Bùi Văn Nam Sơn
Quyển Triết học nhập môn này của Karl Jaspers được Giáo sư Lê Tôn Nghiêm dịch và cho ra mắt lần đầu vào năm 1960, phục vụ nhu cầu giảng dạy cấp bách trong những ngày mới khai sinh Đại học Huế[1]. Sau thế hệ đàn anh ở Đại học Huế, có lẽ chúng tôi may mắn là lứa sinh viên đầu tiên được học bản dịch này như là giáo trình của Giáo sư cho lớp Dự bị (Propédeutique), niên khóa 1964-65 chương trình cử nhân triết học thuộc Đại học Văn khoa Sài Gòn (cũ). Chắc hẳn không phải ngẫu nhiên khi Giáo sư Lê Tôn Nghiêm đã dịch và sử dụng nó làm tài liệu học tập cho những sinh viên mới chập chững bước vào Ban Triết. Lúc bấy giờ, khi tư liệu bằng tiếng Việt cho triết học Tây phương còn khá hiếm hoi, dịch phẩm này quả là một nỗ lực quý báu và kịp thời. Thật thế, một “sách nhập môn” vào triết học, tưởng là dễ viết, nhưng đòi hỏi tác giả phải là những nhà giáo hay nhà nghiên cứu lâu năm, thật sự am tường triết học để có thể viết một quyển “nhập môn” giản dị, nhưng không sơ lược, dễ hiểu, nhưng không tầm thường hóa nội dung triết học, và nhất là không có những lỗi kiến thức gây di hại cho người học. Thậm chí, viết sách “nhập môn” triết học bao giờ cũng là một thách thức không nhỏ ngay cả đối với các đại triết gia. Chẳng hạn, Edmund Husserl, ông tổ của hiện tượng học, với sức sáng tạo kinh người (nay vẫn còn vài chục ngàn trang bản thảo chưa in!), suốt đời bận tâm với việc soạn một sách “nhập môn” để giới thiệu phương pháp hiện tượng học và đã thử nghiệm nhiều lần nhưng không hẳn đã thành công. Một kinh nghiệm khác đến từ đại triết gia Immanuel Kant. Sau khi tác phẩm đồ sộ Phê phán Lý tính thuần túy ra đời và có được rất ít độc giả bởi quá khó hiểu, Kant đã nỗ lực viết cô đọng lại với nhan đề là Sơ luận (Prolegomena) – tức là “nhập môn”. Nhưng khổ thay, sách càng ngắn càng thêm khó hiểu! Mãi nhiều năm sau, phải đợi đến ấn bản lần thứ 2, công trình này mới được học giới thừa nhận là một trong những tác phẩm vạch thời đại. Quyển triết học nhập môn của Karl Jaspers lại là một thành công đặc biệt đáng ghi nhận. Nó không chỉ “cập nhật” khi tác giả còn đang sống (Karl Jaspers soạn quyển này vào năm 1950 và đến năm 1969 ông mới qua đời) mà nhờ cách trình bày khéo léo, tác phẩm một lúc làm được cả hai việc: nói lên ý nghĩa và mục đích của việc làm triết học, trực tiếp giúp ích cho người mới học mà còn mở ra những chân trời tư duy để giúp người đọc dễ dàng tiếp cận những suy tư triết học của bản thân ông. Nội dung của những suy tư ấy, đúng như dịch giả đã nhận định, vừa bao hàm những chủ đề muôn thuở của “nền triết học vĩnh cửu” (vũ trụ, con người, nhận thức, chân lý, lý tính, tinh thần, cá toàn bộ, cái tuyệt đối…), vừa đặt lại chính những vấn đề ấy trong khung cảnh và tầm nhìn của thời đại mới, có sức gợi ý và gây hứng khởi cho những bạn đọc trẻ. Nếu triết học Tây phương thế kỷ 19 không thể làm như thể không có Immanuel Kant thì triết học nửa đầu thế kỷ 20 không thể hình dung được, như thể không có Søren Kierkegaard. Karl Jaspers, hơn ai hết ý thức rõ về sự biến chuyển này. Giáo sư Lê Tôn Nghiêm đã có bài giới thiệu rất công phu và sâu sắc về cuộc đời và tư tưởng triết học của Karl Jaspers. Với việc tái bản lần này, chúng tôi không có tham vọng viết thêm điều gì ngoài việc bổ sung vài thông tin và cảm nghĩ nhân được gặp lại Karl Jaspers sau 50 năm, với lòng biết ơn và bao nỗi cảm hoài khi nhớ đến Giáo sư Lê Tôn Nghiêm. Đọc lại “triết học nhập môn” như được sống lại những “rung cảm đầu đời” của một tuổi thanh xuân thật đẹp bên cạnh bao thầy yêu bạn quý.
