Đáo [thô] bỉ ngạn cùng Đỗ Lai Thúy

Đặng Thân


Đỗ Lai Thúy vừa ra sách mới, Bờ bên kia của viết (NXB Hội Nhà Văn, 2017), cả một cái tên của tuyệt đỉnh chữ. Nhà xuất bản có lời giới thiệu (hơi bị “công chức”):

[...] Chính lý thuyết đã cho Đỗ Lai Thuý nhìn mới đối tượng và, quan trọng hơn, cách tiếp cận đối tượng ấy. Phê bình văn học của ông, do vậy, dù ngắn hay dài đều là phê bình học thuật. Nghĩa là ông thiên về tìm kiếm những giá trị mới, những phương pháp mới, nhất là những thứ có thể tạo ra sự chuyển đổi hệ hình. Tuy say mê lý thuyết như vậy, nhưng, Đỗ Lai Thuý không ứng dụng đơn giản, mà chủ yếu là trải nghiệm lý thuyết qua những thực hành phê bình cụ thể. Tập tiểu luận Bờ bên kia của Viết, tuy là một tập hợp, nhưng là một tập hợp có ý đồ, có cấu trúc. Nó chẳng những bộc lộ ít nhiều viết-Đỗ-Lai-Thuý mà chúng tôi vừa trình bày một cách cô đọng ở trên, mà cả những gì đằng sau viết ấy, tức “bờ bên kia của viết” mong bạn đọc cùng ông “đáo bỉ ngạn”.

Mấy dòng ấy chỉ có xác chữ mà chưa có hồn. Các “cách tiếp cận đối tượng” xưa nay đều chưa có cái nào “đáo bỉ ngạn |” đâu nhé. Mọi thứ “học thuật”, “trải nghiệm lý thuyết qua những thực hành phê bình cụ thể” cũng thế; “có ý đồ, có cấu trúc” càng xa “bỉ ngạn” (pāramitā | 波羅蜜 | ba la mật).

Còn Đỗ Lai Thúy nói gì? Ông tự giới thiệu:

Viết văn, viết văn hoá, viết người viết chung quy là viết bản thân. Nhưng không từ cái ngã còn nhiều rong rêu bám víu, mà là cái bản ngã – vô ngã. Viết, khi ấy đã sang bờ bên kia của viết.

Vậy, đến “bờ bên kia”, là do viết được bằng cái “bản ngã – vô ngã”? Dẫu Đỗ Lai Thúy đã gắng nói lòng mình, nhưng e, là ông vẫn bị “lời” nó ám, cho nên lòng ông đã “vô”, nhưng vẫn làm người đọc thấy “rong rêu” trong mắt, nên nhẽ vẫn chưa ai thật sự nhìn ra chính ông cho hết nhẽ. Tham khảo “bờ bên kia” trong mắt Tuệ Trung Thượng sỹ,[1] thì hiển hiện rõ ràng (“sạch sẽ”), như trong bài “Thị chúng” (Bảo mọi người):

世間宜妄不宜真,
真妄之心亦是塵。
要得一高超彼岸,
好參童子面前人。

Phiên âm:

Thế gian nghi vọng bất nghi chân,
Chân vọng chi tâm diệc thị trần.
Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn,
Hiếu tham đồng tử diện tiền nhân.

Dịch nghĩa:

Thế gian ưu dối không ưa thực,
Cái tâm thực hay dối cũng đều là bụi cả!
Nếu muốn vượt lên cao sang bờ bên kia,
Hãy hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt.[2]

“Chân vọng chi tâm diệc thị trần”, nên rằng, “bản ngã”/”vô ngã” thì dường như “cũng đều là bụi cả”. Kìa, “hãy hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt”. “TRẺ THƠ”, chính là cái thể chất chứa đầy trong Đỗ Lai Thúy, và cũng chính điều tôi muốn nói về ông, bút/chữ của ông.

