Nghe tiếng quê hương từ nơi xa thẳm

Nguyễn Thị Tịnh Thy

Nếu giới thiệu với một ai đó về Bùi Vĩnh Phúc, trước tên của ông, thế nào cũng phải có những danh xưng “nhà nghiên cứu – phê bình”, “nhà văn”, “nhà thơ”, “nhà giáo”, “dịch giả”. Đó là điều hiển nhiên, vì nó chính danh. Nhưng riêng tôi, khi đọc xong bản thảo cuốn sách Chữ nghĩa & không gian văn chương của Bùi Vĩnh Phúc, dù đọc với tư cách là một đồng nghiệp – hậu bối, và với con mắt nghề nghiệp, tôi chỉ muốn gọi ông bằng định ngữ “một người yêu nước mình” như tên một bài thơ của Trần Vàng Sao.

Trong nghiên cứu văn học, lâu nay, người ta quen dùng danh ngữ văn học Việt Nam hải ngoại để chỉ những sáng tác ngoài biên giới quốc gia, nghiêng về các nước tư bản Âu Mỹ, nơi mà các nhà văn di tản – di dân – lưu vong đến sống và viết. Tôi cũng đã quen với việc định danh này. Vì vậy, khi nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh Phúc dùng cụm từ “ngoài nước” thay cho “hải ngoại”: “văn học Việt Nam ngoài nước” thay cho “văn học Việt Nam hải ngoại”, tôi cứ thấy trai trái, nghe không thuận tai, đọc không thuận miệng. Nhưng, khi đọc thấy tác giả giải thích vì sao dùng “ngoài nước”, tôi thật sự xúc động: “Còn đối với danh ngữ “Văn học ngoài nước”, tôi cảm nhận được sự rung động của thân tâm với chữ “nước”. Nó tạo được nhiều hàm nghĩa, gắn bó với cội rễ, gốc nguồn mình. Cho dù nó là tiếng Nôm. Qua sự phát âm, tôi nhận được những rung chấn cả ở tâm hồn và thân xác mình. Nó mang chứa một âm điệu xưa cũ và mộc mạc, gắn bó nhiều với những tình tự quê hương. Nguyễn Du từng có câu “Thôn ca sơ học tang ma ngữ” [Tiếng hát nơi thôn xóm (làm cho ta) bước đầu học được tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai”]. Những tiếng hát, tiếng nói quê mùa, dân dã đã khắc sâu vào lòng ta những lời nước non thân thiết. Làm ta nhớ đến bài thơ “Thề Non Nước” của Tản Đà. Chữ “nước” cũng có thể gợi nhắc đến hai câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia””. Chữ “nước” trong cảm nhận của một người sành từ Hán Việt, bụng đầy kinh luân như Bùi Vĩnh Phúc, quả thật không thể không gây chấn động tâm can người đọc. Dĩ nhiên, Bùi Vĩnh Phúc không cố chấp để áp đặt nỗi niềm riêng của mình lên những cái đã được mặc định. Ông thừa nhận rằng: “cái tên “Văn học hải ngoại” đã được dùng quen. Bây giờ, nó gắn bó và khơi dậy những gì thân thiết với người Việt xa nhà, và với cả một dòng sống chảy tràn và vượt qua bao bão táp. Nó đã là một phạm trù lịch sử”. Và tôi cũng vậy, tôi cũng sẽ dùng cái tên “Văn học hải ngoại” như lâu nay đã từng. Nhưng từ “nước” vút lên đầy thánh thót trong trẻo, khắc khoải tha thiết như lời của giáo sư Bùi Vĩnh Phúc vẫn ghim vào sự tri nhận của tôi một điều gì đó mới mẻ hơn, thiêng liêng hơn. Có thể vì thế chăng, tôi đã đọc cuốn sách này trong tiếng vọng của lời non nước, và nghe tiếng quê hương từ nơi xa thẳm.