Tuy nhiên Karl Jaspers hoàn toàn không phải là tác giả của hoài niệm hay đã thuộc về lịch sử. Không, tư tưởng và bản thân hành trình của ông về nhiều phương diện có thể nói đã đi trước thời đại và vẫn đang nóng bỏng tính thời sự. Về tư tưởng, nó gợi lên những vấn đề thuộc về cuộc đối thoại liên văn hóa. Và là nạn nhân trực tiếp của chế độ toàn trị Đức Quốc Xã (ông bị chế độ quốc xã cấm công bố mọi tác phẩm), Jaspers trở thành một trong những khuôn mặt trí thức nổi bật nhất của thời hậu chiến, đã góp phần phục sinh nền đại học và khoa học Đức (qua tác phẩm nổi tiếng Ý niệm đại học)[2]. Đồng thời ông không ngừng lên tiếng về những vấn đề chính trị, xã hội đương thời nhằm ngăn ngừa mọi tàn dư và biểu hiện của chủ nghĩa toàn trị, bạo lực và chiến tranh như ta sẽ trở lại ở phần sau. Về mặt triết học, quả thật ông là hiện thân của một “nỗ lực triết học tự thân”, nghĩa là tư tưởng triết học được hình thành một cách chân thật và nghiêm chỉnh từ chính những trải nghiệm của ông trong đời sống khoa học lẫn chính trị, xã hội.
Nói một cách ngắn gọn, triết học Karl Jaspers ra đời từ một thời kỳ của sự mất định hướng; người ta không còn biết triết học là gì và tại sao triết học lại còn cần thiết đến như thế. Ông bắt đầu hoạt động triết học từ những ưu tư theo kiểu Socrates khi nhận ra sự khác biệt giữa những gì ta biết và những gì ta không thể biết. Hành trình trí thức của ông cho thấy: với ông quả thật có một thực tại, có những sự vật mà ta có thể nhận thức được. Nói khác đi, không ai có thể trở thành một triết gia nếu không nỗ lực theo đuổi loại tri thức này. Đó chính là con đường của nhận thức có phương pháp, có kỷ luật mà các nền khoa học thời cận đại đã chỉ ra. Vì thế, dù với lòng yêu thích triết học, Jaspers đã bắt đầu với việc học y khoa. Với công trình Tâm bệnh học đại cương[3], ông đã thành danh trong giới khoa học chuyên ngành.
Thế nhưng, càng nghiêm chỉnh và kiên quyết trong việc nhận thức, ta càng nhận rõ những ranh giới hay những giới hạn của nhận thức khoa học và chính nơi đó sự không hiểu biết của ta bắt đầu. Jaspers luôn nhớ đến lời dạy của thầy ông là Max Weber, nhà xã hội học lừng danh: khoa học quả có khả năng nhận thức nhưng nó lại không bao giờ có thể cho ta biết mình nên mong muốn điều gì. Không một ngành khoa học nào có thể cho ta biết tại sao lại phải làm khoa học!
