ Nương nhanh chóng khỏi bệnh. Nàng muốn gặp người thổi sáo, và cha nàng miễn cưỡng đồng ý. Nhưng khi nhìn thấy Trương Chi, sự thất vọng tràn ngập trái tim nàng. Khuôn mặt anh quá thô kệch, và nàng trở nên lạnh lùng, đuổi anh đi. Phép màu của tiếng sáo đã tan biến.
Tuy nhiên, Trương Chi đã yêu Mỵ Nương sâu đậm. Anh thổ lộ tình cảm của mình, nhưng nàng từ chối. Đau khổ, xấu hổ vì sự nghèo khó và vẻ ngoài của mình, anh suy sụp – mất ngủ, không còn niềm vui, cho đến khi qua đời. Những người đánh cá cùng làng chôn cất anh bên bờ sông. Sau đó, khi họ mở mộ, họ không tìm thấy thi thể mà chỉ thấy một quả cầu pha lê, trong suốt như ngọc, to bằng quả cam. Họ gắn nó vào bên cạnh chiếc thuyền cũ của anh.
Một ngày nọ, cha của Mỵ Nương nhìn thấy viên ngọc sáng lấp lánh và mua nó. Ông cho người khắc thành một chiếc tách trà tinh xảo. Nghe nói về chiếc tách đẹp, Mỵ Nương muốn dùng thử. Nhưng khi nàng rót trà, hình ảnh của Trương Chi hiện lên bên trong, và những nốt nhạc buồn bã của tiếng sáo lại vang lên, như một lời than thở. Trái tim nàng dâng trào nỗi buồn và sự hối tiếc. Một giọt nước mắt rơi xuống tách trà – và ngay lập tức, viên pha lê tan chảy thành nước.
Truyện này cho thấy rằng bị mê hoặc bởi hình sắc và âm thanh sẽ mang lại đau khổ; những gì chúng ta mơ tưởng không phải lúc nào cũng phản ánh thực tế. Tự do thực sự chỉ đến khi chúng ta biết buông bỏ.
…. o ….
- TRƯƠNG CHI AND MỴ NƯƠNG
Long ago, there was a maiden named Mỵ Nương, daughter of a high official. She was exquisitely beautiful, yet her life felt like that of a bird trapped in a vast cage—the grand mansion of her father. Seeing her sadness, he built a small riverside pavilion where she could rest and find joy.
There, she spent her days embroidering, reading, and listening to the enchanting sound of a flute drifting across the water. The music came from Trương Chi, a poor fisherman of the riverside village. His flute was pure and haunting, yet his appearance was painfully plain and homely.
One season, the flute fell silent. Mỵ Nương, longing for its melody, grew ill. Physicians came, but none could cure her. At last, her father discovered that the music of Trương Chi was the source of her yearning. He summoned the young man to play. But seeing his ugliness, he ordered that Trương Chi remain outside, playing only from the courtyard. Hearing the familiar notes, Mỵ Nương recovered swiftly. She asked to meet the musician, and reluctantly her father agreed. Yet when she saw Trương Chi, disappointment filled her heart. His face was too coarse, and she turned cold, sending him away. The spell of the flute was broken.
Trương Chi, however, had already fallen deeply in love with Mỵ Nương. He confessed his feelings, but she rejected him. Heartbroken, ashamed of his poverty and appearance, he wasted away—sleepless, joyless, fading until he died. His fellow fishermen buried him by the river. When they later opened his grave, they found not a body, but a crystal sphere, clear as jade, the size of an orange. They fastened it to the side of his old boat.
One day, Mỵ Nương’s father saw the shining gem and purchased it. He had it carved into a delicate teacup. Hearing of the beautiful cup, Mỵ Nương asked to use it. But as she poured tea, the image of Trương Chi appeared within, and the flute’s mournful notes rose again, like a lament. Her heart stirred with sorrow and regret. A single tear fell into the cup—and at once, the crystal melted away into water.
This story teaches us that being captivated by appearances and sounds can bring pain; our dreams do not always reflect reality. True freedom comes only when we learn to let go.
…. o ….