Đến đây, thì tôi muốn nói ngòi bút của ông không khác con dao của gã đồ tể thực sự “đáo bỉ ngạn” trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Chuyện về gã như vầy: Khi tên bếp của vua Văn Huệ mổ bò gã đưa lưỡi dao xoèn xoẹt, phát ra những thanh âm có tiết tấu của những khúc nhạc như trên thiên giới. Điều quan trọng, là đã 19 năm, đã mổ nhiều ngàn con bò, mà gã chưa hề phải mài dao bao giờ, lưỡi dao vẫn sắc như mới mài. Gã nói, hồi mới học nghề chỉ thấy bò là bò, rồi sau ba năm thì không thấy bò nữa, gã không còn phải dùng mắt hay mọi cảm quan, mà chỉ mổ bò bằng tinh thần. Vấn đề là gã đã biết hết cơ cấu con bò, nên chỉ lách lưỡi dao mỏng vào những chỗ kẽ “hư không” trong thân thể con vật mà không đụng tới kinh lạc, gân, bắp thịt, xương. Gã tâu với vua: “Mỗi khi gặp một khớp xương mà thần thấy khó khăn, thần nín thở, ngẫm kỹ, rồi chầm chậm đưa lưỡi dao thật nhẹ tay, khớp xương rời ra dễ dàng cứ như bùn rơi xuống đất. Rồi thần cầm dao, ngửng lên, nhìn bốn bên, khoan khoái, chùi dao, đút vào vỏ.” Ngòi bút của Đỗ Lai Thúy, cũng tương tự. Ông có thể giải quyết mọi vấn đề rất gọn gàng, viết về mọi “người viết” một cách thoải mái nhất có thể mà cứ đâu ra đấy; đưa ra những kiến giải hay ho, sinh động, độc đáo, uyên áo, ngọt ngào… Hãy nghe Đặng Tiến, giảng viên ĐH Thái Nguyên, đưa ra nhận xét giản dị:

Dầu ai nói ngang hay nói chéo thì tôi vẫn thấy Đỗ Lai Thúy là một trong dăm bảy nhà phê bình văn chương, nghệ thuật, văn hóa… đáng ngưỡng mộ. Ông đọc nhiều, tham bác nhiều học thuyết và ứng dụng thành công.

Cứ thế, ngòi bút ấy đã viết nên [hơn] 11 cuốn sách (trong đó có những tuyệt phẩm như: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Chân trời có người bay, Bút pháp của ham muốn, Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy, Thơ như là mỹ học của cái khác, Hé gương cho người đọc…),[3] ôm chứa hầu khắp mọi “người viết” của văn học/hóa Việt khắp hai bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có nhiều tác giả cực kỳ khó nhằn cả về văn phong lẫn quan điểm chính trị. Thế nhưng, “các khớp xương rời ra dễ dàng cứ như bùn rơi xuống đất”. Hãy chiêm ngưỡng một đoạn ngắn mở đầu bài “Tô Thùy Yên là hiện tại” của ông trong tập sách mới:

Thơ thành thị miền nam 1954-1975 đa dạng, phong phú. Trong khu rừng nhiệt đới sum suê cá tính ấy nổi lên ba đại thụ: Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên. Thơ họ hay, khỏi phải nói, đáng nói họ mở ra những con đường sáng tạo khác nhau; đưa thơ Việt cập nhật và cập… thế giới. Thanh Tâm Tuyền, như Trần Dần sau đó, đi hết mình về phía (chủ nghĩa) hiện đại. Bùi Giáng cũng như Lê Đạt sau đó, đặt một chân vào hậu hiện đại. Còn Tô Thùy Yên rẽ ngang vào một hiện đại khác, hiện-đại-cổ-điển.

Chỉ có 6 câu mà “giải | 解 | mổ xẻ” xong các đỉnh núi thơ của 20++ năm!

