Lê Thanh Trường – một lần bao nhiêu vòi vọi…

Thái Hạo

1.

Lê Thanh Trường làm thơ như như người nhặt lên chiếc vỏ lon bên đường, và nhìn nó rất lâu. Từ dòng sông, ngọn núi trăng sao đến cỏ cây, con chó nhỏ, ễnh ương, một cái lá hay rãnh nước, những thứ han rỉ xộc xệch…, tất cả đều thơ. một rãnh nước chảy qua bụi cỏ/ một hòn đá bóng lên trong ngày nhập nhoạng/ một giọt hắt kề bên mí mắt/ mái tóc ướt với cơn buồn qua mối tình thứ mấy/ đọt lá cao su/ khoảng sáng sau chân đồi/ ôi chao nếu còn kể nữa, có lẽ tất cả cơn mưa sẽ sống lại.

Thơ Lê Thanh Trường không chỉ là danh từ hay tính từ, lắm khi nó là động từ, thật dễ chịu khi cứ thơ một mình.

Tất cả đều lấp lánh, nỗi buồn lấp lánh, đau đớn lấp lánh, cô độc lấp lánh, nỗi giận dữ cũng lấp lánh. Lê Thanh Trường buồn, thơ anh không cất nổi một nụ cười. Nhưng may thay, nỗi buồn ấy luôn phát ra ánh sáng của một tình yêu đắm đuối mà trong lành.

Anh làm thơ dễ dãi quá, cứ mang cái nói năng hàng ngày mà sắp thành hàng. Những con chữ dựa vào nhau, những dòng chữ dìu nhau mà đi, cứ buồn thương mải miết.

Phía sau cái lộn xộn của những ý nghĩ, phía sau cái bừa bộn của ngổn ngang thường nhật, có điều gì thật yên tĩnh. Ánh sáng luôn lóe lên như những tia lửa, phát ra dáng dấp của lời kinh du thủ.

Rất nhiều chữ tầm thường bỗng phát sáng. Như một chiếc đồng hồ cũ rỉ sét lưu cửu trong ngăn tủ với những mặt số tròn xoe, vàng vọt. “Tròn xoe”, cái chữ quen mà lạ lẫm quá, nó phát ra tiếng động và ánh sáng, nó ngạc nhiên như con mắt mở to. Hay, có buổi sáng café chán ngán. Chán, buồn chán, chán nản, chán chường thì chẳng có gì để nói, những chán ngán, âm thanh của chữ như va vào nhau, tóe lên thành tia lửa. Có rất nhiều những sự phát sáng như thế trong Trường, dù chẳng thấy dấu vết gì của những dụng công, phu chữ, chẳng có dấu vết của việc làm thơ, chúng bình thản đi ra.

Người ta thấy anh cô độc, và đau khổ, luôn luôn. Nhưng cũng chính anh là người hạnh phúc. Niềm vui của anh toàn những thứ rẻ tiền mà chẳng ai thèm ngó tới. tôi yêu cây hoa của tôi/ dù nó chỉ có vài cái lá/ có hôm con chuồn chuồn tới đậu/ làm tôi hãnh diện suốt ngày. Cái đứa trẻ ấy, và một ông thiền sư già, hỏi có khác nhau chăng?

đôi khi giữa thời đại chúng tôi/ một lương tâm lớn/ có thể đè nát một con người. May thay, con người ấy dù không ít lần đã bị đè nát, nhưng những mảnh vỡ vẫn lấp lánh, một màu dịu dàng quá đỗi…

2.

Thơ anh có tất cả mà dường như chẳng có gì. Con gái, người tình, đồng hương và đồng loại, những bản án, một cuộc xuống đường…, tất cả đều vừa hiển hiện, vừa tan biến, như gió trên cành lá rào rạt mà vô hình.

Không thể nói rằng trong thơ Trường không có “hơi thở của cuộc sống”; nhưng cái thời sự trong thơ anh là một thứ thời sự không còn địa điểm, không còn ngày tháng, không nhân vật và không cả sự kiện, một thứ thời sự đã đi qua những huyên náo, đi qua cả những sợ hãi và giận dữ, chỉ còn lại nỗi buồn cô độc, nhưng trong vắt. Và anh ngồi đó, gặm xơ một đầu cây bút chì/ của đứa trẻ nào đánh rơi trong bụi đường/ hai chiều bắc nam. “Hai chiều bắc nam”, 50 năm rồi đi chưa hết những mỏi mòn lịch sử chông chênh.