1. Tiếng quê hương bắt đầu từ những tản văn/tuỳ bút của Bùi Vĩnh Phúc. “Xin đi từ thơ ấu”, những ngày mà tác giả Bùi Vĩnh Phúc gọi là “còn có quê hương”. Những ngày ấy đọng lại trong ký ức của kẻ tha phương, trở về trong giấc mơ và hoài niệm với tiếng pháo rộn rã khắp ngõ nhỏ; chợ Tết ở quê nhà; nồi bánh chưng của mẹ đêm ba mươi; tiếng gà trưa trong những ngày mùa hạ oi ả; tiếng nước mưa hối hả dồn dập gõ xuống trên mái tôn, mái ngói hoặc trên những mái tranh nghèo, hay trên những tàu lá chuối tả tơi… Lần theo “Một trăm cơn mưa” trong tuỳ bút Hãy ngước mặt và thả bay đi những cơn mưa, ta hiểu được đường đời tác giả qua đường mưa. “Người ngồi trong cõi nhớ quên/ Lần tay sờ, kiếm những miền thực, hư”, hồn nhiên và trong trẻo với những cơn mưa thời thơ dại, lãng mạn và nên thơ trong chiều mưa ở Club Nautique Thanh Đa của Sài Gòn với bằng hữu và những cô bé học trò mắt nai đắm chìm trong tiếng ghi-ta và những bài hát về mưa của Trịnh Công Sơn, phiêu dạt trong cơn mưa đen thét gào vò xé chiếc ghe mỏng manh già cỗi mang theo những sinh mệnh lênh đênh giữa đại dương trong chuyến đi tìm miền đất hứa đầy thập tử nhất sinh, bảng lảng khói sương kỷ niệm như cơn mưa phùn bay qua thành phố biển của xứ sở tự do mang theo một chút hạnh phúc ẩm mốc dịu dàng gợi nhớ về những cơn mưa xưa…

Tản văn của Bùi Vĩnh Phúc cho người đọc hiểu thêm về “một thời lưu lãng” của các văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, họ tìm đến với nhau, nuôi dưỡng tình yêu văn chương nghệ thuật. Để tiếng quê hương được cất lên ở xứ người, gắn kết những người con lưu lãng như Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Hưng Quốc, Thuỵ Khuê, Trần Vũ, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Quốc Bảo, Hoàng Khởi Phong… gầy dựng nên các tờ báo, tạp chí bằng tiếng Việt để cộng đồng người Việt ở hải ngoại không bị “mất ngôn ngữ”, “mất tiếng nói” trước cộng đồng bản xứ. Trong bài viết của mình, Bùi Vĩnh Phúc trích dẫn định nghĩa văn chương: Quê hương là một nơi chốn để nhớ về. Ông cho rằng “Cái ngữ-động-từ “nhớ về” ở đây nói lên cái phần số đau đớn của những kẻ mất quê hương, hay đã xa lạc khỏi quê hương. Đó là thân phận của những kẻ bị lưu đầy”. Tuy nhiên, với nỗ lực khơi lại dòng chảy văn chương nghệ thuật ở xứ người, Bùi Vĩnh Phúc và những người cùng chí hướng đã đem quê hương đến với người Việt. Ông không lý luận về vai trò của văn chương đối với đời sống, đặc biệt là với những thân phận xa quê hương – thiếu quê hương; không nói về những khó khăn trong hành trình của những con chim lạc bầy khắc khoải cất tiếng gọi tìm nhau; cũng không nói đến niềm hạnh phúc của viết và đọc bằng tiếng mẹ đẻ; chỉ nói đến niềm hạnh phúc của bao kẻ tri âm mỗi khi gặp gỡ nhau hay bịn rịn chia tay với niềm tin “hải nội tồn tri kỷ, thiên nhai nhược tỷ lân” (dưới gầm trời này còn có tình tri kỷ, thì dù xa tận chân trời góc biển cũng như đang ở bên nhau – Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục châu – Vương Bột). Và điều đó cũng đủ khiến ta xúc động. Bởi vì, đó là những “vinh dự, lầm than của kiếp người” lưu lạc luôn đắng đót với tiếng quê hương.

