Một tai nạn thương tâm

James Joyce

Trịnh Y Thư dịch

Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod[1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo. Phòng ông thuê nằm trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám. Từ cửa sổ phòng, ông có thể nhìn thấy khu nhà máy chưng cất rượu đã bỏ hoang từ lâu, hoặc phóng tia mắt ra xa về phía con sông cạn nước mà thành phố Dublin được xây dựng lên trên. Trên những bức tường cao của căn phòng không trải thảm, chẳng có tranh ảnh nào được treo. Ông tự mua sắm mọi đồ đạc trong phòng: một chiếc giường sắt màu đen, một bệ rửa mặt cũng bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một giá treo quần áo, một thùng đựng than, một tấm chắn và những thanh sắt cời lửa lò sưởi, một chiếc bàn vuông vức trên đó là bàn làm việc của ông. Mấy kệ gỗ trắng ăn vào hốc tường làm thành tủ sách. Giường ngủ được phủ bằng vải màu trắng, một tấm khăn hai màu đen đỏ phủ chân giường. Một chiếc gương nhỏ treo trên bệ rửa mặt. Ban ngày, một chiếc đèn chụp màu trắng đứng như món vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi. Những cuốn sách trên kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo khổ sách từ lớn đến nhỏ. Bộ Wordsworth Toàn tập[2] nằm ở một đầu kệ dưới cùng và một bản sao Sách giáo lý Maynooth, được khâu vào bìa vải một cuốn sổ tay, nằm ở đầu kệ trên cùng. Các vật dụng dùng để viết luôn ở trên bàn. Trong ngăn kéo bàn có một bản dịch ở dạng bản thảo vở kịch Michael Kramer của Hauptmann, những chú thích hướng dẫn dàn dựng sân khấu được viết bằng mực tím và một tập giấy nhỏ được ghim lại bằng một chiếc ghim bằng đồng. Trên những mảnh giấy rời này, lâu lâu một hàng chữ được biên xuống và, trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề một quảng cáo cho Bile Beans được dán lên tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn lên, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra – mùi của những cây bút chì làm bằng gỗ bách hương còn mới, hoặc mùi một lọ keo, một quả táo chín nẫu bị bỏ quên.

Ông Duffy cảm thấy hãi sợ bất cứ điều gì cho thấy sự rối loạn về thể chất hoặc tinh thần. Một bác sĩ thời trung cổ có lẽ sẽ gọi ông là người bị sao Thổ chiếu mệnh[3]. Khuôn mặt ông, hằn trên đó là toàn bộ câu chuyện về những năm tháng của mình, mang màu nâu của những con phố Dublin. Trên cái đầu dài và khá to mọc mái tóc đen khô và bộ ria mép màu hung không che hết cái miệng khó nhìn. Gò má ông cũng khiến khuôn mặt trở nên có vẻ khắc nghiệt; nhưng không hề có sự khắc nghiệt trong đôi mắt; ánh mắt ông, khi nhìn thế giới từ bên dưới đôi lông mày màu hung, tạo ấn tượng về một người đàn ông luôn cảnh giác chào đón bản năng cứu rỗi ở người khác nhưng thường thất vọng. Đôi khi ông ở ngoài xa thân thể mình, xem xét hành động của chính mình với cặp kính cận thị đầy vẻ nghi ngờ. Ông có thói quen tự thuật kỳ lạ khiến ông thi thoảng nghĩ ra trong đầu một câu ngắn về bản thân mình có chủ ngữ ở ngôi thứ ba và vị ngữ ở thì quá khứ. Ông không bao giờ bố thí cho người ăn xin, bước đi của ông vững vàng, trên tay luôn cầm một cây can bằng gỗ phỉ rắn chắc.

Trong nhiều năm trời ông làm thu ngân cho một ngân hàng tư nhân tọa lạc trên phố Baggot. Sáng sáng ông đáp xe điện từ Chapelizod đến chỗ làm việc. Buổi trưa, ông ghé tiệm Dan Burke’s dùng bữa trưa – một cốc bia nhẹ và một khay nhỏ bánh quy làm bằng bột dong[4]. Đến bốn giờ, được tự do, ông dùng bữa tối tại một quán ăn ở phố George, nơi ông cảm thấy an toàn tách ra khỏi xã hội của đám trai gái trẻ trung trang phục bảnh bao, lộng lẫy ở Dublin, tiệm ăn cũng có sự trung thực nhất định trong thực đơn. Buổi tối, ông dành thời gian ngồi dạo chiếc đàn piano của bà chủ nhà dưới lầu hoặc đi bách bộ quanh vùng ngoại ô thành phố. Ông thích nhạc Mozart, vì vậy đôi khi ông đi xem một vở opera hoặc nghe một buổi hòa nhạc: đây là thú vui tiêu khiển duy nhất trong cuộc đời ông.

