Hãy trở nên như ông, một tảng đá trong phong cảnh…

Mừng sinh nhật 80 tuổi đại học giả Wolfgang Kubin (Lời tựa của cho bộ tổng thư mục của Wolfgang Kubin[*])

Wulf Noll

Đặng Thân dịch

 Wolfgang Kubin (trái), Wulf Noll (phải)

 

WOLFGANG KUBIN TRONG MẮT WULF NOLL

Đặng Thân

Nhà Đông phương học Kubin liên tục làm người Tàu tối tăm mặt mũi. Hãy xem qua những bài viết về ông trên báo tiếng Việt: “Wolfgang Kubin: Nhà văn Trung Quốc tự tin một cánh mù quáng”, “Văn học Trung Quốc hiện là một đống rác”, “Văn học đương đại Trung Quốc là rác rưởi”, “Người Trung Quốc phản ứng và tranh cãi xung quanh các phát biểu của Kubin về văn học đương đại Trung Quốc”, “Một chuyên gia “khó tính” về văn học Trung Quốc”…

Ấy thế mà, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã phải trao tặng ông ba giải thưởng lớn quốc gia! Nhà nước Trung Hoa quá “đại trượng phu” hay chẳng qua tại Kubin quá lớn??

Wolfgang Kubin là một trong những học giả – nhà văn phương Tây quan trọng nhất trong lĩnh vực Hán học và nghiên cứu văn học Trung Quốc hiện đại. Ông đồng thời là nhà Hán học, triết gia, dịch giả và thi sĩ, nổi bật với vai trò cầu nối văn hóa giữa Trung Hoa và thế giới Đức ngữ, rộng hơn là giữa Đông Á và châu Âu. Trong học thuật, Kubin được biết đến qua các công trình về lịch sử văn học Trung Quốc thế kỷ 20, nghiên cứu thơ ca cổ điển và hiện đại, cũng như các tuyển tập – ấn bản dịch chú giải những “kinh điển tư tưởng Trung Hoa”. Ông dịch và giới thiệu nhiều tác giả then chốt như Lỗ Tấn, Bắc Đảo, Trương Táo, Âu Dương Giang Hà…, góp phần hình thành cách đọc Trung Hoa hiện đại trong không gian học thuật châu Âu. Với tư cách nhà văn, Kubin là một thi sĩ – nhà phê bình hiếm hoi: thơ, tiểu luận và tản văn của ông kết hợp cảm quan du hành, suy tư hiện sinh và phản tỉnh liên văn hóa. Viết về Trung Hoa từ trải nghiệm sống lâu dài tại Đông Á, Kubin tránh cả lối lãng mạn hóa lẫn định kiến chính trị, nhấn mạnh chiều sâu lịch sử – văn hóa và trách nhiệm đối thoại giữa các nền văn minh. Nhờ những đóng góp bền bỉ cho việc chuyển tải văn hóa Trung Hoa, từ tinh hoa đến đời thường, Wolfgang Kubin nhiều lần được vinh danh bởi các giải thưởng cấp nhà nước của Trung Quốc. Ở ông hội tụ mẫu hình “thi sĩ bác học” thời hiện đại: học thuật nghiêm cẩn, văn chương sống động, và một tinh thần đối thoại xuyên văn minh.

Ngắn gọn, thì chỉ cần biết ông như một người đọc thơ Trung Hoa hiện đại cực tinh, một cây bút tiểu luận cay độc, một trí thức phản tỉnh về chính nghề Hán học. Ông đọc văn học Trung Hoa hiện đại như bi kịch tinh thần của thời đại; trí thức phản tỉnh, không chiều cả Đông lẫn Tây. Cái hay nhất của Wolfgang Kubin là khả năng đọc Trung Hoa hiện đại như một bi kịch tinh thần của con người trong thế kỷ bị chính trị và ý thức hệ xé vụn.