2. Cũng như bao người yêu văn chương khác, Bùi Vĩnh Phúc xem thơ như làn điệu tâm hồn của chính mình. Vì thế, những bài thơ được chọn in trong tuyển tập này là một dạng thức biên niên sử tâm hồn của ông, trải dài từ thập niên 1970 đến đầu thế kỷ XXI. Đó là những cảm xúc lãng mạn, hiền hoà của tháng ngày hoa niên thơ mộng, là những quăng quật của biển đêm cuồng nộ trong chuyến hải hành cắt rời cuống rốn của bao người con rời xa đất mẹ và nỗi nhớ quê nhà với “tiếng hát chèo thấm vào hoàng hôn” trong “Những giấc mơ lại tung cánh và trôi dạt, chẳng biết về đâu”. Bùi Vĩnh Phúc khắc dấu sự sáng tạo của mình không phải ở thi hứng, thi ảnh, thi liệu mà ở cách ngắt câu và sử dụng thanh điệu tiếng Việt như một “bút pháp trò chơi”. Với Xuân hồng, mưa lênh đênh, ông dùng toàn vần bằng để diễn tả sự nhẹ nhàng, thanh thoát từ dáng hình đến tình cảm của một thiếu nữ mang vẻ đẹp liêu trai: “yêu đời em đi trong hoan ca/ yêu người em mơ trên môi hoa// bờ vai đen tuyền cho liêu trai/ hồ sao xanh ngời trong thiên thai/ thôi em đi về cho thu vàng/ vàng thu cho mây thêm bay sang”. Với Biển vỡ, Bùi Vĩnh Phúc ngắt ý bằng những dấu câu dồn dập: “Sóng đập hoàng hôn vào mạn tàu/ Quê nhà lùi, khuất. Một hồn đau./ Qua ô cửa nhỏ khoang hầm mốc/ Một mặt trời. Vỡ. Đỏ. Chênh chao”.

Biển vỡ là một bài thơ bốn câu bảy chữ theo kiểu thơ Mới, nhưng dạng thức rất gần với thể thất ngôn tứ tuyệt cổ (tương đối tự do, không bị ràng buộc bởi niêm luật như kim thể, mặc dù thơ cổ tuyệt thường là dạng năm chữ). Vì vậy, trong một cách nhìn nào đó, ta có thể thấy ở nó cái “thế” của thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ này có cấu trúc của khai – thừa – chuyển – hợp; có đặc điểm hàm súc khơi gợi; có vẻ đẹp của ý tại ngôn ngoại, thi trung hữu hoạ, tả cảnh ngụ tình. Bốn câu thơ của Biển vỡ chỉ 28 chữ nhưng có đến 6 dấu chấm. Câu đầu là không gian bao la, mênh mông ngoài kia với sóng đập vào mạn tàu trong thời khắc của ngày tàn. Tác giả đặt từ chỉ thời gian vào sau động từ, khiến trạng ngữ trở thành tân ngữ. Nếu viết “Hoàng hôn sóng đập vào mạn tàu”, vẫn giữ được trật tự cú pháp của câu thơ, giữ được vần chân. Nhưng khi đảo vị trí của trạng từ thời gian, đưa nó vào sau động từ: “Sóng đập hoàng hôn vào mạn tàu”, câu thơ như mạnh hơn, dữ dội hơn. Hoàng hôn – cái vô hình vô thể trở thành cái hữu hình hữu thể – đi liền sau động từ mạnh (đập) của chủ thể “sóng” khiến câu thơ mang một ý nghĩa bất thường. Bảy chữ dung chứa một không gian bao la giữa thời khắc nhật tận. Ngày tàn, chiều tàn trên biển; con sóng không vỗ bờ dịu dàng, cũng không xô bờ mãnh liệt, mà đập vào mạn tàu, nghe như giận dữ, như uy hiếp và dự báo bất an. Quả đúng như vậy, câu thứ hai đã bộc lộ tất cả những gì nhà thơ muốn tỏ bày. “Quê nhà lùi, khuất. Một hồn đau”. Lẽ thường, tác giả có thể không cần dùng dấu phẩy ở câu đầu. Viết “Quê nhà lùi khuất” vẫn diễn tả được sự lướt nhanh của con tàu, bỏ lại đằng sau là quê nhà yêu dấu. Nhưng, dấu phẩy tách biệt “lùi” và “khuất” lại có thể chuyển tải được cái ngoái nhìn không chớp mắt về phía sau, vẻ đăm đắm của người ra đi đang ghi vào nhãn quan của mình hình ảnh quê nhà cho đến khi khuất dạng. “Quê nhà lùi, khuất” là cảnh, thuần cảnh; nhưng qua điểm nhìn nghệ thuật của thơ được kiến tạo bởi một dấu phẩy, trong cảnh ấy đã chứa tình – tình của người ra đi – tình ly biệt – tình lưu luyến cố hương. Tình ấy cũng giống như nỗi lưu luyến của Lý Bạch đứng trên lầu Hoàng Hạc dõi theo cánh buồm cô lẻ của Mạnh Hạo Nhiên cho đến khi mất hút, chỉ còn thấy tận chân trời là một khoảng không bao la, trống vắng vô cùng (Cô phàm viễn ảnh bích không tận/ Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu – Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng). Vế thứ hai của câu thơ lại càng là tình: “Một hồn đau.”. “Một” là sự lẻ loi, cô đơn, cô độc của con người, của tâm hồn. “Một” là số ít, nhưng khi đứng trước một chủ thể để biểu đạt nỗi buồn, niềm đau, nó không nhỏ bé và ít ỏi như tự thân, mà trở nên nhiều hơn, sâu hơn, cắt cứa hơn.