Ông không có bạn, không đi nhà thờ, không tín ngưỡng. Ông sống cuộc sống tinh thần của mình mà không có bất kỳ giao tiếp nào với người khác, ông chỉ đến thăm bà con họ hàng vào dịp Giáng Sinh và đưa họ ra nghĩa trang khi họ qua đời. Ông thực hiện hai nghĩa vụ xã hội này chỉ vì muốn lưu giữ một phẩm giá cũ xưa nhưng không hề nhượng bộ thêm bất cứ điều gì đối với các quy ước điều chỉnh cuộc sống xã hội. Ông cho phép mình nghĩ rằng trong một số trường hợp nhất định, ông sẽ cướp ngân hàng của mình nhưng, vì trường hợp này chắc chắn không bao giờ xảy ra, nên cuộc sống của ông diễn ra đều đặn – một câu chuyện không có cuộc phiêu lưu nào.

Một buổi tối, ông thấy mình ngồi cạnh hai người phụ nữ trong nhà hát Rotunda. Người nghe thưa thớt, không khí im ắng, như bằng chứng đau buồn về sự thất bại. Người phụ nữ ngồi cạnh ông đảo mắt nhìn quanh gian sảnh vắng tanh một hai lượt rồi thốt:

“Đáng tiếc, đêm nay chẳng có ai đến dự! Thật đáng buồn khi phải hát cho những băng ghế trống nghe.”

Ông xem lời nhận xét đó của người đàn bà như lời mời mọc nói chuyện. Ông ngạc nhiên khi thấy bà có vẻ tự nhiên, thoải mái chứ không ngượng ngùng lắm. Trong lúc nói chuyện, ông cố ghi nhớ hình ảnh bà thật sâu vào ký ức. Khi biết rằng cô gái trẻ ngồi bên cạnh là con gái bà, ông đoán mình phải trẻ hơn bà một hai tuổi gì đó. Khuôn mặt bà, hẳn là rất đẹp, mang vẻ thông minh, hiểu biết. Đó là một khuôn mặt trái xoan với những đường nét rõ ràng, sắc sảo. Đôi mắt xanh lam rất sẫm và kiên định. Ánh mắt hai người bắt đầu bằng một nét thách thức nhưng rồi trở nên bối rối như thể đang cố tình làm ra vẻ ngất ngây, bộc lộ trong giây lát một tính khí vô cùng nhạy cảm. Nhưng ánh mắt ấy nhanh chóng kềm chế lại, bản chất nửa kín nửa hở trở về với sự thận trọng, và chiếc áo khoác lông cừu hàng astrakhan của bà, ôm trọn bầu ngực đầy đặn, tỏ lộ nét thách thức rõ rệt hơn.

Ông gặp lại bà vài tuần sau đó tại một buổi hòa nhạc ở Earlsfort Terrace và lợi dụng những giây phút cô con gái không để ý, ông tỏ ra thân mật với bà hơn. Bà nói bóng gió một hai lần về chồng mình nhưng giọng điệu bà không phải để biến sự ám chỉ đó thành lời cảnh báo. Tên bà là Sinico. Ông tổ năm đời của chồng bà là dân Leghorn đến đây lập nghiệp. Chồng bà là thuyền trưởng một con tàu buôn đi lại giữa Dublin và Hà Lan; và họ có một người con.

Trong lần tình cờ gặp lại bà lần thứ ba, ông thu hết can đảm để hẹn hò với bà. Bà giữ hẹn. Đấy là lần đầu tiên trong số nhiều lần hẹn hò; họ luôn gặp nhau vào buổi tối và chọn những nơi vắng vẻ, yên tĩnh nhất để cùng nhau đi dạo. Tuy nhiên, ông Duffy không thích những hành động lén lút như vậy, ông cảm thấy buồn bực trong lòng vì cứ phải gặp nhau một cách thầm kín, và ông đòi đến nhà bà. Thuyền trưởng Sinico lịch sự tiếp ông, lại còn mời ông đến thăm viếng thường xuyên hơn vì ông ta nghĩ rằng ông Duffy đang theo đuổi cô con gái của ông bà. Ông đã loại bà vợ mình ra khỏi căn phòng tình cảm, ông thực sự suy nghĩ như thế nên ông chẳng bao giờ ngờ có ai khác quan tâm đến bà. Ông chồng thường xuyên vắng nhà đi xa, cô con gái thì bận đi dạy nhạc nên ông Duffy có nhiều cơ hội để tận hưởng cuộc sống với người phụ nữ. Cả ông và bà đều chưa từng có bất kỳ cuộc phiêu lưu nào như vậy trước đây nên cả hai đều không nhận ra bất kỳ sự sai trái nào. Lâu dần, suy nghĩ của ông thấm nhập quấn quýt tâm trí bà. Ông cho bà mượn sách, gieo vào đầu óc bà những ý tưởng, chia sẻ cuộc sống trí tuệ của mình với bà. Và bà chịu khó lắng nghe, không bỏ sót điều gì.