Xin được giới thiệu bài viết của học giả WULF NOLL bạn tôi. Ông là một nhà văn, nhà thơ và tiểu luận gia người Đức đương đại, đồng thời hoạt động như một trí thức nhân văn gắn với đối thoại liên văn hóa, đặc biệt giữa châu Âu và Đông Á. Ông viết cả văn xuôi lẫn tiểu luận phê bình, với giọng văn suy tư, giàu chất du hành – tản bộ (flâneur), quan tâm tới mối quan hệ giữa văn chương, triết học và không gian văn hóa. Ông không thuộc mẫu “học giả hệ thống” xây dựng lý thuyết lớn, mà gần với kiểu nhà văn – chứng nhân văn hóa: đi, quan sát, ghi chép và phản tỉnh về các nền văn minh trong va chạm hiện đại. Những văn bản của ông thường pha trộn du ký, tiểu luận văn hóa và suy tư triết học về việc viết, về thân phận người viết trong thời toàn cầu hóa.

Trong quan hệ với Wolfgang Kubin, Wulf Noll xuất hiện như một bạn văn – người đọc tri kỷ: ông viết lời tựa cho thư mục công trình của Kubin, nhấn mạnh Kubin như một “cầu nối văn hóa” Đông-Tây, đồng thời phê phán những định kiến truyền thông phương Tây đối với Trung Hoa. Các tham chiếu của Noll tới truyền thống flâneur (Baudelaire-Benjamin), tới Franz Hessel, hay tới các “vườn” và “lối đi” ở Trung Hoa cho thấy một mỹ cảm du hành – suy tư rất đặc trưng.

Thật là một vinh dự, đồng thời cũng là một nhiệm vụ kiểu Sisyphus, khi phải viết lời tựa cho bộ thư mục các công trình đã công bố của Wolfgang Kubin dài hơn 140 trang. Nhưng đó cũng là một niềm vui; bởi thông qua bản thư mục này, ta có thể phóng ra một cái nhìn phổ quát đầu tiên về một người đương thời – trước hết được biết đến như một nhà Hán học, đồng thời là dịch giả và nhà văn – và mức độ được biết đến của ông, theo thời gian, hẳn sẽ còn tiếp tục gia tăng. Dĩ nhiên, tôi không dám tự nhận mình có một cái nhìn bao quát toàn diện trong vấn đề thư mục học này; tuy vậy, tôi đã đọc không ít tác phẩm của Wolfgang Kubin: các bản dịch, những công trình nghiên cứu khoa học, các bài bình luận, phê bình, và trên hết là các sáng tác văn chương của ông (văn xuôi, tiểu luận và thơ ca). Năng lực song trùng – vừa xuất hiện với tư cách một nhà khoa học, vừa hiện diện như một nhà văn – ngày nay đã trở nên hiếm hoi, nhưng vẫn mang sức thuyết phục đặc biệt. Trong những thời đại tôn vinh văn hóa cao cấp, người ta từng có khái niệm thi sĩ bác học (poeta doctus) cho kiểu kết hợp ấy; trong thế giới học thuật Anh-Mỹ hiện đại, ít ra cũng tồn tại khái niệm thi sĩ – nhà phê bình (poet-critic). Ngay trong bối cảnh Trung Hoa, cả Trung Hoa cổ đại lẫn Trung Hoa mới của Cộng hòa Nhân dân, người ta cũng có thể đồng thời là thi nhân và học giả trong cùng một con người. Thuở trước, kẻ nào muốn tiến thân tới những chức vị cao nhất trong bộ máy nhà nước đều phải biết làm thơ. Dẫu rằng trong Trung Hoa thế kỷ XXI, chừng đó không còn đủ nữa, thì sự kính trọng đối với “thi nhân uyên bác” – cũng như đối với thi ca và giới thi sĩ – vẫn còn nguyên ý nghĩa. Chỉ riêng ở nước Đức ngày nay, tình thế lại khác hẳn.