Xưa, đã có trự “chí thiện đồ ngưu” của Văn Huệ [Vương]; nay, cả mừng mà thấy bậc “cập thiện đồ văn” của vương quốc Văn Chương. Đọc chữ của Đỗ Lai Thúy, cảm quan ban đầu dìu dịu, rồi triển lên ngay rất là mạnh, chắc rằng không khác chi Kinh Kha khi xưa nghe Cao Tiệm Ly gẩy đàn, như Chiến quốc sách đã ghi: “高漸離擊筑, 荊軻和而歌 | Cao Tiệm Ly kích trúc, Kinh Kha hòa nhi ca | Cao Tiệm Ly gẩy đàn trúc, Kinh Kha hòa theo mà ca.” Cho nên, đọc Đỗ Lai Thúy, mà không thấy cái sự thúc bách “hòa nhi ca”, thì quả là rất mất vệ sinh (“kém tắm”).

Gã mổ bò của Văn Huệ “hồi mới học nghề chỉ thấy bò là bò, rồi sau ba năm thì không thấy bò nữa, gã không còn phải dùng mắt hay mọi cảm quan, mà chỉ mổ bò bằng tinh thần“! Ồ, chuyện của gã chính là đỉnh cao của dưỡng sinh, và, nhất là, không khác gì chuyện hệ trọng của các đại sư học đạo: Khi chưa học đạo, chỉ thấy núi là núi; khi dấn thân học đạo, lại thấy núi không phải là núi; lúc ngộ đạo rồi thì lại thấy núi là núi. Sau này, chính Georg Wilhelm Friedrich Hegel lẫm liệt đã học được tinh thần ấy, để đạt đến “tự ý thức” về tính tuyệt đối trong công thức nổi tiếng biện chứng: “thesis – antithesis – synthesis | đề – phản đề – hợp đề”. Nên nhớ, “synthesis” của ông chính là “núi” của giai đoạn ba; nôm na thì: núi/sông…, mà không phải là núi/sông…, mới đích thực là núi/sông… Người đọc, dù bình thường đến mấy, sẽ thấy cái thượng thặng chân lý (có vẻ) “đèn cù” ấy trong viết-Đỗ-Lai-Thúy. Ồ, vũ trụ này cũng chính là một cái đèn cù khổng lồ hỗn độn nhất (nhưng “hài hòa”); bỏ qua hiểu biết này mọi người đều rất dễ lãng phí cả cuộc đời. Điều ấy, phản ánh trong thiền và Hegel, chính là tam nguyên luận trong triết học, là cái không những loài người hiện nay hầu như “không thèm biết”, mà hầu hết các học giả hàng đầu nhân loại, cũng “đành bỏ qua”.

Hành trình viết của Đỗ Lai Thúy (hiếm hoi) còn là một quá trình phản ánh rõ nét nhất tư tưởng của Friedrich Wilhelm Nietzsche hùng tráng, về những chặng đường của một trí giả thực sự: lạc đà, sư tử, trẻ thơ. Bắt đầu như con lạc đà chất lên lưng mà thồ biết bao gánh nặng của tri thức nhân loài, trở thành “sư tử hí cù” cuồng điên tàn hủy tất tật, rồi thanh tẩy tất cả để hóa thành trẻ thơ, từ đây mới có “cá tính sáng tạo”, “cái mới”, “cái khác”. Tiếc thay, trong giới “học giả” nước Nam hiện nay, đa phần thì vẫn chỉ là “lạc đà”, chỉ biết è cổ chất chồng (tuy nhiên, tất cả mà được như thế thì đã tốt) mà không sáng tạo (vì chưa từng dám đập phá và trở về hồn nhiên). Đã thế, có những “GSTS” còn thường viết về các thầy mình, hết thầy này đến thầy khác, những bài “nêu công ơn” kiểu như “Thầy tôi, người thồ chữ”!! Thế mà các vị “thò chầy” kia vẫn sung sướng tạc thù được với nhau mới hãi. Ôi, những “lạc [thú] [chốc] đà”!!