Nhận thức thứ hai và có lẽ là nhận thức quan trọng nhất về ranh giới chính là do Kant đặt ra: khoa học bao giờ cũng là riêng lẻ và mang tính phiến diện hay chỉ thuộc về một viễn tượng nhất định nào đó. Nó bao giờ cũng chỉ hiểu biết một lĩnh vực đối tượng nhất định trong thế giới, nhưng lại không bao giờ có thể nắm bắt được thế giới như một cái toàn bộ. Bởi, đằng sau mỗi chân trời, lại mở ra một chân trời mới đến vô tận. Điều này cũng đúng đối với bản thân ta: ta chỉ có thể nhận thức về chính mình ở từng phương diện nhất định (từ sinh lý học, tâm lý học đến các khoa học xã hội và nhân văn) nhưng lại không bao giờ biết được ta là ai hay ta thật sự là gì, xét như một cái toàn bộ.
Ranh giới thứ ba lại do chính bản thân Jaspers phát hiện. Đó chính là việc ta luôn ở trong những hoàn cảnh nhất định mà ta không thể thay đổi hoặc tránh né: ta không thể sống thật mà không chịu đau khổ, đấu tranh, gây nên tội lỗi và kỳ cùng phải chấp nhận cái chết. Ông gọi đó là những hoàn cảnh ranh giới hay hoàn cảnh giới hạn (Grenzsituationen) và đó cũng chính là nơi tri thức của ta về thế giới, mọi tài nghệ kỹ thuật của ta đều bất lực và kết thúc. Nói cách khác, suy tư chỉ bắt đầu, nơi bản thân suy tư đặt ra những giới hạn: đó là những ranh giới. Và như đã thấy, triết học Karl Jaspers bắt đầu ở những ranh giới ấy nhằm giải phóng cho bản thân suy tư.
Ta có thể làm gì khi đối diện với những ranh giới ấy? Theo Jaspers, chỉ có hai cách: ta có thể tảng lờ những ranh giới ấy, hãy tiếp tục khép mình trong tháp ngà, thậm chí mơ tưởng đến một thứ khoa học “toàn diện” và từ đó, tìm cách áp đặt một sự “kế hoạch hóa” cũng toàn diện cho con người lẫn cho lịch sử. Ngược lại, ta có thể làm khác đi: ngày càng ý thức rõ ràng hơn về những ranh giới ấy, đồng thời gia tăng niềm khao khát muốn thoát vượt khỏi chúng để tìm những gì rộng mở hơn với hy vọng mang lại cho ta một chỗ dựa cho dù tất cả đều đang chao đảo. Bản thân Jaspers trải nghiệm sâu sắc điều này khi ông công bố công trình đồ sộ Tâm lý học về các thế giới quan[4], công trình này cho ta một cái nhìn tổng quan về sự đa dạng của những khả thể phong phú được con người suy tưởng cho tới nay hòng đưa ra cho mình những hình ảnh về một thế giới xét như cái toàn bộ và tìm kiếm ý nghĩa ở trong chúng. Thế nhưng ông sớm nhận ra rằng đó chỉ là những khả thể trừu tượng, không thể giúp ta định hướng trong cuộc đời. Cùng lắm chúng chỉ có giá trị ít nhiều trong phạm vi giáo dục và thẩm mỹ. Nhưng những thế giới quan này chỉ có ý nghĩa khi cần phải bổ sung vào đấy điều quyết định: chính sự tìm kiếm đầy thao thức và luôn thẩm tra và không ngừng thẩm tra của chính ta về khả thể của ý nghĩa để ta có thể thật sự hiến mình cho nó. Nhưng làm sao thể nghiệm được điều này, và cái gì sẽ mang ta đến được với bước nhảy “trào vọt” ấy? Jaspers ngày càng nhận ra rằng ta không còn có thể tìm câu trả lời cho câu hỏi này ở trong tâm lý học nữa mà phải chuyển sang suy tư triết học. Ông quyết định tìm hiểu triết học một cách cặn kẽ để sau đó nhận ghế giáo sư triết học năm 1922. Kỳ cùng đó vẫn là ba câu hỏi cơ bản từng giày vò Immanuel Kant: Tôi có thể biết gì? Tôi phải làm gì? và Tôi có thể hy vọng gì?