Đôi khi, để đáp lại, bà tiết lộ một số sự thật về cuộc sống của chính bà. Với sự quan tâm gần như của một người mẹ, bà thúc giục ông hãy bộc lộ nhiều hơn tính cách bản chất mình: bà trở thành người giải tội cho ông. Ông kể với bà rằng trong một thời gian, ông đã tham gia các cuộc họp của Đảng Xã hội Ireland, nơi ông cảm thấy mình là một nhân vật nổi bật trong đám hàng chục công nhân viên  sôi nổi tranh luận trong một căn gác xép dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu. Đến khi đảng chia thành ba phe nhóm, mỗi phe có một người lãnh đạo riêng và họp hành trong một căn gác xép riêng thì ông ngừng tham gia. Ông nói rằng các cuộc thảo luận của những công nhân ấy là quá e dè nhút nhát; họ chỉ quan tâm nhiều đến vấn đề lương lậu và thu nhập. Ông cảm thấy rằng họ là những người theo chủ nghĩa hiện thực cứng nhắc và họ bày tỏ sự phẫn uất trước một sự việc vốn là sản phẩm của thói hưởng thụ nằm ngoài tầm với của chính họ. Ông nói với bà rằng sẽ không có một cuộc cách mạng xã hội nào có thể xảy ra ở Dublin trong vài thế kỷ nữa.

Bà hỏi tại sao ông không viết ra suy nghĩ của mình. Để làm gì cơ chứ, ông hỏi lại bà, với sự khinh miệt. Để ganh đua với bọn thích nói năng hoa mỹ, không có khả năng suy nghĩ liên tục trong sáu mươi giây à? Để tự khuất phục trước những lời chỉ trích của một tầng lớp trung lưu chậm hiểu đã giao phó đạo đức của mình cho cảnh sát và nghệ thuật của mình cho các ông bầu ư?

Ông thường đến thăm bà trong ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Dublin; họ thường dành buổi tối cho riêng họ. Dần dần, khi những suy nghĩ của họ quyện rối vào nhau, họ nói về những chủ đề ít xa lạ hơn. Tình tri kỷ của bà giống như lớp đất ấm áp bao quanh loài kỳ hoa dị thảo. Nhiều lần bà không thắp đèn mà cứ để bóng tối phủ lên hai người. Bóng tối tràn ngập căn phòng kín đáo, sự cô lập của họ, âm nhạc rung động trong tai họ gắn kết họ lại với nhau. Sự kết hợp này tôn vinh ông, làm mờ nhạt những góc cạnh thô ráp trong tính cách của ông, khiến đời sống tinh thần ông như sôi động lên. Đôi khi ông bắt gặp mình đang lắng nghe âm thanh giọng nói của chính mình. Ông nghĩ rằng, trong mắt bà, ông vươn lên tầm vóc thiên thần; và khi ông cảm nhận bản chất nồng ấm của người đàn bà truyền sang ông càng lúc càng tăng, ông bỗng nghe thấy một tiếng nói lạ lùng vô cảm mà ông nhận ra là của chính mình, nó nhấn mạnh vào nỗi cô đơn không thể chữa lành trong tâm hồn ông. Nó nói rằng ta không thể trao cho ai khác cái của chính mình: ta là của riêng ta. Kết thúc những buổi nói chuyện này là, trong một đêm nọ, người đàn bà đã thể hiện tất cả mọi dấu hiệu của tình cảm nồng nhiệt khác thường, bà nắm lấy bàn tay ông rồi âu yếm áp lên má mình.

Ông Duffy rất đỗi ngạc nhiên. Cách bà diễn giải lời ông nói khiến ông vỡ mộng. Suốt một tuần ông không đến thăm bà, đoạn ông viết thư xin bà ra gặp. Vì không muốn cuộc nói chuyện lần cuối này bị ảnh hưởng bởi sự việc đáng tiếc xảy ra lần trước, họ gặp nhau tại một tiệm bánh nhỏ gần cổng Công viên. Lúc đó là mùa thu, tiết trời đã lạnh giá nhưng họ vẫn cuốc bộ loanh quanh trên những con đường trong Công viên suốt gần ba giờ đồng hồ. Họ đồng ý chấm dứt mối quan hệ: ông nói rằng mọi ràng buộc đều là ràng buộc vào nỗi buồn. Khi ra khỏi Công viên, họ giữ im lặng bước về phía trạm xe điện; nhưng tại đây, bà lên cơn run rẩy dữ dội đến nỗi, vì sợ bà lại ngã lăn xuống mặt đất, ông vội vã chào tạm biệt rồi quay lưng bước thẳng. Vài ngày sau, ông nhận được một bưu kiện đựng sách và nhạc của mình.