- CÂY TRE TRĂM ĐỐT
Ngày xưa, một người nông dân nghèo tin vào lời hứa của một địa chủ giàu có: nếu anh ta làm việc chăm chỉ trong ba năm, anh ta sẽ được gả con gái của người phú hộ. Đến hạn, địa chủ yêu cầu người nông dân phải mang về một cây tre có một trăm đốt – một nhiệm vụ bất khả thi, vì không có cây tre nào mọc dài đến vậy. Trong tuyệt vọng, người nông dân lang thang trong rừng cho đến khi một vị hiền triết già xuất hiện, dạy anh ta một câu thần chú để nối một trăm đoạn tre thành một thân cây duy nhất. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta: những người sống với trái tim trong sáng sẽ luôn được chư thiên bảo vệ.
Trong một ngôi làng, một người giàu có thuê một người nông dân khỏe mạnh nhưng nghèo khó để cày ruộng cho mình. Địa chủ giàu có về lúa gạo và bạc, nhưng lại keo kiệt về tinh thần. Để tránh phải trả tiền công, ông ta nghĩ ra một kế hoạch: “Hãy làm việc trên ruộng của ta trong ba năm, rồi ngươi có thể cưới con gái ta.”
Người nông dân, trung thực và tin tưởng, đã đồng ý. Dưới nắng mưa, hết mùa này đến mùa khác, anh ta làm việc không ngừng nghỉ. Mỗi vụ thu hoạch mang lại cho địa chủ nhiều lúa hơn, và sự giàu có của ông ta càng tăng lên.
Ba năm trôi qua. Người nông dân trở về, mong chờ cuộc hôn nhân đã hứa. Nhưng địa chủ, không muốn gả con gái cho một người nghèo, lại bày mưu tính kế. Ông ta nói: “Ngươi sẽ được cưới con gái ta – nếu ngươi mang đến cho ta một cây tre có một trăm đốt, để làm đũa cho bữa tiệc cưới.”
Người nông dân cầm rìu lên đường, tìm kiếm trong rừng. Anh ta chặt hết cây tre này đến cây tre khác, đếm từng đốt, nhưng không cây nào đạt đến một trăm đốt. Ngay cả những cây cao nhất cũng chỉ có bốn mươi đốt. Kiệt sức, bị gai đâm, anh ta ngồi xuống và khóc.
Đột nhiên, một ông lão tóc bạc, mặt hồng hào xuất hiện. “Sao con lại khóc, con trai?” ông hỏi. Người nông dân kể lại hoàn cảnh của mình. Vị hiền triết trả lời: “Hãy chặt một trăm đoạn tre và mang chúng đến đây. Ta sẽ giúp con.”
Người nông dân làm theo. Vị hiền triết chỉ vào đống tre và nói: “Hãy nói ba lần: ‘Nối lại với nhau, nối lại với nhau.’”
Một cách kỳ diệu, một trăm đoạn tre hợp lại thành một thân cây cao vút. Sau đó, vị hiền triết dạy: “Khi con muốn tách chúng ra lần nữa, hãy nói ba lần: ‘Tách ra, tách ra.’”
Nói xong, vị hiền triết biến mất. Người nông dân mang bó tre trở về làng. Tại đó, người nông dân phát hiện ra rằng chủ đất đã gả con gái mình cho một người giàu có khác, đang tổ chức tiệc tùng linh đình với bò, heo và rượu.
Người nông dân lặng lẽ đặt những đoạn tre xuống sân. Chủ đất chế giễu: “Ta yêu cầu một cây tre có trăm đốt, chứ không phải một trăm đoạn tre!”
Người nông dân thì thầm: “Nối lại, nối lại.” Ngay lập tức, các đoạn tre nối lại thành một cây tre duy nhất. Kinh ngạc, chủ đất chạm vào nó. Người nông dân lại niệm chú, và chủ đất bị dính chặt vào cây tre.
Những người giàu có khác vội vàng đến giúp đỡ, nhưng mỗi lần người nông dân niệm chú—“Nối lại, nối lại”—họ cũng bị dính chặt vào cây tre. Hoảng sợ, chủ đất cầu xin: “Hãy thả chúng tôi ra! Ngươi sẽ được cưới con gái ta, và ta sẽ không bao giờ lừa dối ngươi nữa!”
Chỉ khi đó, người nông dân mới bình tĩnh niệm chú: “Tách ra, tách ra.” Những người đàn ông được giải thoát. Đúng như lời hứa, chủ đất đã gả con gái mình cho người nông dân. Và thế là người đàn ông trung thực và vợ của anh ta sống hạnh phúc mãi mãi về sau.
…. o ….