Thành quả tư duy triết học trong suốt 10 năm đã được ông đúc kết trong bộ sách ba tập với tên gọi giản dị là Triết học[5]. Quyển Triết học nhập môn này giới thiệu phần cốt lõi nhất nội dung của cả ba tập sách này. Tập thứ nhất với nhan đề Định hướng về thế giới[6] tìm cách trả lời câu hỏi thứ nhất nói trên của Kant về những điều kiện và ranh giới của nhận thức chúng ta. Tập thứ hai Soi sáng hiện hữu hay Soi sáng hiện sinh[7] tiếp tục phát triển câu hỏi còn để ngỏ trong bộ tâm lý học trước đây: đối diện với hoàn cảnh ranh giới, điều gì cho phép ta không để mình rơi vào chủ nghĩa hư vô và sự tuyệt vọng, trái lại, gác tính hữu hạn của kiếp người sang một bên, điều gì sẽ dẫn ta đến chỗ trở thành chính mình và tìm thấy được điều ta mong mỏi trong tính tuyệt đối vô điều kiện của nó? Khả thể trở thành chính mình chính là nội dung của thuật ngữ “hiện sinh” hay “hiện hữu” (Existenz) được Jaspers lấy lại từ Kierkegaard. Hay chính xác hơn phải gọi đó là sự hiện hữu hay hiện sinh khả hữu. Nhưng làm sao để hiện sinh khả hữu ấy trở thành hiện sinh hiện thực? Câu trả lời thật bất ngờ: chính ta cũng không biết gì về điều ấy cho dù ta có thành công trong bước “nhảy vọt”, thì điều này cũng “giống như thể ta được ban tặng”. Ta trở thành sự hiện hữu cho chính mình thật ra không phải từ chính bản thân ta, không khác gì việc ta không thể tự mình đi đến thế giới này. Có một cái gì đó như là sự bao trùm (das Umgreifende) – được Giáo sư Lê Tôn Nghiêm dịch là “Bao dung thể” – như cái gì vượt lên khỏi cả bản thân ta lẫn thế giới. Jaspers gọi đó là Siêu việt thể[8], dù biết rằng đây chỉ là một danh hiệu suông để chỉ một sự Tồn tại mà ta không bao giờ có thể nói được nó là gì. Không có sự hiện hữu/hiện sinh nào mà không có siêu việt thể hay sự Hữu tự tại, đó là khẩu hiệu của triết học Karl Jaspers. Vì thế tập 3 của bộ “Triết học” xoay quanh câu hỏi về siêu việt thể, về sự tồn tại nói chung. Chính những suy tư siêu hình học mang tính tư biện trước nay đã mở ra không gian cho Karl Jaspers để ông đặt lại và đi sâu vào ý niệm về siêu việt thể, và vì thế ông đặt cho tập 3 nhan đề Siêu hình học[9].