Bốn năm trời trôi qua. Ông Duffy trở lại với lối sống đều đặn tẻ nhạt như trước. Căn phòng ông vẫn chứng kiến mỗi ngày sự ngăn nắp thứ tự trong tâm hồn ông. Một vài bản nhạc mới được đặt trên giá nhạc ở phòng dưới lầu và trên kệ sách có thêm hai tập sách của Nietzsche: Thus Spake Zarathustra The Gay Science[5]. Ông hiếm khi viết nữa, tập giấy trắng vẫn nằm nguyên trong ngăn kéo bàn làm việc. Một trong những câu ông viết hai tháng sau cuộc nói chuyện lần cuối giữa ông với bà Sinico, có nội dung như sau: Tình yêu giữa đàn ông và đàn ông là không thể vì không có quan hệ tình dục, còn tình bạn giữa đàn ông và đàn bà cũng không thể vì phải có quan hệ tình dục. Ông tránh đi dự các buổi hòa nhạc vì sợ gặp bà ở đó. Cha ông mất; một nhân viên cấp dưới của ngân hàng nghỉ hưu. Sáng sáng ông vẫn lấy xe điện vào thành phố, mỗi tối vẫn đi bộ từ thành phố về nhà sau bữa ăn tối nhẹ ở Phố George và đọc báo để tráng miệng.

Một buổi tối, khi ông đang cầm cái nĩa sắp sửa cho vào miệng miếng thịt bò muối bắp cải thì ông phải buông nĩa xuống. Hai mắt ông dán chặt vào hàng chữ in trên tờ báo ấn bản buổi tối ông dựa hờ lên bình đựng nước. Ông bỏ lại miếng thức ăn trên đĩa rồi chăm chú đọc hàng chữ. Sau đó, ông uống một ngụm nước, đẩy đĩa thức ăn sang một bên, trải tờ báo xuống bàn trước mặt mình, chống hai khuỷu tay lên bàn và đọc đi đọc lại bản tin đó. Bắp cải bắt đầu có một lớp mỡ trắng lạnh đọng trên đĩa. Cô gái phục vụ đến bàn lễ phép hỏi ông phải chăng món ăn tối nay nấu không được ngon miệng lắm sao. Ông vội bảo cô nó rất ngon và ông gượng gạo cố nuốt vài miếng. Sau đó, ông đứng dậy móc ví trả tiền và bước ra ngoài.

Ông bước nhanh dưới trời hoàng hôn tháng Mười Một, cây can bằng gỗ phỉ chắc nịch của ông gõ xuống mặt đất phát ra những tiếng lạch cạch đều đều, chiếc khăn lụa hiệu Mail màu thổ hoàng  nằm lấp ló trong túi bên chiếc áo khoác ngoài bó sát người. Đến đoạn đường vắng vẻ từ cổng Công viên đến Chapelizod, ông bước chậm lại. Cây can gõ xuống mặt đất nhẹ hơn và hơi thở ông phát ra không đều, như hòa với tiếng thở dài, ngưng tụ trong không khí lạnh buổi chớm đông. Về đến nhà, ông lập tức lên phòng ngủ rút tờ báo từ trong túi ra và đọc lại bản tin dưới ánh sáng yếu ớt từ cửa sổ hắt vào. Ông không đọc to thành tiếng mà mấp máy môi như một linh mục đọc lời cầu nguyện trong kinh Secreto. Dưới đây là bản tin ông đọc:

CÁI CHẾT CỦA MỘT PHỤ NỮ TẠI SYDNEY PARADE
MỘT TAI NẠN THƯƠNG TÂM

Hôm nay tại Bệnh viện Thành phố Dublin, Phó giám định y khoa (khi ông Leverett vắng mặt) đã tiến hành giảo nghiệm tử thi bà Emily Sinico, bốn mươi ba tuổi, người đã tử vong tại trạm ga Sydney Parade vào tối qua. Bằng chứng cho thấy người phụ nữ, trong khi cố băng qua đường ray, đã bị đầu máy chuyến tàu mười giờ từ ga Kingstown húc ngã, mặc dù lúc đó chiếc tàu chạy rất chậm nhưng bà bị thương ở đầu và bên phải, dẫn đến tử vong.

Ông James Lennon, người lái tàu, cho biết ông đã làm việc cho công ty đường sắt trong mười lăm năm. Khi nghe tiếng còi báo hiệu của người gác cổng, ông đã cho tàu chuyển động và chỉ một hai giây sau đó ông thắng vội vì nghe tiếng kêu lớn. Tàu đang chạy rất chậm.

Anh P. Dunne, một nhân viên khuân vác đường sắt, khai rằng khi tàu sắp khởi hành, anh ta thấy một người phụ nữ cố vượt qua đường ray. Anh ta chạy về phía bà ấy và hét lên, nhưng trước khi anh ta có thể với tới bà, thì bà đã bị vướng vào bộ đệm của đầu máy và ngã xuống đất.

Một nhân viên điều tra hỏi anh ta: “Anh có nhìn thấy người phụ nữ đó ngã không?”

Thì anh ta trả lời: “Có.”

Trung sĩ Cảnh sát Croly khai rằng khi đến nơi, ông thấy nạn nhân nằm trên sân ga, và dường như đã chết. Ông bèn đưa thi thể người đàn bà vào phòng đợi trong khi chờ xe cứu thương đến.

Cảnh sát trưởng ty 57E cũng xác nhận như thế.