Thực ra, Nietzsche cũng còn thiếu, chứ đoạn đầu ắt phải là “trẻ thơ” (ngạc nhiên trước vạn vật), rồi mới đi tiếp chặng “lạc đà”, “sư tử”, để rồi mới có thể “復歸於嬰兒 | phục qui ư anh nhi | lại trở về với trẻ thơ”, như Lão Tử đã truyền trong Đạo Đức Kinh cách nay hàng ngàn năm. Như Phúc Âm đã bảo: “אם לא תחזרו בתשובה ותהיו כמו ילדים קטנים, לא תיכנסו למלכות השמים | Truly I tell you, unless you change and become like little children, you will never enter the kingdom of heaven | Ai không trở nên như trẻ nhỏ không được vào nước Trời.” Để rồi mới tới Nietzsche, và sau đó là René Maria Rilke: thơ là tiếng nói của trẻ thơ; nhà thơ ơi, hãy luôn biết cách nhìn mọi vật như kẻ lần đầu trên thế gian nhìn thấy…

Sáng tạo lớn của Đỗ Lai Thúy, dưới ảnh hưởng của Thomas Samuel Kuhn (“triết gia khoa học” có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20) với thuật ngữ “paradigm shift | chuyển đổi hệ hình”, là việc ông (cùng một số ủng hộ viên khác) chia văn học làm ba hệ hình: tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại.

Tổng hợp tất cả các điều trên từ thiền, triết, Lão, Trang, Phúc Âm, Tuệ Trung Thượng sỹ, Hegel, Nietzsche, Rilke, Kuhn, Đỗ Lai Thúy… và, tam nguyên luận, tôi xin được đưa ra sơ đồ tóm lược này:

image

Vậy thì, thưa tất cả các nhà lý luận văn học Việt Nam rằng, quan điểm của các vị còn chưa trả lời cho câu hỏi của tôi (đã hỏi các vị từ lâu trong các hội thảo), đó là tôi chưa thấy rõ cái “tam nguyên”, hay đơn giản là “sự trở về trẻ thơ” đâu (hệ hình? / chủ nghĩa?). Tất nhiên, tôi đã có câu trả lời của mình (và tôi tin chắc đến lúc này thì nhiều người cũng thấy), nhưng nói hết lúc này, hình như là chưa đúng “時|thời” chăng. Một lời đơn giản, thì chỗ có hai dấu hỏi (??) ấy mới thực sự là cú “trở về trẻ thơ” của “tam nguyên”, một thứ “dân gian” tái hiện nhưng đầy ắp “khoa học” tính của modernism cùng “tâm linh” tính của postmodernism, sau khi đã vượt vũ môn qua các cửa ải “nhị nguyên” của những “lạc đà” và “sư tử”, có thể tạm gọi đó là “transmodernism | xuyên hiện đại” (Đây, cũng là nơi tôi [nhà văn Đặng Thân, như nhiều người vẫn gọi] thường cư, và vẫn gọi là PHẠC-NHIÊN; xin các nhà lý luận phê bình nhỡ quan tâm thì lưu ý, đừng ép uổng tôi đi lung tung).

Tuy nhiên, đối với cả hành trình viết-Đỗ-Lai-Thúy thì ông lại đủ cả bốn chặng đó (trẻ thơ, lạc đà, sư tử, trở về trẻ thơ). Thế nhưng, đề nghị mọi người đừng nhìn các chặng theo kiểu “linear | tuyến tính” (Ôi, biết đến bao giờ các “học giả” nước ta mới hết “máy móc” nhỉ?), mà phải biết nhìn kiểu “nonlinear | phi tuyến tính”. Vì thế mà tôi đã nói: “trẻ thơ”, chính là cái thể chất chứa đầy trong Đỗ Lai Thúy, và cũng chính điều tôi muốn nói về ông, bút/chữ của ông. Đúng vậy, Đỗ Lai Thúy là một trẻ thơ phi tuyến tính | nonlinear child.