Vậy làm thế nào ta có thể tiếp cận được Siêu việt thể? Con người hữu hạn chúng ta không nên có ảo vọng trực tiếp tiếp cận hoặc đối thoại với siêu việt thể (dù dưới bất kỳ danh hiệu nào) mà chỉ có thể thông qua những tượng số (Chiffer). Nếu nhà khoa học xem giới tự nhiên là một quyển sách đang mở ra để chờ được giải mã thì đối với Siêu việt thể cách thức tiếp cận chính là thông qua các tượng số. Tượng số là sự soi sáng khá huyền bí giữa những sự vật, mang lại sự sâu thẳm đột ngột và nhờ ánh sáng ấy, siêu việt thể có thể tỏ bày cho chúng ta bằng một cách thức đặc biệt. Ta sẽ trở lại để tìm hiểu các tượng số một cách cụ thể hơn. Ở đây chỉ cần lưu ý rằng học thuyết về tượng số giữ vai trò trung tâm trong tư tưởng của Karl Jaspers hậu kỳ, mở ra nhiều cuộc tranh luận sâu sắc và không kém phần gay gắt với các nền tôn giáo mạc khải hay huyền học và đến nay vẫn chưa mất tính thời sự. Cũng chính từ học thuyết này, Jaspers sẽ khai triển điều mà ông gọi là niềm tin triết học[10], dường như để đối ứng (hơn là đối lập hay bài trích) mọi đức tin tôn giáo dưới mọi màu sắc.
Bao dung thể nói lên khao khát muôn đời của con người muốn vươn đến cái toàn bộ tối hậu, và tính toàn thể là đặc trưng tiêu biểu nhất của tư duy triết học. Nó cũng đến từ ý thức rằng, trong nhận thức về thế giới tự nhiên khách quan cũng như trong những bước phát triển của hiện sinh con người, không một lĩnh vực nào có thể tự tồn độc lập hoặc có thể tát cạn hết được vì bao quanh nó lại là một chân trời mới, một cái toàn bộ khác bao trùm lên nó. Xét như là phương pháp tư duy, bao dung thể của Jaspers gợi ta nhớ đến hình ảnh “vòng tròn của những vòng tròn” trong triết học Hegel. Mỗi lĩnh vực, mỗi bộ phận đều muốn vượt ra khỏi chính mình, bởi bao giờ cũng còn có một “phương ngoại thiên” đang sẵn sàng chờ đón. Điều này càng nổi bật trong những chặng đường phát triển của tâm thức con người, của cuộc “hiện sinh”. Con người không thể bị tát cạn bởi bất kỳ một khoa học riêng lẻ nào, cho dù phức tạp và tinh vi đến mấy. Ở cấp độ thấp nhất của bao dung thể ta có tư duy bằng giác tính (dịch giả Lê Tôn Nghiêm gọi là “trí năng”[11]).
Giác tính làm việc với những dữ kiện giác quan và khái niệm, là nguồn suối của tri thức thông thường cũng như của tri thức khoa học. Về tính phổ biến và không mang nặng dấu ấn cá nhân, nên nhận thức này còn được Jaspers gọi là ý thức phổ quát, có chung cho mọi người. Nhưng, ý thức phổ quát hay tri thức giác tính, do bản tính của nó, vẫn không bao giờ đạt được đến cái toàn bộ, tức luôn chạm đến ranh giới của sự không hiểu biết. Con người không chịu dừng lại ở ranh giới này vì còn có một cái gì rộng hơn bao trùm nó. Đó chính là hoạt động mà cùng với Kant, Jaspers gọi là lý tính[12]. Và cũng chính Kant đã chỉ ra rằng những gì ta không nhận thức được thì vẫn có thể suy tưởng về chúng. Ta không biết cái toàn bộ là gì, nhưng ta lại có Ý niệm[13] về một cái toàn bộ như thế, và ý niệm này minh chứng cho hiện thực của cái toàn bộ. Bao lâu nó thúc đẩy ta đi tìm sự thống nhất, mối quan hệ tổng thể và không bao giờ từ bỏ nỗ lực này cho dù thất bại. Vậy lý tính chính là sợi dây liên kết giữa ta với vạn vật cũng như nối kết ta với tất cả. Nói cách khác, lý tính chính là ý chí hướng đến sự tương giao hay như cách dịch của Giáo sư Lê Tôn Nghiêm là sự thông cảm[14], tức như việc “dang rộng đôi tay”. Đối với hiện sinh của ta, lý tính chính là không khí để hít thở. Theo nghĩa đó, triết học hiện sinh cũng có thể gọi là triết học của lý tính. Nhưng thế nào là không khí để thở? Theo nghĩa tiêu cực nó giúp ta gạt bỏ những ngộ nhận, ảo tượng và sự lầm lạc, tức tất cả những gì có thể làm tinh thần của ta bị ngạt thở. Lý tính làm công việc thanh lọc, biện biệt và phê phán. Về mặt tích cực, lý tính mở ra mọi khả thể kể cả chân trời rộng nhất của tư duy.