Bác sĩ Halpin, trợ lý phẫu thuật tại Bệnh viện Thành phố Dublin, khai rằng người chết bị gãy hai xương sườn dưới và bị bầm tím nghiêm trọng ở vai phải. Ông cũng tìm thấy vết thương trên đầu phía bên phải khi bị ngã. Tuy vậy, các vết thương không đủ nặng để gây tử vong ở một người bình thường. Theo ông, người phụ nữ chết có thể là do sốc và tim đột ngột ngừng hoạt động.

Ông H. B. Patterson Finlay, thay mặt cho công ty đường sắt, bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về tai nạn. Ông bảo công ty luôn thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn mọi người tùy tiện băng qua đường ray, muốn băng qua thì phải tìm cầu bắc ngang. Công ty cho đặt bảng lưu ý tại mọi sân ga, và tại các lối đi cắt ngang đường sắt đều có cổng lò xo. Người phụ nữ xấu số ấy có lẽ có thói quen băng qua đường ray vào ban đêm lúc tối trời từ sân ga này sang sân ga khác và xét đến một số tình tiết khác của vụ việc, ông không nghĩ rằng các viên chức đường sắt phải chịu trách nhiệm.

Thuyền trưởng Sinico, nhà ở Leoville, Sydney Parade, chồng của người xấu số, cũng đưa ra bằng chứng. Ông khai rằng người đàn bà đó chính là vợ ông. Ông không ở Dublin vào thời điểm xảy ra tai nạn vì ông mới từ Rotterdam về sáng hôm đó. Họ lấy nhau được hai mươi hai năm và sống hạnh phúc cho đến khoảng thời gian hai năm trước đây thì vợ ông bắt đầu có những thói quen không kiềm hãm được.

Cô Mary Sinico nói gần đây mẹ cô có thói quen ra ngoài vào ban đêm để mua rượu. Cô, trong tư cách một nhân chứng, đã nhiều lần cố khuyên bảo mẹ và đã thuyết phục bà tham gia Liên đoàn Phụ nữ. Hôm xảy ra tai nạn, một giờ sau cô mới về nhà.

Hội đồng xét xử đã đưa ra phán quyết phù hợp với bằng chứng y khoa và tuyên bố ông Lennon hoàn toàn vô tội.

Phó giám định y khoa cho biết đây là một tai nạn vô cùng đau lòng và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc cùng chia buồn với thuyền trưởng Sinico và con gái ông. Ông khẩn thiết khuyến cáo công ty đường sắt thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả hơn để ngăn ngừa khả năng xảy ra những tai nạn tương tự trong tương lai. Và không ai bị quy lỗi trong vụ này.

*

Ông Duffy rời mắt khỏi tờ báo nhìn ra quang cảnh buổi tối ảm đạm ngoài cửa sổ. Dòng sông nằm lặng lẽ bên cạnh nhà máy chưng cất rượu bỏ hoang, lâu lâu một ngọn đèn bật lên trong một ngôi nhà nào đó trên đường Lucan. Thật là một kết cuộc đau buồn! Toàn bộ câu chuyện về cái chết của bà khiến ông kinh hãi và ông cảm thấy kinh hãi khi nghĩ rằng mình đã từng nói với bà về những điều ông xem là thiêng liêng. Những câu chữ sáo rỗng, những biểu hiện vô nghĩa của sự đồng cảm, những lời lẽ thận trọng của một phóng viên nhà báo, tất cả được khéo léo diễn đạt để che giấu những chi tiết về một cái chết tầm thường, thô bỉ. Nó tấn công dạ dày ông. Bà không chỉ hạ thấp bản thân mình; mà còn hạ thấp ông nữa. Ông nhìn thấy vùng đất bẩn thỉu của những thói hư tật xấu nơi con người bà, khốn khổ và thối tha. Người tri kỷ của tâm hồn ông! Ông nghĩ đến những kẻ nhếch nhác, những con người bê tha, bệ rạc chân đi khập khiễng ông từng thấy cầm ly cốc đến cho người phục vụ trong quán rượu rót đầy. Chúa ơi, thật là một kết cuộc đáng buồn! Rõ ràng là bà không đủ sức sống, không còn bất kỳ sức mạnh nào cho mục đích sống nữa, một con mồi dễ dàng cho những thói quen tật xấu, một bãi phế thải hoang tàn mà nền văn minh này đã được nuôi dưỡng. Làm thế nào bà lại có thể chìm sâu xuống đất đen như thế được! Phải chăng ông đã hoàn toàn tự lừa dối mình về con người bà? Ông nhớ lại cơn cảm xúc không trấn áp nổi của bà cái đêm hôm đó và ông đã diễn dịch nó theo một ý nghĩa khắc nghiệt hơn ông từng làm, và bây giờ ông cảm thấy chẳng hối tiếc chút nào về con đường mình đã chọn.