- THE HUNDRED-KNOT BAMBOO
Long ago, a poor farmer trusted the promise of a wealthy landowner: if he worked faithfully for three years, he would be given the landowner’s daughter in marriage. When the time came, the landowner demanded that the farmer bring back a bamboo stalk with one hundred joints—an impossible task, for no bamboo grows so long. In despair, the farmer wandered the forest until an old sage appeared, teaching him a magic chant to bind one hundred bamboo segments into a single stalk. The story reminds us: those who live with a pure heart will always be protected by the guardians of virtue.
In a village, a rich man hired a strong but poor farmer to plow his fields. The landowner was wealthy in rice and silver, yet miserly in spirit. To avoid paying wages, he devised a scheme: “Work my fields for three years, and then you may marry my daughter.”
The farmer, honest and trusting, agreed. Through sun and rain, season after season, he labored tirelessly. Each harvest brought the landowner more grain, and his wealth grew greater still.
Three years passed. The farmer returned, expecting the promised marriage. But the landowner, unwilling to give his daughter to a poor man, plotted again. He said: “You shall have my daughter—if you bring me a bamboo stalk with one hundred knots, to make chopsticks for the wedding feast.”
The farmer set out with his axe, searching the forest. He cut bamboo after bamboo, counting each joint, but none reached one hundred. Even the tallest stalks had only forty. Exhausted, torn by thorns, he sat and wept.
Suddenly, an old man with silver hair and rosy face appeared. “Why do you cry, child?” he asked. The farmer explained his plight. The sage replied: “Cut one hundred bamboo segments and bring them here. I will help you.”
The farmer obeyed. The sage pointed to the pile and said: “Say three times: ‘Join together, join together.’”
Miraculously, the hundred pieces fused into one towering stalk. Then the sage taught: “When you wish to separate them again, say three times: ‘Separate apart, separate apart.’”
With that, the sage vanished. The farmer carried the bundles back to the village. There he discovered the landowner had already married his daughter to another rich man, feasting with oxen, pigs, and wine.
Quietly, the farmer laid the bamboo pieces in the courtyard. The landowner scoffed: “I asked for one bamboo stalk of a hundred knots, not a hundred pieces!”
The farmer whispered: “Join together, join together.” At once, the pieces joined into a single stalk. Astonished, the landowner touched it. The farmer chanted again, and the landowner stuck fast to the bamboo.
Other wealthy men rushed to help, but with each chant—“Join together, join together”—they too became bound to the stalk. Terrified, the landowner begged: “Release us! You shall marry my daughter, and I will never deceive you again!”
Only then did the farmer calmly chant: “Separate apart, separate apart.” The men fell free. True to his word, the landowner gave his daughter to the farmer. And so the honest man and his bride lived happily ever after.
…. o ….
- THẦN CỦA NGHỀ ĐÚC ĐỒNG: THIỀN SƯ KHÔNG LỘ
Truyện này kể về Thiền sư Không Lộ (1016-1094), một vị sư có thật trong lịch sử Việt Nam nhưng cuộc đời mang nhiều tính huyền thoại qua lời kể dân gian vì được tin là ngài có những thần thông kỳ bí.
Ngày xưa, một nhà sư Việt Nam đã tới gặp vua Trung Quốc, mang tất cả đồng trong kho vị vua này về Việt Nam, và sau đó trở thành vị thần bảo hộ cho thợ nghề đúc đồng. Ngài có họ là Dương. Pháp danh là Không Lộ, nghĩa là Lối Đi Tánh Không. Khi một số dân làng phát âm khác đi, pháp danh này có nghĩa là “Khổng Lồ.”
Không Lộ (1016-1094) sinh ở huyện Hải Thanh, tỉnh Nam Định. Xuất gia theo học với Thiền sư Lôi Hà Trạch, ngài tu thiền rất chuyên cần. Ngài có nhiều thần thông – như bay trên không, bước trên mặt sông, hay hàng phục cọp. Ngài có một túi xách, trông bình thường nhưng có thể chứa nhiều vật lớn. Ngài cũng có một cây gậy rất nặng.
Một hôm, nhà vua Việt Nam nói với Không Lộ, “Thưa Thiền Sư, ta muốn trang bị phẩm vật cho tất cả các chùa trong nước; nhưng trong nước không có nguyên liệu đồng đen. Ta nghe rằng vua Trung Quốc là Phật tử nhiệt tâm, và thường cúng dường các sư. Ta muốn thỉnh sư sang gặp vua Trung Quốc và lạc quyên đồng về.”