Nhưng tất nhiên, ta không thể chỉ sống bằng không khí. Những gì nuôi dưỡng ta về mặt tinh thần, những gì mang lại ý nghĩa và chỗ dựa cho ta lại không đến từ lý tính, nó đến từ một vòng khâu khác, một bao dung thể mới, đó chính là miếng đất Tinh thần nuôi dưỡng nguồn cội của chính ta. Tinh thần chính là cấp độ “bao dung thể” cao hơn bắt nguồn từ truyền thống văn hóa và tinh thần lâu đời. Nhưng không phải bất kỳ truyền thống nào cũng có thể được chấp nhận. Những gì thật sự có chân giá trị phải trải qua sự thể nghiệm và thẩm định lâu dài. Chính ta phải quyết định lựa chọn giữa những lập trường khác nhau. Tinh thần giúp ta biết lựa chọn những gì ta không muốn và những gì ta từ khước, với khả thể từ khước, ta ngày càng biết rõ mình nên đứng về phía nào.
Cách vận hành của lý tính trong lĩnh vực hiện sinh, theo Jaspers, cũng giống hệt như cách vận hành của nó để đi đến với việc soi sáng siêu việt thể. Con đường ấy không gì khác hơn là con đường “phủ định” (Via Negationis). Nếu ta không thể nói gì về siêu việt thể xét như một thực thể hay ngôi vị, ắt ta biết từ khước những quan niệm, hình tượng, khái niệm vốn quen được áp dụng vào cho siêu việt thể. Ta càng thoát khỏi những ảo tượng về siêu việt thể bao nhiêu, ta càng trở nên tự do hơn. Bởi mọi khẳng quyết võ đoán về siêu việt thể kỳ cùng chỉ là những ngẫu tượng do đầu óc con người tạo ra.
Thế nhưng, tại sao ta vẫn hằng quan tâm, thậm chí trân quý những hình dung, quan niệm hay ý tưởng khác nhau về siêu việt thể đến từ truyền thống văn hóa phong phú của nhân loại, và nói riêng của các nền tôn giáo lớn lẫn của tín ngưỡng dân gian? Đây là lúc trở lại với học thuyết về tượng số của Jaspers. Con người hữu hạn với giác tính và lý tính không có phương tiện nào khác hơn để nhận thức thế giới ngoài việc hình thành những biểu tượng và khái niệm trong khuôn khổ của lô gíc học thông thường[15]. Điều quan trọng quyết định là đến với chúng bằng ý thức nào. Với tinh thần hoài nghi tích cực của Socrates hoặc với thái độ võ đoán, hay thậm chí cuồng tín? Đến lúc ta nhận ra thực chất của những biểu tượng, quan niệm ấy như là “trò chơi” của ngôn ngữ và sự tưởng tượng, nhờ đó ta hy vọng khám phá những điều hầu như không thể khám phá được. Thế nhưng trong “trò chơi” ấy không thiếu những hình thái hay khuôn thức nói được với ta rất nhiều điều như là những tượng số. Vô số những chi tiết mang tính tín lý, thần thoại hoặc minh triết đều có thể là những tượng số dẫn ta đến chỗ nhận ra sự nghiêm chỉnh và khẩn thiết của sự tự tra vấn hướng đến cái tuyệt đối vô điều kiện[16]. Theo cách nói rất hay của Jaspers, những tượng số này không khác gì những bản chỉ đường nhưng không có tên đường. Nó chỉ ra phương hướng mà ta không có cách nào khác ngoài việc phải đi theo mặc dù không biết chúng dẫn ta đến đâu!