Với tư cách một nhà văn dành mối quan tâm lớn cho văn hóa Trung Hoa và Đông Á, đối với tôi, việc viết lời tựa này là một vinh dự. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã trở thành bạn bè. Việc tôi có thể thấu hiểu Wolfgang Kubin (sinh năm 1945) không chỉ xuất phát từ chỗ chúng tôi thuộc về cùng một thế hệ. Chúng tôi còn được gắn kết bởi một chuỗi trải nghiệm mà, phần nào đó, tuy không cùng nhau nhưng đã diễn ra đồng thời tại Berlin (Tây), Nhật Bản và Trung Quốc. Người đàn ông đến từ Celle, có tổ tiên gốc Viên, từ trước đến nay luôn là người đi vào chiều sâu qua các nghiên cứu ngôn ngữ của mình, người chủ yếu lao động trên các văn bản Hán ngữ nguyên bản, người miệt mài dịch thuật và dần trở thành một cầu nối văn hóa xuất sắc. Hoạt động của tôi tại Nhật Bản và sau đó tại Trung Quốc thì chủ yếu là làm công việc truyền bá tiếng Đức, văn hóa và triết học Đức, dẫu được định hướng theo tinh thần so sánh. Chính công việc ấy đã mở rộng nhãn quan của tôi đối với những tác phẩm đương đại do các tác giả Đức viết ra; và trong số đó, không có một tác phẩm nào tôi có thể vận dụng lại có hiệu quả tương đương với các tác phẩm của Wolfgang Kubin – nếu tạm gác sang một bên những nhà trung gian văn hóa như Richard Wilhelm (1873 – 1930) và Franz Kuhn (1884 – 1961). Wilhelm, Kuhn và Kubin thuộc về lớp học giả không chỉ truyền đạt văn hóa Trung Hoa mà họ còn không viết đơn thuần cho một nhóm độc giả chuyên ngành nhỏ hẹp, xa rời công chúng. Xét cho cùng, trong bối cảnh phương Tây ngày càng trở nên xa lạ với giáo dục, số người thực sự quan tâm đến văn hóa đã trở nên hiếm hoi.

Tác phẩm của Kubin mang trong mình nhiều diện mạo; ở đó có Kubin với tư cách một nhà Hán học, Nhật Bản học, triết gia, nhà thần học, nhà nghiên cứu văn học Đức, có Kubin với tư cách một dịch giả và nhà phê bình sách, và trên hết là nhà văn Wolfgang Kubin – dẫu không phải ở mọi thể loại và mọi sắc độ ông đều dấn thân với cùng một cường độ. Thông thường, chức năng của một lời tựa là hướng sự chú ý tới một tác phẩm đơn lẻ và đưa ra những lời dẫn nhập cho tác phẩm ấy. Thế nhưng, trước mặt tôi ở đây lại là một danh mục công bố đa diện được ấn hành thành sách, liệt kê chi tiết các tác phẩm đã xuất bản: các bản dịch, các công trình khoa học, các tác phẩm văn chương – cả “lớn” lẫn “nhỏ”… Chỉ có một điều tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn: bộ thư mục này có thể – không, phải – trở thành nền tảng cho một ngành “Kubin học” được xây dựng trên đó, và/hoặc cho việc tiếp nhận Kubin nói chung trên cơ sở lịch sử tư tưởng và liên văn hóa. Như các nhan đề cho thấy, trong công trình này, trước hết là văn hóa Trung Hoa được chuyển tải dưới các hình thức văn xuôi, thơ ca và triết học.

Văn xuôi: Ở đây có công trình xuất sắc về Lỗ Tấn (1881 – 1936), người là một trong những nhân vật chuẩn bị và đồng kiến tạo quan trọng nhất cho tiến trình hiện đại hóa của Trung Hoa. Kubin tự mình dịch rất nhiều văn bản của nhà văn này. Ông biên tập và xuất bản bộ Tác phẩm của Lỗ Tấn gồm 6 tập bìa vải (1994), tiếp đó là bộ Lịch sử văn học Trung Quốc gồm 10 tập (2002 – 2021). Thơ ca: Kubin đã nghiên cứu về Đỗ Mục (803 – 852) và các thi nhân khác của đời Đường cũng như thời Sơ Hán. Bên cạnh đó, năm 2015, thi sĩ bác học này đã cho tái bản một tuyển tập đồ sộ về thơ Trung Quốc hiện đại bằng tiếng Đức và tiếng Trung, do Nhà xuất bản Bacopa (Áo) ấn hành, với nhan đề: Nachrichten von der Hauptstadt der Sonne. Moderne chinesische Lyrik 1919 – 1984 (Tin tức từ kinh đô của mặt trời. Thơ Trung Quốc hiện đại 1919 – 1984). Ấn bản đầu tiên xuất bản năm 1985 tại Nhà xuất bản Suhrkamp là bản đơn ngữ tiếng Đức.