Cập nhật 1: Vừa có một vị tiến sỹ văn học gạo cội nhắc:

Tôi cho cái được nhất của Đặng Thân là đặt lại vấn đề cho các nhà lý luận văn học Việt Nam rất hay (có thể là mở ra một hệ hình cho nghiên cứu, lý luận văn học). Còn vụ “trẻ thơ phi tuyến tính” mà dành viết về Bùi Giáng thì chắc là cực hay như Đặng Thân đã có một bài thơ rất “thượng thừa” về Bùi Giáng (Thơ Bùi Giáng là một kết hợp cao viễn giữa tinh tuý triết học Đông Tây và tâm hồn Tô Vũ chăn dê nơi miền Trung nước Việt… cùng bao nhiêu kết hợp khác, thật khó nói… Tâm hồn Đặng quân từ một miền văn triết tương tự như thế nào đó đã khóc thi sĩ đười ươi bằng một tuyệt tác xưa nay chưa có).[4] Mong cho mỗi cú viết của Đặng Thân đều kết thúc bằng cảm hứng “viết đến đây nhẹ cả bìu…” như cao trào huyết lệ về “trung niên thi sỹ”!!!

Thưa anh, thứ nhất, tôi đã có đặt một danh xưng cho Bùi Giáng, là tuyệt-tự-tiên, và, nếu có viết nữa về người, tôi sẽ viết trên tinh thần ấy. Thứ hai, tôi thấy Bùi Giáng đúng là “trẻ thơ”, nhưng, ông là “trẻ thơ” cỡ vừa thủy tổ vừa vị lai, đến mức ông đã tự gọi mình là “đười ươi” (Rất chính xác, vì sinh học đã chỉ ra đười ươi và khỉ có bộ não như của đứa trẻ hai tuổi. Bùi Giáng là “trẻ thơ mặc định | default child”). Thứ ba, anh đừng quên Đỗ Lai Thúy đã có một chuyên luận khủng khiếp về Bùi Giáng (đã in trong tập Thơ như là mỹ học của cái Khác), có thể nói đó là bài viết của một nonlinear child về default child vậy.

Cập nhật 2: Nhiều “học giả”, cũng như cánh ngộ chữ “loser” vất vưởng, rất phản ứng và căm tức với cái nhan đề “bờ bên kia” mà Đỗ Lai Thúy đã đặt, như thể cái từ đó chỉ dành cho các bậc đại giác ngộ ngất ngưởng. Hỡi ôi, bây giờ là thời nào? Thời phong kiến, chắc rằng không thường dân nào dám tự nhận mình là “vua” trên văn bản nào, tru di cái chắc. Nhưng hiện nay, ta thấy nhan nhản vua: vua dầu mỏ, vua truyền thông, vua bất động sản… cho chí vua bãi rác. Tức là, “vua” đã thành một từ phái sinh, không còn chỉ có mỗi hàm nghĩa “nguyên thủ một quốc gia quân chủ theo chế độ cha truyền con nối” nữa, mà còn chỉ “người đứng đầu và có quyền lực” trong bất cứ lĩnh vực nào. Vậy là, chúng ta ai cũng hoàn toàn có quyền gọi ông là vua, như là “vua đống rác cũ” chẳng hạn (từ này hay). Tương tự, “bờ bên kia” cũng đã thành từ phái sinh; riêng trong phê bình văn học, Đỗ Lai Thúy thực sự “đáo bỉ ngạn” vậy.

Cũng mạo muội khuyên ông, sao không nghĩ ra từ/ngữ của riêng mình, khỏi phải “ăn lại đờm dãi của người xưa”, như Trần Nhân Tông đã “chém”. Vì thế, mà tôi “nhún nhường” bảo là “đáo [thô] bỉ ngạn” cùng ông.

[8-9/2017]


[1] Ông sinh năm 1230, mất 1291, là anh ruột của Trần Hưng Đạo, người hướng đạo của “Phật Hoàng” Trần Nhân Tông.

[2] Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, 1977.