Con người “hiện sinh” nơi Karl Jaspers không còn là cá nhân cô đơn như nơi Kierkegaard. Lý do sâu xa nằm trong chính quan niệm của ông về chân lý. Ông yêu thích trích dẫn nhận định nổi tiếng của Nietzsche (và sau này J. Austin nhắc lại): chân lý bắt đầu với hai người. Những gì là đúng thật là chân lý – qua sự tích lũy và kiểm nghiệm di sản tinh thần của quá khứ – phải là những gì kết nối tôi với người khác bất chấp những sự dị biệt. Cái có thể nối kết con người lại với nhau chính là lý tính, là ý chí của cả hai bên mong muốn hiểu và được hiểu, đề xướng quan niệm về sự tương giao hay thông cảm, Jaspers đã có tầm nhìn vượt khỏi nhiều người đương thời (mãi lâu về sau mới được tiếp nối bởi Jürgen Habermas) không chỉ như một cương lĩnh triết học, mà ông còn thật sự bắt tay vào việc mở ra cuộc đối thoại hay tương giao không có ranh giới với người còn sống hay đã khuất. Ông đào sâu lịch sử triết học với nhiều công trình khó vượt qua, nhất là cuộc “đối thoại” dài hơi với những đại triết gia không chỉ ở khu vực Tây phương mà trải rộng đến các vùng văn hóa khác. Bộ Các đại triết gia[17] với luận điểm nổi tiếng của ông về Thời Trục trong khoảng thời gian giữa năm 800 và 200 trước công nguyên ở Hy Lạp, Trung Hoa và Ấn Độ cổ đại như là sự thức tỉnh đồng thời đáng kinh ngạc của trí tuệ nhân loại. Jaspers còn mơ ước thực hiện một công trình vĩ đại, nhưng tiếc rằng không thể hoàn tất, đó là đề án về một Lịch sử triết học toàn thế giới như là cơ sở cho một nền Triết học thế giới trong tương lai.
Nhưng suy tư triết học xoay quanh cái toàn bộ không khiến ông thiếu quan tâm đến sự sinh tồn của từng mỗi cá nhân hiện sinh. Ông tra hỏi (qua quyển sách cùng tên[18]) về nguồn gốc và mục tiêu của lịch sử. Ông bày tỏ sự lo lắng về hai mối đe dọa nhân loại vẫn còn đầy tính thời sự: sự chuyên chế và nguy cơ tự hủy diệt của nhân loại. Trong quyển Bom nguyên tử và tương lai của con người[19], ông trở thành một trong những nhà tiên phong đấu tranh cho nền hòa bình thế giới. Càng về cuối đời, ông càng quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội, thời sự ở nước Đức quê hương ông và của Châu Âu. Vì theo ông không thể có tự do hiện sinh nếu thiếu đi sự tự do chính trị và xã hội.
Bạn đọc sẽ làm quen với một Karl Jaspers qua quyển sách nhập môn này không chỉ ở phương diện tư tưởng mà cả ở phương diện con người. Ông nổi tiếng là người vừa biết băn khoăn về cái toàn bộ, vừa hết sức tử tế trong từng chi tiết đời sống, nhất là trong quan hệ với bằng hữu, đồng nghiệp và môn đệ[20]. Giáo sư Lê Tôn Nghiêm đánh giá ông là “triết gia quân bình nhất” trong số những triết gia hiện sinh. Anton Hügli, Chủ tịch Hiệp hội Karl Jaspers và Chủ biên Toàn tập Karl Jaspers có chú giải đã phát biểu như sau nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông: “Chúng ta có thể tin cậy (vertrauen) ông ngay cả khi ta cho rằng mình không thể đi theo triết học của ông”. Trong thời buổi ồn ào của những khoa trương, lừa mị và cực đoan, tìm được một bậc cao nhân “quân bình”, đáng “tin cậy” làm bạn đồng hành thật khó khăn và quý hóa biết bao!