Như trên đã nói, nhìn Biển vỡ trong cái “thế” của thể tứ tuyệt, tôi chú ý đến một trong những yêu cầu của thi pháp thơ Đường nói chung, thơ tứ tuyệt nói riêng, là “mạch kỵ lộ” (ý thơ, mạch thơ kỵ để lộ). Nhà thơ muốn ký thác, bày tỏ điều gì, chủ đề bài thơ ra sao, thì phải đến cuối bài, người đọc mới khám phá được. Bởi vì, bất ngờ là một trong những yếu tính của nghệ thuật. Hơn nữa, hai câu đầu của tứ tuyệt thường thiên về tả cảnh, hai câu cuối tả tình. Dĩ nhiên, cảnh nào mà chẳng ngụ tình. Nhưng tình thực sự – điều da diết nhất, tha thiết nhất, sầu muộn nhất, nhung nhớ nhất, yêu thương nhất, quyến luyến nhất… thường được đặt vào câu cuối. Trong trường hợp cảm xúc dồn nén đến độ bùng vỡ ở hai câu đầu, nhà thơ đã phạm luật. Và, khi đã biểu đạt hết, trút hết tình vào đầu bài thơ, hai câu còn lại phải làm gì? Chắc chắn lại phải quay về với cảnh, nhưng cảnh ở đây phải đẹp hơn, độc đáo hơn; và nó phải hàm chứa cái tình – sâu hơn, lớn hơn, nhức nhối hơn cái tình đã “buột miệng” nói ra ở đầu bài thơ. Đó là một thử thách mà chỉ có những người “sành” làm thơ mới vượt qua được (như Vương Bột trong Tư quy, Trương Kế trong Phong Kiều dạ bạc…). Tôi thực sự nể phục khi Bùi Vĩnh Phúc cũng vượt qua được thử thách ấy với hai câu cuối đầy sáng tạo: “Qua ô cửa nhỏ khoang hầm mốc/ Một mặt trời. Vỡ. Đỏ. Chênh chao”. Câu 3 xác định vị trí của nhà thơ: “khoang hầm mốc”. Từ vị trí này, nhà thơ cảm nhận, nghe được tiếng “Sóng đập hoàng hôn vào mạn tàu”, nhìn “Quê nhà lùi, khuất” và cảm thấy “Một hồn đau”. “Qua ô cửa nhỏ khoang hầm mốc” của câu 3, ta càng hiểu hơn về từ “đau” của câu 2. Người ra đi không phải trong tư thế của một hành nhân bình thường, mà là một “thuyền nhân” Việt – đi, là lành ít dữ nhiều; đi, là biệt xứ như một kẻ bị/tự lưu đày. Với những cuộc ra đi mịt mờ và đầy bất trắc, dù đến được bờ hay không thì quê nhà cũng trở nên lìa xa đến “nhất khứ bất phục phản”, không đau sao được?

Từ ô cửa nhỏ tù túng, giam hãm ấy, quê hương “lùi, khuất”, chỉ còn nhìn thấy “Một mặt trời. Vỡ. Đỏ. Chênh chao.”. Câu 4 này cũng thuần tả cảnh: một mặt trời trong lúc hoàng hôn lặn xuống đường chân trời trên biển vỡ toang sắc đỏ, loang vào biển cả mênh mông. Sự chao đảo của con tàu vì sóng đập đã khiến mặt trời dường như vỡ ra, sắc đỏ hoà với sóng nước chênh chao càng gắn kết và bổ sung nghĩa cho hình ảnh “sóng đập hoàng hôn” ở câu 1. Cảnh chênh chao là thực, nhưng bốn dấu chấm ngắt câu trong vỏn vẹn bảy chữ khiến “chênh chao” trở thành tâm trạng của nhà thơ. Nó hô ứng với “hồn đau” ở câu 2; cũng như “Một mặt trời. Vỡ. Đỏ” hô ứng với “Một hồn đau” vì ly biệt. Vì thế, “chênh chao” từ tả cảnh đã chuyển sang ngụ tình. Trời đất chênh chao, sóng biển chênh chao, mặt trời vỡ đỏ chênh chao hay lòng người chênh chao trong những thời khắc cuối cùng của một ngày, của hình bóng quê hương và của sinh mệnh người đi?