[3] Đặng Tiến, giảng viên ĐH Thái Nguyên, có ý kiến tiếp khá chi tiết như sau:

Như cái còm [cá] măng trước Đặng Tiến có nhận xét rất là ngu ngơ rằng ông Thúy là một trong số không nhiều lắm những nhà phê bình rất đáng kính trọng hiện thời. Ông đọc nhiều nguồn và ứng dụng thành công vào phê bình nghiên cứu văn chương nghệ thuật văn hóa Việt Nam. Tầm nhìn của ông rộng và sâu. Công trình của ông mở rộng tầm mắt cho người đọc, nhất là người đọc ở khu vực miền Bắc dài dài chìm đắm trong các chức năng văn nghệ cực kì “mao nhiều” chứ không ít, [...] là chưa tiến hóa cùng nhân loại! Đặng Tiến chỉ là người đọc rất bình thường. Vì yêu tri thức mà đọc thôi chứ chả vì sự nghiệp vẻ vang giáo hóa gì hết. Nếu không vì định kiến hẹp hòi cá mương, cá mập gì đấy thì sau Mắt thơ có phần “tai tiếng” Đỗ Lai Thúy còn tung nhiều chưởng cực kì là cực kì! Công trình nghiên cứu văn hóa Việt từ góc nhìn nhân cách học văn hóa phải nói thực sự là “ghê răng” chỉ tiếc là ông chưa nghiên cứu mô hình con người cán bộ máy móc kiểu robot hiện đại trên nền tảng hợp nhất hai mẫu quân tử và nông dân mà đẻ ra dạng cốt cán ngự trị dài dài ở xứ ta suốt từ hồi cải cách ruộng đất mà vương vấn tới tận bây giờ!!! (Đó là công trình Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, đề tài cấp Viện, do Viện Văn hoá xuất bản. Đây là công trình nghiên cứu từ góc nhân cách học hay cũng là nghiên cứu phát triển gì đó. Theo hướng này sẽ tìm ra quy luật hình thành nên GS Nguyễn Lân “chứ ranh” từ điển sai bét nhè. Theo họ Đỗ, văn hoá là cái kết tinh ở một trình độ phát triển, kết tinh ấy hiện thành con người mang tính điển mẫu cho mỗi một thời đại cũng là một trình độ phát triển. Ông cho ta biết mấy mẫu người: người làng xã, người vô ngã thời Lí, người Hoàng đế, mẫu nhà Nho hành đạo, nhà Nho tài tử, người cá nhân… Vì thế tôi mới tiếc ông không nghiên cứu mẫu người cán bộ công nông binh robot nho sĩ nông phu). Rồi ông vận dụng phân tâm học hậu Freud cộng với tư tưởng của ông Bakhtin để nghiên cứu Hồ Xuân Hương, công trình này của Đỗ Lai Thúy đảm bảo đọc hay không kém gì tiểu thuyết của Đặng Thân. Rồi còn gì nữa? Bút pháp của ham muốn đọc thấy mê man nhưng mê xong rồi lại tỉnh! Rồi gì nữa, cuốn Chân trời có [hay hết?] người bay phác thảo chân dung văn hóa của những anh tài xứ Việt. Ai đã đọc chân dung ông Thúy viết về Trần Quốc Vượng – “người theo nết đất” thì chỉ còn biết “than” trời sinh một cặp rõ là tuyệt. Viết về ông Vượng trước họ Đỗ thì có cả… chục, nhưng họ Đỗ mới là người viết hay nhất về Trần Giáo sư. Rồi còn gì nữa? Thơ như là mĩ học của cái Khác đọc cũng thú đấy chứ? Còn gì nữa nhỉ? Rất nhiều thứ mà Đặng Tiến kẻ ngu ngơ này không thể nói hết trong cái còm măng này. Cuối cùng thì hoan hô Đặng Thân. Xin được nhắc lại Giời mượn Đặng Thân để nghị luận về Đỗ Lai Thúy. Không viết về Đỗ Lai Thúy thì Đặng Thân có thể vẫn chưa là Đặng Thân dù họ Đặng đã đình đám với 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]! (Nguồn: FB)

[4] Xem bài: “Búi Jàng: một bó cỏ trời”.

Comments are closed.