Ánh sáng tàn dần và suy nghĩ trong trí óc bắt đầu tản mác, ông nhớ lúc bàn tay bà chạm vào tay mình. Cú sốc ban đầu tấn công dạ dày ông bây giờ quay ra đánh mạnh vào các dây thần kinh. Ông vớ chiếc áo khoác ngoài, đội mũ rồi đi ra ngoài. Không khí lạnh phả vào mặt mũi ông ở ngưỡng cửa; nó len lỏi vào tay áo khoác. Đến quán rượu đầu cầu Chapelizod, ông bước vào trong gọi một cốc hot punch[6].

Người chủ quán lễ độ phục vụ nhưng không dám bắt chuyện. Có năm sáu người trong tiệm, toàn dân thợ thuyền, họ đang bàn luận về giá trị bất động sản của một người giàu có ở Quận Kildare. Họ uống rượu trong những chiếc cốc lớn và hút thuốc liên miên, chốc chốc họ khạc nhổ xuống sàn rồi dùng đôi ủng dưới chân hất mạt cưa lấp lên bãi nhổ. Ông Duffy ngồi trên chiếc ghế cao bên cạnh quầy rượu, hai mắt nhìn đám thợ, nhưng ông không thấy họ và cũng chẳng nghe họ đang nói gì. Một lúc sau, họ đồng loạt đứng lên bỏ ra về và ông gọi thêm một cốc rượu nữa. Ông ngồi đó rất lâu. Tiệm yên tĩnh. Người chủ quán nằm lăn trên quầy vớ tờ Herald ra đọc, vừa đọc vừa ngáp dài. Thi thoảng, người ta nghe thấy tiếng xe điện chạy rầm rì trên con đường vắng bên ngoài.

Ông ngồi đó ôn lại quãng thời gian ngắn ngủi với bà, hai hình ảnh trái ngược thay phiên nhau hiện về tâm trí ông. Bà đã chết, không còn tồn tại, và đã trở thành một ký ức. Ông bắt đầu cảm thấy có điều gì không ổn trong lòng. Ông tự hỏi khi đó mình có thể làm điều gì khác không. Ông chẳng thể nào tiếp tục vở hài kịch lừa dối với bà; không thể sống với bà một cách công khai. Ông đã làm những gì có vẻ như là tốt nhất cho ông. Ông phải chịu trách nhiệm như thế nào? Giờ đây bà đã chết, ông hiểu cuộc sống của bà hẳn cô đơn đến mức nào, đêm này qua đêm khác ngồi một mình trong căn phòng đó. Cuộc sống ông cũng cô đơn như thế thôi, cho đến khi ông nhắm mắt xuôi tay, không còn tồn tại, trở thành một ký ức – nếu còn có ai nhớ đến ông.

Hơn chín giờ tối ông mới rời khỏi tiệm rượu. Đêm lạnh lẽo và u ám. Ông bước vào Công viên qua cổng số một và đi dọc dưới những hàng cây khẳng khiu trụi lá. Ông đi lại những lối đi buồn thảm nơi bốn năm trước họ hay đi. Trong bóng tối hình như bà ở gần ông hơn. Có lúc ông cảm thấy giọng nói bà rót vào tai ông, tay bà chạm tay ông. Ông dừng chân đứng lại, lắng nghe. Tại sao ông lại tước đi mạng sống của bà? Tại sao ông lại kết án tử hình bà? Ông cảm thấy con người đạo đức của mình đang tan vỡ thành từng mảnh vụn.

Khi lên đến đỉnh đồi Magazine, ông dừng chân dõi tia mắt theo con sông chảy lững lờ về phía Dublin, nơi có những ngọn đèn nhấp nháy cháy đỏ trông ấm áp trong đêm lạnh. Ông nhìn xuống con dốc, chỗ chân đồi, trong bóng tối của bức tường Công viên, ông thấy vài cặp trai gái đang nằm ôm nhau. Những mối tình vụng trộm và tham lam đó khiến ông chỉ cảm thấy tuyệt vọng. Ông gặm nhấm sự thật thẳng băng của cuộc đời mình; ông cảm thấy như mình đã bị ném ra khỏi bữa tiệc đời sống. Có một người đàn bà hình như đã yêu ông và ông đã thẳng thừng từ chối cuộc sống hạnh phúc với người đó: ông đã gieo tội lỗi ô nhục lên người đàn bà, và kết cuộc là một cái chết đáng xấu hổ. Ông biết rằng những cặp trai gái nằm quấn quýt nhau dưới bức tường đang theo dõi ông và họ chỉ mong ông biến mất trong tầm mắt họ. Không ai muốn có ông; ông là kẻ bị ruồng bỏ khỏi bữa tiệc đời sống. Ông ngước mắt nhìn dòng sông lấp lánh màu xám xịt, uốn khúc chảy về phía Dublin. Bên kia sông, ông thấy một đoàn tàu hỏa chở hàng uốn éo chạy ra khỏi ga Kingsbridge, trông nó giống một con sâu có cái đầu rực lửa luồn lách trong bóng tối, một cách ngoan cố và khó nhọc. Nó chậm chạp đi qua khỏi tầm mắt; nhưng ông vẫn nghe trong tai tiếng động cơ xình xịch lặp đi lặp lại âm tiết tên người đàn bà.