Cuối cùng, tôi bị cuốn hút bởi một ấn bản triết học có chiều sâu đặc biệt: bộ mười tập Kinh điển tư tưởng Trung Hoa (2011 – 2020), do chính Kubin biên soạn, dịch thuật và chú giải. Trước đây, tại Nhật Bản và Trung Quốc, tôi có thể giới thiệu các triết gia Đức; còn nay, tại Đức, tôi lại có thể giới thiệu các triết gia Trung Hoa trong những buổi thuyết trình. Đạo gia (Đạo giáo) cùng các triết gia của truyền thống này như Trang Tử (tập 4: Về cái không-biết) và Liệt Tử (tập 8: Về nghệ thuật cưỡi gió) đặc biệt khơi gợi hứng thú nơi tôi; cho đến khi tôi gặp Mặc Tử (tập 10: Về nỗi lo và sự chăm lo, 2020), điều đã thôi thúc tôi thực hiện một nghiên cứu so sánh giữa tuyển chọn của Kubin với Mê-ti (Mặc Tử) của Alfred Forke – bản dịch toàn bộ tác phẩm xuất bản năm 1922 – và với phân đoạn Me-ti. Sách của những chuyển biến của Bertolt Brecht, được sáng tác trong thập niên 1930 và do Uwe Johnson biên tập, xuất bản năm 1965.

Nhà Hán học, triết gia, dịch giả, nhà văn… ấy giúp chúng ta hiểu được văn hóa Trung Hoa và đưa văn hóa ấy tiếp xúc, đối thoại với văn hóa Đức (những “tương hợp tuyển chọn”). Cái xa lạ được kéo lại gần một cách bền bỉ và đầy sức gợi. Thế nhưng, giới văn học đương đại của Đức – cùng với truyền thông, vốn hoàn toàn có thể học hỏi từ đó – lại quá hiếm khi làm được điều này. Truyền thông, những kẻ nhào nặn dư luận vừa thao túng vừa bị thao túng, vì những lý do nào đó, đã quen vận hành theo một quán tính công kích Trung Quốc đầy kiêu ngạo. Hơn nữa, giới xuất bản – phê bình văn học tại Cộng hòa Liên bang Đức dường như cũng ngày càng khó hình dung nổi sự hiện diện của những tác giả thực sự rất có bài bản và có chiều sâu. Việc có thể kết nối giữa sáng tạo văn chương, học vấn uyên thâm, nghiên cứu khoa học và phê bình trong cùng một con người vốn là nét đặc trưng của các tác giả thời Lãng mạn và Cổ điển ở thế kỷ XVIII, và còn kéo dài sang nửa đầu thế kỷ XIX, không chỉ ở Đức mà cả ở Pháp, ở Anh và tại nhiều quốc gia châu Âu khác. So với đỉnh cao tinh thần thuở trước, chúng ta đã dần trượt xuống một thung lũng sâu. Bởi thế, không ít người trong chúng ta thấy nhẹ nhõm khi có thể khởi hành cho một cuộc “di cư hòa bình” sang những ốc đảo văn hóa của Viễn Đông.