Sau nhiều ngày đi bộ vượt núi, xuyên rừng và qua sông, Không Lộ tới thủ đô Trung Quốc. Khi nhà sư khổng lồ xuất hiện ở cung điện, vua Trung Quốc hỏi, “Bạch Hòa thượng, ngài từ đâu tới? Ta có thể cúng dường gì cho ngài?”
Không Lộ trả lời, “Sư muốn có một ít đồng đen đề về đúc làm phẩm vật cho các chùa Việt Nam.”
Nghĩ rằng nhà sư mang theo nhiều người, vua hỏi, “Bạch Hòa Thượng, quý quốc cần bao nhiêu đồng? Thầy mang theo bao nhiêu người?”
Sư Không Lộ nói, “Sư tới đây một mình, và chỉ xin đồng cho đủ túi xách này.”
Vua Trung Quốc nhìn chiếc túi xách nhỏ, và nói, “Thầy có mang cả trăm túi xách, ta cũng sẵn sàng để Thầy lấy đồng đủ cả trăm túi.”
Vua ra lệnh một nội thị dẫn nhà sư tới kho vua với lời hứa rằng Sư Không Lộ có thể lấy bao nhiêu tùy sức mang về. Trên đường vào nhà kho, có một sân rất rộng trên đó có một tượng trâu vàng, lớn như ngôi nhà và sáng chói như mặt trời.
Quan giữ kho chỉ vào trâu vàng và nói giỡn với nhà sư, “Kính thưa Thiền Sư, ngài có cần trâu vàng này không?”
Không Lộ nói, “Không. Ta chỉ cần một ít đồng đen thôi.”
Trong khi viên quan kinh ngạc nhìn, Không Lộ đưa tất cả đồng đen trong kho vua rất lớn vào túi xách của sư, móc vào đầu gậy và bước ra. Quan giữ kho vội vã trình báo lên vua rằng đồng bị lấy cả rồi. Vua Trung Quốc không bao giờ ngờ có chuyện như thế; vua hối tiếc, ra lệnh 500 chiến binh phóng ngựa chạy theo chận để bắt nhà sư.
Sau khi vượt 300 dặm với túi nặng trên vai, Không Lộ nghe tiếng lính kỵ binh Trung Quốc hò hét từ phía sau. Tới một dòng sông lớn, nhà sư nhìn lại, thấy đoàn lính phóng ngựa gần tới giữa đám mây bụi mịt mù.
Không Lộ bước đi trên mặt sông; tới giữa sông, nhà sư quay lưng lại, nói với các chiến binh vừa dừng ngựa ở bờ sông, “Ta muốn gửi lời cảm ơn tới Vua Trung Quốc, và ta hy vọng đã không làm phiền tới quý vị.”
Trở về thủ đô Việt Nam, Không Lộ kể cho nhà vua về chuyến đi. Vua Việt Nam yêu cầu sư lấy đồng để làm bốn bảo khí Phật Giáo có thể trường tồn nhiều ngàn năm. Không Lộ mời các thợ đồng giỏi nhất nước tới làm việc, và chia đồng làm bốn phần.
Trước tiên, Không Lộ xây một tháp chín tầng, đặt tên là tháp Bảo Thiên. Ngôi tháp đứng cao vút giữa thủ đô, dân nơi này từ các hướng đều thấy tháp rõ ràng. Kế tiếp, sư đắp một pho tượng Phật cao sáu trượng (khoảng 20 mét), và một chiếc đỉnh lớn với chu vi bằng 10 người ôm.
Sau khi dùng số đồng còn lại làm chuông, Không Lộ đánh chuông, nghe tiếng ngân đầu tiên vang xa, tới tận Trung Quốc. Đánh thức bởi tiếng chuông, tượng trâu vàng trước kho vua đứng chồm dậy và phóng về hướng nam nhiều ngàn dặm. Thấy chuông mới đúc xong, trâu vàng ngửi ngửi và nằm xuống kế bên chuông.
Không Lộ lo ngại chiến tranh có thể bùng nổ nếu vàng chảy vào Việt Nam. Thiền sư nói với nhà vua, và được phép ném quả chuông khổng lồ để tránh cuộc chiến có thể xảy ra.