Ông quay lại con đường đi lúc nãy, tiếng con tàu từng nhịp vẫn vang động trong tai ông. Ông bắt đầu nghi ngờ tính xác thực của những điều ký ức mách bảo ông. Ông dừng lại dưới một gốc cây để nhịp điệu đó lắng xuống. Trong bóng tối, ông không cảm thấy người đàn bà ở gần ông nữa, giọng nói bà cũng không còn vo ve trong tai ông. Ông đợi vài phút. Lắng nghe. Ông không nghe gì cả: màn đêm hoàn toàn im lặng. Ông lại lắng nghe: vẫn hoàn toàn im lặng. Ông cảm thấy chỉ có mình ông ở đó. Trong cô đơn.

(Dịch từ ấn bản Dubliners, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)

*

 

 

Lời người dịch:

Thiên truyện này của James Joyce dễ đọc, nhưng khó nhằn và khó nuốt.

Dễ đọc vì, ngay khi vào truyện, Joyce đã cho chúng ta thấy rất rõ cuộc sống, tính cách, tâm lý các nhân vật như thế nào. Họ là ai, làm gì. Trước hết là ông Duffy, ông độc thân, sống một cuộc đời cẩn trọng và chỉn chu ngăn nắp; ông giữ nhà cửa gọn gàng, ăn uống tại cùng một nhà hàng và đi làm mỗi ngày trên cùng một tuyến đường. Ông có đời sống như một nhà tu khổ hạnh. Và bà Sinico, một người đàn bà nhiều tình cảm, nhưng sống cô độc vì chồng làm thuyền trưởng một tàu buôn, thường xuyên vắng nhà.

Ông Duffy có quan hệ với bà Sinico, nhưng đó là một quan hệ trên tình bạn một chút nhưng không có tình yêu bởi ông Duffy không cho nó cơ hội xảy ra. Nhưng ông không thể chịu đựng tính cách nổi nênh vô định hướng trong mối quan hệ đó, nó khiến cuộc sống ngăn nắp của ông bị xáo trộn. Bà Sinico khơi dậy trong lòng ông Duffy những cảm xúc nồng ấm mới mẻ, nhưng khi bà có một cử chỉ thân mật, ông phản ứng lại với sự ngạc nhiên và ông nhanh chóng quyết định cắt đứt quan hệ với bà. Cử chỉ của bà Sinico cho thấy một sự thật khác tồn tại, và sự thật này khiến ông Duffy sợ hãi. Đó là để chấp nhận sự có mặt của bà trong cuộc sống, mở tâm hồn ra cho tình yêu cùng các cảm xúc sâu sắc ùa vào trái tim mình, ông phải thay đổi hoàn toàn cuộc sống mình, phải ném bỏ chiếc ghế ngã mạn cao vòi vọi với những nguyên tắc cứng nhắc, cũ mòn để điều chỉnh lại thành một con người và cuộc sống khác, một điều ông không thể làm được.

Ông trở lại cuộc sống cô độc với một chút nhẹ nhõm. Và, bốn năm sau, khi đọc trên báo tin bà Sinico qua đời trong một tai nạn đau thương tội nghiệp, ông đã phản ứng với cú sốc và sự ghê tởm, giống như khi bà chạm vào tay ông. Cái chết bi thảm của bà Sinico cho thấy chiều sâu cảm xúc mà bà sở hữu, điều ông Duffy sẽ không bao giờ hiểu hay chia sẻ được vì cái ngã mạn của ông quá lớn. Nó chỉ khiến ông Duffy tỉnh ngộ phần nào sau khi ông vào quán rượu uống hai cốc rượu, đoạn ra ngoài đi bộ dọc theo những con đường ngày xưa ông bà hay đi dạo, vừa đi vừa suy nghĩ. Ông nhận ra rằng chính cuộc sống như thầy tu với trật tự và sự đúng mực đã loại bỏ bà ra khỏi cuộc đời mình, và nó đã ngăn cản ông sống trọn vẹn. Ta tưởng, sau khi tỉnh ngộ, ông sẽ thay đổi cuộc đời mình. Nhưng không. Giống như các nhân vật khác trong Dubliners trải qua sự giác ngộ, ông Duffy không được truyền cảm hứng để bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời, mà thay vào đó, ông cay đắng chấp nhận sự cô đơn để tiếp tục kiếp sống cũ mòn.