Với các tác phẩm nhỏ bé, chúng dễ bị bỏ qua; nhưng khi tác phẩm lớn, hoặc quá lớn, người ta cũng lại làm ngơ trước chúng. Và rồi chẳng ai còn dám lại gần nữa. Điều ấy rất có thể đang xảy ra với vị thi sĩ – nhà phê bình của chúng ta. Điều cần thiết là những nhà khoa học nhân văn can đảm – những người đã tích hợp và vượt qua cả thứ phê phán sắc bén nhất đối với truyền thống này, bao gồm cả thứ phân tâm học cần thiết – không để mình tan rã trong sự giải cấu trúc. Còn trong đời tư, Wolfgang Kubin là một con người thân thiện, sẵn lòng giúp đỡ và đầy khả năng khích lệ nhất mà người ta có thể hình dung; điều này cũng đúng đối với tất cả các sinh viên mà ông dìu dắt. Chỉ những người thầy nhỏ nhen mới hay phô trương tự phụ; còn những học giả có tầm nhìn xa, có khí độ lớn và mang tầm vóc phổ quát thì thường rộng lượng và có khiếu hài hước – như Thầy K., hay như một vài người thầy và bằng hữu cũ của tôi tại Berlin những năm 1970, chẳng hạn nhà ngữ văn học và bậc thầy về văn phong Alfred Behrmann (1928 – 2022), hoặc triết gia, nhà hiện tượng học, nhà nhân học văn hóa và nhà nghiên cứu Simmel là Michael Landmann (1913 -1984).

Về việc Wolfgang Kubin là một thi sĩ-nhà phê bình, tôi đã có dịp trình bày trong một tiểu luận ngắn. Như thế, có lẽ tôi đã đặt được một viên gạch đầu tiên cho cái gọi là “Kubin học”. Một viên gạch khác nằm ở lĩnh vực triết học cổ điển Trung Hoa. Nhưng thôi, lời tựa của tôi không nhằm phô diễn tính chuyên môn. Đây chỉ là một nỗ lực, gắn liền với sự trân trọng, nhằm giới thiệu một bộ thư mục đồ sộ, để sao cho độc giả, sinh viên và các học giả trẻ không bị khối lượng, tư liệu và “tinh thần” của nó làm cho choáng ngợp. Chỉ cần có thiện chí, người ta sẽ tìm thấy trong công trình này nhiều điều có sức hấp dẫn tinh thần đối với những độc giả ham học, cũng như đối với các nhà nghiên cứu, khi họ muốn khảo sát các chủ đề và quan điểm của các tác phẩm dưới góc độ ngữ văn học hoặc triết học.

Việc vừa là nhà khoa học nhân văn (học giả, chuyên gia) vừa là thi sĩ trong cùng một con người, ở Trung Hoa, cho đến tận ngày nay vẫn còn là một mô thức sống động. Lần theo dấu vết của thi sĩ, nhà văn Kubin – hay, với tên gọi tiếng Trung Quốc, Cố Bân 顾彬 – hẳn phải là mặt mở rộng của công trình này. Những độc giả hiếu kỳ và các nhà so sánh không mang định kiến hẳn sẽ làm được điều đó. Sau khi được nghe Kubin diễn thuyết và đọc thơ, tác phẩm đầu tiên của ông mà tôi đọc là Unterm Schnurbaum. Deutsch-Chinesische Wahlverwandtschaften. Essays 1991 – 2009 (Dưới cây hoè. Những tương hợp tuyển chọn Đức-Trung. Tiểu luận 1991 – 2009). Khi ấy, tôi nhận ra rằng đây không phải một học giả xa rời đời sống, mà là một thi sĩ và một người bạn của các thi sĩ. Không chỉ riêng chương “Am Wendekreis des Krebses. Nachrichten vom Ende der Welt” (Bên chí tuyến Bắc. Tin tức từ tận cùng thế giới) cho thấy hình ảnh một KẺ TẢN BỘ (flâneur [tiếng Pháp]: hình tượng “kẻ tản bộ” trong văn học – phê bình hiện đại châu Âu, đặc biệt từ Baudelaire và Walter Benjamin; chỉ một nhân vật lang thang trong đô thị, vừa quan sát thế giới vừa suy tư về đời sống, lịch sử và điều kiện của việc viết) suy tư về những điều kiện của việc viết lách, và tản bộ – vừa trong thực tại vừa trong tưởng tượng – ở vùng lân cận Sán Đầu, đúng trên đường chí tuyến ấy. Có lẽ Wolfgang Kubin (Cố Bân) chính là một Franz Hessel (1880 – 1941) bị gió đời xô dạt sang phương Đông. Hessel cùng người bạn trẻ hơn là Walter Benjamin (1892 – 1940) từng đặt nền móng cho một truyền thống văn chương flâneur tuyệt vời của Đức, dẫu rằng truyền thống ấy vốn đã có những tiền đề ở Pháp.