Một hôm, Không Lộ xách quả chuông lên núi, ném chuông xuống Hồ Tây. Chuông bay cao lên không, và rơi ùm vào hồ. Nghe tiếng chuông bay, trâu vàng phóng theo tiếng chuông và nhảy vào Hồ Tây, nơi từ đó còn được gọi là Hồ Trâu Vàng.
Sau khi viên tịch, Thiền Sư Không Lộ được thờ như vị thần bảo hộ cho thợ đúc đồng.
Ngài để lại vài bài thơ, trong đó các câu sau thường được nhắc tới:
Ta đôi khi bước lên đỉnh núi cao
hét to một tiếng dài, làm cả bầu trời lạnh băng.
…. o ….
- THE PATRON SAINT OF BRONZE CASTING: ZEN MASTER KHÔNG LỘ
This tale tells of Zen Master Không Lộ (1016–1094), a historical monk of Vietnam whose life became legendary in folk tradition, for he was believed to possess wondrous supernatural powers.
Long ago, a Vietnamese monk journeyed to meet the Emperor of China. He carried back all the bronze from the emperor’s treasury to Vietnam, and later became the guardian spirit of bronze casters. His family name was Dương. His Dharma name was Không Lộ, meaning The Path of Emptiness. In local dialects, it was sometimes pronounced as Không Lộ—“The Giant.”
Không Lộ was born in Hai Thanh district, Nam Định province. He studied under Zen Master Lôi Hà Trạch, practicing meditation with great diligence. He was said to fly through the air, walk upon rivers, and subdue tigers. He carried a simple-looking bag that could hold vast objects, and a heavy staff of iron.
One day, the Vietnamese king said: “Venerable Master, I wish to provide sacred objects for all temples in the land. Yet we lack bronze. I hear the Emperor of China is a devout Buddhist who often donates to monks. I ask you to travel there and request bronze.”
After many days crossing mountains, forests, and rivers, Không Lộ reached the Chinese capital. The emperor asked: “Reverend monk, from where do you come? What offering may I give you?”
Không Lộ replied: “I seek only some bronze, to cast sacred objects for the temples of Vietnam.”
The emperor, thinking the monk had brought many companions, asked: “How much bronze does your country need? How many men have you brought?”
Không Lộ answered: “I came alone, and I ask only enough to fill this bag.”
The emperor laughed at the small bag: “If you carried a hundred such bags, I would gladly let you take enough bronze for them all.”
He ordered a courtier to lead the monk to the treasury. In the courtyard stood a golden buffalo, shining like the sun, as large as a house. The keeper jested: “Do you want this golden buffalo, Master?”
Không Lộ shook his head: “No. I need only bronze.”
Before the astonished keeper, Không Lộ poured all the bronze of the vast treasury into his bag, slung it upon his staff, and walked away. Alarmed, the keeper reported to the emperor, who dispatched five hundred horsemen to pursue him.
After three hundred miles, burdened with the heavy bag, Không Lộ heard the thunder of hooves behind him. Reaching a great river, he turned, saw the soldiers in a cloud of dust, and calmly walked across the water. Standing midstream, he bowed and said: “I thank the Emperor of China, and I hope I have caused no trouble.”
Returning to Vietnam, Không Lộ told the king of his journey. The king asked him to use the bronze to create four great Buddhist treasures that would endure for thousands of years. Không Lộ summoned the finest bronze casters and divided the metal into four parts.
First, he built a nine-story tower named Bao Thien, rising high above the capital, visible from every direction. Next, he cast a Buddha statue six trượng tall (about twenty meters), and a great cauldron with a circumference that ten men could encircle. Finally, he forged a colossal bell.
When Không Lộ struck the bell, its first resonance carried all the way to China. Awakened by the sound, the golden buffalo in the emperor’s courtyard leapt southward, galloping thousands of miles. Reaching Vietnam, it sniffed the new bell and lay beside it.
Fearing war if gold flowed into Vietnam, Không Lộ warned the king, who permitted him to cast the bell into the lake. One day, Không Lộ carried the bell up a mountain and hurled it into West Lake. Hearing the bell’s flight, the golden buffalo followed and plunged into the lake. From then on, the lake was called Golden Buffalo Lake (Ho Trau Vang).
After his passing, Zen Master Không Lộ was venerated as the patron saint of bronze casters. He left behind poems, among which these lines are often remembered:
At times I climb the mountain peak,
Shouting once, so loud, the sky itself turns cold.