Những nhức nhối trong thơ Trường là thứ trái cây đã chín trong vườn mùa hạ, rụng xuống, im lìm một nỗi buồn đau chưng cất. Hàng ngày chúng ta yêu nhau như những kẻ chạy trốn/ cố quên đi cuối con đường kia luôn luôn là sự thật (Tòa tuyên án).

Đôi lúc người ta cũng thấy anh giận dữ khi “nuốt trợn dọc con mắt lên nhục nhằn/ tôi câm như con kiến chạy cuồng quanh chảo nóng”. Nhưng đó cũng chỉ như một tiếng sét xé toạc lồng ngực trong giây lát, rồi lại trở về với nỗi thinh lặng miên viễn những thầm thì rủ rỉ của một hồn yếu đuối.

Phủ lên thơ Trường là một niềm cô độc. Anh nói cùng con, nói cùng tình nhân hay đồng loại, nhưng những lời tỉ tê dịu dàng ấy, rất mau, đã trở thành độc thoại. Anh tự nói với mình, chất vấn, an ủi, mân mê những ý nghĩ, vỗ về ngày tháng. Vì thế, khi trời chiều đang xuống/ anh không biết rồi tụi mình sẽ đi tiếp thế nào/ mặt trời sẽ lặn và bóng đêm trùm kín mình dưới mái lều dột nát. Rồi “ngồi một mình/ tự mình nghe/ gõ ngón tay lên bàn ngồi một mình/ tự mình nghe/ gõ hai ngón tay lên bàn,

cho đến khi:

gõ năm ngón tay lên bàn

bịt năm ngón tay lên mặt

thả năm ngón tay vào suối

chìa năm ngón tay về rừng

ngón nào cũng rớt nước mắt.

(Café)

Đôi khi buồn quá, anh gọi lời vào khoảng không im lặng: có ai nói với mình không/ một lần bao nhiêu vòi vọi. Khi anh nghe thấy “nỗi cô đơn của bất cứ ai cũng xiên thẳng vào mình”, lúc đó họ trở thành kẻ đa mang, nỗi buồn chín nẫu trong góc vườn bỏ quên.

Anh trở về, ngồi chơi với chính mình, “thử cuộn lại làm núi non/ những ý nghĩ trèo đèo lội suối” để chúng “sẽ nổ như sấm sét/ sẽ vỡ dưới chân mình/ niềm kiêu hãnh một ngày đứng dậy…”. “Một ngày đứng dậy”? Anh liền nhận ra cái trí nghĩ xa xỉ ấy giữa nhân quần, để rồi chua chát “một tiếng hét cũng chỉ hét lên trong hình dung.

cuộc đời mình

cuộc đời mình

nhu mì một dấu hỏi gù lưng

bơ vơ một dấu lửng tản mát

ngậm ngùi một dấu than nghiêng đổ

(Phác thảo một tiếng nói)

Anh trở về an ủi một cơn bão. Bão/ mày đi đâu/ đừng khóc.

đất nước mấy mươi năm thánh giá

đồi sọ vẫn vút cao

đường khổ nạn còn uy nghiêm phía trước

mưa vấn vít lời kinh muộn

đôi cánh nào thiên thần

mang tia nắng Phục sinh

(Sau đêm Giáng sinh)

3.

Người ta có thể thấy thơ anh đầy nhịp điệp, hình ảnh và tình tự của một thời quá vãng xa xăm; nhưng người ta cũng có thể gọi thơ anh là thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ hiện đại, hay hậu hiện đại… Nhưng tôi tin rằng, anh không bao giờ nghĩ tới những điều ấy, anh không chủ trương hay tuyên ngôn điều gì. Anh không cố đoạn tuyệt cái cũ, cũng không rắp tâm truy tìm cái mới. Thi pháp Lê Thanh Trường là một thứ ngôn ngữ giản dị được chưng cất, lan đi như cỏ cây trong kỳ mưa phùn giữa giêng hai.

Thơ là điều ngày càng xa xỉ trong thời đại chúng ta, thông tin dồn dập, sự kiện nối nhau, chỉ có những kẻ giàu có mới đủ thời gian để ngồi đọc một bài thơ. Trường là người giàu có, anh sống và thở trong những nhịp khoan thai của lời, dù là tình tự, buồn vui, đau nhức hay bi kịch, giận dữ. Vì thế, đi tìm một dụng ý trong thơ anh cũng như người ngồi dưới cánh rừng mà mơ mãi một dáng cây già…

T. H.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình, Số đặc biệt and tagged . Bookmark the permalink.