Tôi không muốn liệt kê hết những gì mình đã đọc của Kubin cho đến nay; đó là rất nhiều, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong số ấy cũng có các tập thơ như In fernen Landen (Miền đất xa xôi, 2014), Abgründige Erleuchtung (Khai sáng thẳm sâu), Das Gleichgewicht der Unruhe (Sự cân bằng của bất an) – hai tập thuộc Tác phẩm thời kỳ đầu, tập 2 và tập 3 (2015), hay Was kommt, was bleibt: Ein poetischer Mischsatz (Điều gì đến, điều gì ở lại: một pha trộn thi ca, 2018). Trong Abgründige Erleuchtung, nhà thơ viết về “bước ngoặt” như sau: “Có những thời gian quay ngược lại. / Trong đó, chẳng hạn, ánh sáng không muốn thành hình. / Hoàng hôn của nó che chở, / như thể chính nơi đây là bước ngoặt.” Cũng có những “bước ngoặt của các bước ngoặt”; đời sống được cấu thành từ những khoảnh khắc như thế, và nhà thơ đã bắt lấy rất nhiều trong số đó. Thơ ca chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong sáng tác của Kubin. Bên cạnh thơ của chính mình, ông còn có những bản dịch giàu chất thơ từ thi ca Trung Hoa cổ điển và hiện đại; ở đây tôi chỉ nhắc tới Những bức thư từ thời gian. Song ngữ Trung-Đức (1999) của Trương Táo, hay Song phượng. Một trường ca cùng những thi phẩm dài khác (2015) của Âu Dương Giang Hà, đều in song ngữ Trung-Đức.

Kubin là một con người đa diện; tôi không biết có bao nhiêu “nhân cách” cùng cư trú trong ông, nhưng ông vẫn rất đỗi gắn với mặt đất. Ông yêu những bước đi chậm rãi, tĩnh lặng giữa núi rừng – điều khiến người ta nghĩ tới Lão Sơn gần Thanh Đảo ở tỉnh Sơn Đông, hay Hoàng Sơn ở tỉnh An Huy. Nhà thơ ấy đồng thời hội đủ hai mặt: một bậc thầy của hình thức và của những nội dung cuộn trào. Ông là người không chịu bị nhốt vào “tư duy ô ngăn” hay bất cứ ngăn kéo phân loại nào. Phần lớn chúng ta, kể cả giới học giả, đều bị buộc phải suy nghĩ theo kiểu “ô ngăn”. Không có gì lạ khi những ai đã cam chịu với kiểu tư duy ấy lại gặp khó khăn trước một “kẻ tư duy ngang” (người dám đi lệch lề). Cuộc tranh cãi xưa cũ giữa những người theo chủ nghĩa thực chứng và những người theo phép biện chứng lại bùng lên; dẫu vậy, không thể phủ nhận rằng chỉ có tư duy biện chứng mới thực sự sống động và truyền cảm hứng, và đem lại lợi ích vô giá cho mọi hoạt động sáng tạo.

Có chăng những “thần hộ gia” chốn gia đình? Câu hỏi bật ra một cách bất ngờ. Goethe có thánh Philippus Neri hài hước để làm chệch hướng tinh thần và đổi dòng suy tưởng, thì Thầy K. có “căn phòng với rượu mạnh” (Mao Đài hoặc rượu tự nấu). Tuy vậy, điều tôi muốn nói tới là kết quả văn chương, cụ thể là những “tiểu luận về rượu” của nhà thơ: “Câu chuyện về một chiếc bình dẹt” (2014). Nhưng câu chuyện ấy không hề “phẳng”; việc uống rượu ở Trung Hoa có cả một truyền thống. Và khi người ta đã ở dưới thấp, thì sẽ ngước nhìn lên, nếu quả thực đã từng ở dưới. Trong các tiểu luận có viết: “Những kẻ được gọi tên của mọi vương quốc đã mất, hãy hợp nhất lại ở nồng độ 52%, đổ xuống những gì không bao giờ trở lại, niềm vui của các ngươi, nỗi buồn của các ngươi; hãy trở nên như Người, một tảng đá trong phong cảnh, bậc Thanh khiết tối thượng (Thái Bạch)!”

