Tô Văn Trường
Tôi sinh ra ở quê lúa Thái Bình, lớn lên giữa ruộng đồng mặn mòi phù sa, quen với chuyện hội làng rước kiệu, đánh trống, hát chèo, thi nấu cơm. Thế nhưng trong gia phả họ nhà tôi lại ghi rất rõ: cách đây 14 đời, ông tổ là cụ Tô Hiểu Thông, người Kinh Bắc. Từ nhỏ nghe kể chuyện “gốc Bắc Ninh”, tôi chỉ nghĩ đó là một dòng chữ cho vui trong gia phả, không ngờ có ngày đọc tư liệu xưa mà phải ngồi thừ ra tự hỏi: không biết cụ tổ năm ấy có từng… đi xem hát đêm đình hay không.
Xin nói rõ để tránh mang tiếng “con cháu bịa thêm cho oai”: những câu chuyện dưới đây được ghi chép bằng chữ Hán Nôm vào năm 1920, do Viễn Đông Bác Cổ tổ chức sưu tầm. Sau này, các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã biên dịch và công bố trong cuốn Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm do GS Đinh Khắc Thuân chủ biên, xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 2009.
Tức là có văn bản, có niên đại, có nhân chứng tại chỗ.

Và chính trong những trang tư liệu ấy, người ta ghi lại rằng ở vùng Bắc Ninh đầu thế kỷ XX, trong không gian đình làng linh thiêng, từng tồn tại những phong tục giao lưu nam nữ mà nếu đem so với Valentine hay “Hug Day” của phương Tây ngày nay, có lẽ ta phải thừa nhận: tổ tiên mình đã… ôm nhau từ trước khi thế giới kịp đặt tên cho ngày ấy.
Nga Hoàng: Khi “đánh chen” là trách nhiệm vì hòa khí làng
Tại xã Nga Hoàng, huyện Võ Giàng, ngày 11 tháng 2 âm lịch có lệ nhập tịch tế thần. Ban ngày hương khói nghiêm trang, tối đến mời ca kỹ hát hầu thần tại đình.
Khung cảnh rất mực truyền thống: ca kỹ đứng giữa đình, trai gái hai bên đứng xem. Nhưng tư liệu ghi một cách tỉnh queo: nếu con trai thấy con gái đứng đâu, liền đến đứng sát vào, thân áp thân, tay “điểm vào ngực” cô gái.
Không phải lén lút. Không phải tai tiếng. Đó là lệ.
Điều đáng suy nghĩ là: nếu năm ấy không có trai gái ra đình xem hát, không có việc “đánh chen điểm ngực”, thì dân làng dễ sinh cãi vã, ẩu đả, bất hòa. Như thể năng lượng trai gái không được giải tỏa sẽ chuyển hóa thành… mâu thuẫn xã hội.
Đọc đến đây, tôi bỗng thấy người xưa thực tế lạ lùng. Thay vì để thanh niên tích tụ bức bối rồi gây chuyện, họ mở hội, đặt trong khung giờ rõ ràng từ 7–8 giờ tối đến 4–5 giờ sáng, có hát, có giao lưu. Việc thân mật quá mức thì phải ra ngoài đình vì “sợ uế khí với thần”.
Trong đình được “điểm ngực”. Còn chuyện riêng thì ra ngoài.
Cởi mở, nhưng không vô tổ chức.
Làng Diềm: Hát quan họ và tắt đèn đúng giờ
Ở làng Viêm Xá – đất tổ quan họ – câu chuyện còn “đi trước thời đại” hơn.
Làng kết giao hát với xã Hoài Bão thuộc huyện Tiên Du. Mỗi dịp hội xuân, trai xã này sang hát với gái xã kia, và ngược lại. Cơ chế mời nghe qua đã thấy… có tính toán.
Đêm mồng 4 tháng Giêng, trai gái tụ tại nhà chị cả. Có rượu, có trầu, có hát đối đáp. Con gái đã có chồng hay chưa chồng đều tham dự. Hát từ 8 giờ tối đến 2 giờ sáng.
Rồi tắt đèn.
Trong bóng tối, trai gái nằm hát tiếp. Ai thuận tình với ai thì ghép đôi hát. Nếu yêu nhau, có thể giả vờ ra ngoài rồi “giải quyết riêng”. Sau đó lại vào hát tiếp đến sáng.
Sáng sớm, mỗi người tiễn một người theo con đường khác nhau.
Và nhà nào không cho con gái đi hát thì bị chê là không tuân lệ làng.
Đến đây tôi lại nghĩ đến cụ tổ Tô Hiểu Thông. Nếu cụ từng tham dự một đêm như vậy, hẳn cụ sẽ ngạc nhiên khi biết con cháu sau này ngồi đọc tư liệu mà… đỏ mặt thay.
Ném Thượng: Ba phút và mùa màng
Ở Ném Thượng, đêm Rằm tháng Giêng có nghi thức khiến người hiện đại phải giật mình.
Sau khi đào nương hát đến khoảng 2 giờ sáng, một vị kỳ mục úp chõ lên đèn. Đình tối om. Trong ba phút, vị ấy sờ ngực đào nương. Đàn ông trong đình cũng làm theo với phụ nữ bên cạnh.
Ba phút.
Rồi chõ được nhấc ra. Đèn sáng. Ai về chỗ nấy. Nghe hát tiếp.
Tư liệu ghi rõ: nếu năm nào không làm nghi thức ấy thì vật nuôi dễ bệnh, mùa màng kém tốt. Nếu có làm thì dân yên, gia súc sinh sôi.
Rõ ràng đây không phải trò đùa, mà là nghi thức phồn thực cầu sinh sôi. Một hành động mang tính biểu tượng, được giới hạn thời gian, không kéo dài, không hỗn loạn.
Hết ba phút là trở lại trật tự.
Cười để hiểu, không phải để phán xét
Đọc những dòng ấy, ta có thể cười vì sự thẳng thắn của chữ nghĩa. Nhưng sau tiếng cười là một nhận thức khác: xã hội xưa không hề đơn sắc. Trong không gian lễ hội, người Việt từng có những khoảng thở rất rộng.
So với ngày ôm nhau của phương Tây, phong tục Kinh Bắc không chỉ là chuyện tình cảm cá nhân, mà gắn với cộng đồng, với tín ngưỡng, với mùa màng.
Táo bạo nhưng có luật.
Cởi mở nhưng có ranh giới.
Và với tôi – một người quê lúa Thái Bình mang trong gia phả dòng chữ “gốc Kinh Bắc” – đọc lại những trang tư liệu ấy không chỉ là chuyện tìm hiểu phong tục, mà còn là cách hiểu thêm về tổ tiên mình. Biết đâu, trong một đêm đình làng tắt đèn hơn trăm năm trước, có bóng dáng một người mang họ Tô đứng đâu đó giữa tiếng hát quan họ, giữa tiếng trống đình, giữa một thời mà con người hồn nhiên hơn ta tưởng.
Lịch sử, suy cho cùng, không chỉ để thờ phụng. Đôi khi, nó khiến ta mỉm cười và bớt nghiêm khắc hơn với quá khứ.