Truyện ngắn Một tai nạn thương tâm của Joyce kết thúc ở nơi nó bắt đầu, với ông Duffy một mình. Sự lặp đi lặp lại tẻ nhạt đó cuối cùng đã mang đến cho ông Duffy cái chết trong cuộc sống: cái chết của một người từng khơi dậy khát vọng được ở bên cạnh một người khác. Khi còn sống, bà Sinico đã tiếp sức cho ông và, thông qua sự thân mật của bà, đã gần như sưởi ấm trái tim lạnh giá của ông. Tuy nhiên, chỉ khi chết, bà mới thành công trong việc làm bật lên cái vòng luẩn quẩn cô đơn của ông, cho ông thấy rõ hơn bản ngã mình. Bi kịch của câu chuyện này có ba khía cạnh. Thứ nhất, ông Duffy phải đối mặt với cái chết bi thảm trước khi có thể suy nghĩ lại về lối sống và quan điểm của mình. Thứ hai, việc thừa nhận những vấn đề trong lối sống khiến ông nhận ra lỗi lầm của mình: bà Sinico chết vì đau buồn do chính ông gây ra. Thứ ba, có lẽ bi thảm nhất, ông Duffy không thay đổi được quan điểm sống mà ông đã tạo ra cho mình. Ông bị tê liệt, và ông bất chấp những lời tự thú và cảm giác tội lỗi của mình. Bởi ngã mạn ông quá lớn.

Lưu ý, Joyce đã lựa chọn những cái tên mang tính biểu tượng trong thiên truyện. Để thể hiện chủ đề u ám của câu chuyện về tình yêu tan vỡ và sự cô đơn, ông cho nhân vật chính cái tên Duffy. Duffy bắt nguồn từ tiếng Ireland có nghĩa là tối tăm, gợi lên tâm trạng ảm đạm, u buồn mà câu chuyện diễn ra trong cuộc sống của ông. Khu ngoại ô nơi ông Duffy sinh sống, Chapelizod, lấy tên từ tiếng Pháp, Chapel d’Iseult. Iseult là một nhân vật trong cặp tình nhân nổi tiếng Tristan và Iseult, mối tình bi thảm của họ được xếp vào một trong những thiên tình sử kinh điển nhất trong văn học và âm nhạc Tây phương. Sự xuất hiện của cái tên này trong câu chuyện, với tư cách là khu phố nơi ông Duffy sinh sống – nơi ông cố tình chọn để tránh xa sự ồn ào náo nhiệt của Dublin – là biểu tượng cho tình yêu đơn phương và cái chết của bà Sinico với cuộc sống khép kín của ông Duffy.

Trong thời gian dịch thiên truyện kinh điển này của Joyce, vào đầu năm 2026, tôi cũng được xem một vở kịch nổi tiếng, Who’s Afraid of Virginia Woolf của kịch tác gia Edward Albee trên sân khấu kịch South Coast Repertory, Nam California. Cả hai, thiên truyện của Joyce và vở kịch của Albee, viết cách nhau hơn nửa thế kỷ, từ hai bối cảnh rất khác nhau, nhưng đều có chung một nghiệm số: sự bế tắc đến bi thảm của cuộc sống hôn nhân hiện đại, và điều đó vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Sống với nhau phải chăng là cho nhau sự đau đớn, là đẩy nhau vào vũng lầy, là hủy diệt nhau?

Thiên truyện của Joyce, tôi bảo dễ đọc nhưng khó nhằn, khó nuốt, là vì vậy. Nó chiếu rọi một cách sâu sắc và không khoan nhượng vào bản chất tâm hồn chúng ta: chúng ta không có khả năng vứt bỏ cái ngã mạn cao nghều nghệu kia đi để đem hạnh phúc cho người khác.  – TYT

[1] Tên một ngôi làng ngoại ô Dublin, Ireland, tọa lạc trong thung lũng rừng cây ven sông Liffey, gần cánh đồng Strawberry Beds và công viên Phoenix. Tuy không nêu rõ địa danh từng nơi, nhưng có lẽ Joyce đã sử dụng bối cảnh vùng đất này trong thiên truyện. (Tất cả chú thích trong bài này là của người dịch.)

[2] William Wordsworth [1770-1850]: Thi sĩ Anh thời kỳ Lãng mạn.

[3] Câu này trong nguyên tác là “A medieval doctor would have called him saturnine” để mô tả tính cách của ông Duffy. Bởi thời Trung cổ ở châu Âu, người ta tin tưởng rằng tính cách con người là do ảnh hưởng của các hành tinh. Ví von ông Duffy với người sao Thổ, câu văn ám chỉ một người có bản chất u sầu, tâm trạng bất thường, có cái gì bí ẩn nung nấu trong nội tâm. Với một câu văn ngắn ngủi, Joyce đã mô tả gần như toàn vẹn tính cách của nhân vật ông sắp thuật.

[4] Arrowroot: Bột dong, còn gọi là bột hoàng tinh.

[5] Friedrich Nietzsche [1844-1900]: Triết gia Đức.

[6] Hot punch: Thức uống nóng pha rượu, là một loại đồ uống ấm áp, thơm ngon, thường được phục vụ trong thời tiết lạnh hoặc vào các dịp lễ, kết hợp rượu mạnh (thường là rum, brandy hoặc gin) với nước nóng, nước ép trái cây họ cam quýt, đường và các loại gia vị như quế và nhục đậu khấu. Thức uống này được pha chế để uống nóng, với sự kết hợp hài hòa giữa hương vị trái cây và rượu.

This entry was posted in Văn and tagged , . Bookmark the permalink.