Dẫu vậy, thưa các độc giả và nhà nghiên cứu, Kubin mong muốn giữ trọn tính người, và quả thực ông là như vậy; không cần phải hoảng sợ trước khối lượng văn bản và ấn phẩm đồ sộ của bậc thầy. Ông không muốn trở thành một “vị thần trên đỉnh Thái Sơn. Thế nhưng, trên thực tế, ông vẫn là như vậy: một trụ cột kiệt xuất của việc chuyển tải văn hóa giữa Đông và Tây, giữa Trung Hoa và Đức, giữa Trung Hoa và Liên minh châu Âu. Không phải không có những lý do xác đáng mà Wolfgang Kubin đã ba lần nhận giải thưởng nhà nước cao nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – không phải vì chính trị, mà vì những cống hiến đa dạng của ông cho việc truyền tải văn hóa Trung Hoa trong toàn bộ bề rộng của nó: từ thời Khổng Tử, Lão Tử hay Mặc Tử của thế kỷ VI-V trước Công nguyên, qua các thi nhân đời Hán và đời Đường, qua nền văn học hiện đại của thế kỷ XX, cho đến tận hiện tại của thế kỷ XXI. Kubin đã được vinh danh như một người chuyển tải xuất sắc văn hóa Trung Hoa – không chỉ văn hóa tinh hoa, mà cả văn hóa đời thường.

Không còn nghi ngờ gì nữa, trong thế kỷ XXI, Trung Hoa giữ một vai trò quan trọng, trước hết với tư cách một cường quốc kinh tế, nhưng đồng thời cũng là một quốc gia văn hóa. Không có quốc gia nào khác có thể nhìn lại một mạch liên tục lịch sử kéo dài tới tận thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên. Phương Tây tỏ ra hoảng hốt trước một quốc gia đang tự định hình thành công, với quy mô và tầm vóc của cả một lục địa. Thế nhưng, Trung Hoa – hơn nhiều quốc gia khác – ý thức rõ trách nhiệm toàn cầu của mình. Những khẩu hiệu như “hiểm họa da vàng”, “hiểm họa đỏ”, hay những nghi thức bài Trung lặp đi lặp lại chỉ là những điều nhảm nhí, góp phần che đậy mặc cảm tội lỗi của những kẻ chinh phục phương Tây trong quá khứ cũng như của những kẻ duy Mỹ, duy Âu và duy Đức ngày nay. Ở phương Tây, người ta vẫn chưa nghĩ tới việc tự nhận thức và tự phê phán. Cho đến nay, với tư cách một cường quốc kinh tế, Trung Hoa đã không lặp lại những sai lầm của Hoa Kỳ, đặc biệt là những sai lầm mang tính quân sự. Điều đáng nói ở Trung Hoa là: cho đến tận đời sống thường nhật, đây vẫn là một quốc gia văn hóa. Trung Hoa cổ đại đã và đang là văn hóa mẫu của Đông Á, cũng như Hy Lạp và La Mã từng là như vậy đối với châu Âu. Một Trung Hoa được giáo dục tốt, được đào tạo bài bản không chỉ là một động cơ thúc đẩy kinh tế; nó còn mang một ý nghĩa văn hóa đặc biệt. Nếu mệnh đề ex oriente lux (ánh sáng từ phương Đông) từng có hiệu lực, thì ngày nay, điều ấy lại càng đúng với Trung Hoa. Ai muốn học hỏi thêm về giáo dục và văn hóa sẽ tìm thấy trong công trình đồ sộ của Wolfgang Kubin (Cố Bân) một cơ hội khởi đầu thích hợp.

[*] Martin Hanke (editor), Wulf Noll & Hartmut Walravens (contributors), 2025. Schriftenverzeichnis von Wolfgang Kubin 1975-2025: List of Publications. Gossenberg: Ostasien Verlag.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.