Mùa Giáng Sinh 2022
[1] Theo thông tin của dịch giả (xem Nhập đề trong sách này), dịch phẩm được ra mắt lần đầu vào năm 1960 và tái bản có sửa chữa (và viết lời Nhập đề) vào năm 1966. Năm 1969, Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục (cũ) in lần thứ ba và nhà Ca Dao in lần thứ tư vào năm 1974. Lần tái bản này căn cứ vào bản in lần thứ ba (1969) và thứ tư (1974), theo sáng kiến đáng trân trọng của ông Lê Nguyên Đại, Giám đốc Công ty Sách Thời Đại và nhà xuất bản.
[2] Xem Karl Jaspers, Ý niệm đại học, Hà Vũ Trọng và Mai Sơn dịch, Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu, NXB Hồng Đức, 2016.
[3] Xem Karl Jaspers, Allgemeine Psychopathologie, 1913.
[4] Xem Jaspers, Psychologie der Weltanschauungen, 1919.
[5] Xem Karl Jaspers, Philosophie, 3 tập, 1932.
[6] Weltorientierung.
[7] Existenzerhellung.
[8] Transzendenz.
[9] Metaphysik.
[10] Philosophischer Glaube.
[11] Đức: Verstand/Anh: Understanding.
[12] Đức: Vernunft/Anh: Reason.
[13] Ideen.
[14] Kommunikation.
[15] Vì thế, Jaspers luôn ôm ấp tham vọng xây dựng một “Lô gíc triết học” như bộ công cụ để khám phá những khía cạnh mới mẻ của chân lý. Tiếc rằng ông chỉ mới hoàn thành được một tập đầu tiên dài cả ngàn trang về đề án này với tên gọi Về Chân lý (xem: Karl Jaspers, Von der Wahrheit, 1947). Một phần rất nhỏ trong tập sách này bàn về cái biết và sự thật của cái Bi được tách riêng và in thành một nghiên cứu đặc biệt với nhan đề Über das Tragische vừa được dịch sang tiếng Việt. Xem Karl Jaspers, Cái Bi, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích, Công ty sách PhanBook / NXB Hồng Đức 2022.
[16] Chẳng hạn, trong truyền thống Tây phương, sự tích trong Kinh Thánh về việc Moses ban bố mười điều răn của thiên Chúa trên đỉnh Sinai hay việc Abraham sẵn sàng hiến tế con trai duy nhất của mình là Isaac có thể là tượng số cho thấy sự bùng vỡ ý thức về lương tâm và đạo đức trong con người. Câu nói bí hiểm của Heraclitus: “Chân lý luôn tự ẩn mình” cũng là tượng số chỉ ra sự gay gắt của nỗ lực đi tìm chân lý, v.v.
[17] Xem Karl Jaspers, Die grossen Philosophen, 1957.
[18] Xem Karl Jaspers, Vom Ursprung und Ziel der Geschichte, 1949.
[19] Xem Karl Jasper, Die Atombombe und die Zukunft des Menschen, 1957.
[20] Sau chiến tranh, ông rất khổ tâm khi phải thi hành “án kỷ luật” (cấm dạy năm năm) đối với người bạn thân Martin Heidegger vì sự dính líu của Heidegger với chế độ Quốc xã, nhưng vẫn luôn âm thầm hỗ trợ mọi nỗ lực triết học của người bạn cố tri này. Ông cũng không ngừng bày tỏ công khai sự ủng hộ và bênh vực đối với những tư tưởng cấp tiến của Hannah Arendt, nữ triết gia đã từng làm luận án tiến sĩ với ông.