Trong những gì mà Bùi Vĩnh Phúc từng viết (dù ở thể loại nào), tôi nhận thấy ông là người dùng rất nhiều và rất hay những từ ngữ Hán Việt. Nhưng bài thơ Biển vỡ này, với thể thơ mang sắc diện của tứ tuyệt, ông chỉ dùng độc một từ Hán Việt (hoàng hôn). Tất cả những chữ còn lại toàn là từ thuần Việt, được cách tân bằng cách ngắt câu rất lạ, rất bất thường, phá luật “tiền cảnh hậu tình” và “mạch kỵ lộ” của thi pháp thơ, Bùi Vĩnh Phúc đã hoàn thành một tác phẩm thi trung hữu hoạ đẹp đau đớn như một niềm bi diễm bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ đúng nghĩa. Y học đã từng chứng minh rằng, khi nỗi đau bị đẩy đến cực hạn, đến quá mức chịu đựng, con người ta sẽ kêu lên bằng tiếng mẹ đẻ. Bùi Vĩnh Phúc đã đau như thế nào khi nhìn Biển vỡ trong giờ phút ly hương? Hẳn là, ông đau đến mức bật lên tiếng mẹ đẻ chứ không phải là “chi hồ giả dã” của thể cổ thi.

3. Sáng tác chỉ là một mảng nhỏ trong toàn bộ văn nghiệp của Bùi Vĩnh Phúc. Ông thành danh bởi thể loại nghiên cứu – phê bình. Bùi Vĩnh Phúc là một trong số rất ít nhà phê bình văn học tạo được phong cách riêng, đúng như Đặng Thơ Thơ nhận định: “người đã để dấu vân tay trên từng trang viết, trên toàn cuốn sách với ngôn ngữ riêng đầy sáng tạo và sự mẫn cảm của một nhà thơ”. Về tính vũ đoán trong viết, đọc và thẩm thức văn chương; Mấy suy nghĩ thơ; Về vấn đề ngôn ngữ & sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ là những tiểu luận lý luận văn học có hàm lượng khoa học rất cao, rất cần thiết cho những ai muốn viết, đọc và thẩm thức văn chương.

Nhiều người cho rằng văn phê bình của Bùi Vĩnh Phúc giàu chất thơ. Thoạt tiên, tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng rồi, nếu dừng lại ở nhận định này, tôi cứ thấy thiêu thiếu, cứ thấy chưa gọi tên được cái cảm giác của mình khi đọc văn ông, chưa diễn tả được tận cùng sự vương vấn của “huyền ngoại chi âm, cam dư chi vị” sau mỗi tiểu luận. Bởi vì, giàu chất thơ thì cũng không quá mức đặc biệt hoặc khác biệt so với một số người. Nó phải là một cái gì đó rất riêng, rất đặc trưng. Phải chăng, đó chính là chất tiểu thuyết? Đúng thế! Văn phê bình của Bùi Vĩnh Phúc không chỉ giàu chất thơ, mà chân tuỷ của nó là giàu chất tiểu thuyết. Đọc mỗi tiểu luận của ông, như được đọc tiểu thuyết. Quyến rũ như tiểu thuyết, lãng mạn như tiểu thuyết, lý trí như tiểu thuyết, tình cảm như tiểu thuyết, chặt chẽ như tiểu thuyết và cởi mở để dung nạp nhiều tri thức, nhiều thể loại của nghệ thuật và khoa học như tiểu thuyết.

Trong nghiên cứu – phê bình, Bùi Vĩnh Phúc có tầm vóc của người phát hiện, nhận định và kiến giải. Điều đó thể hiện trong các kiểu bài đánh giá văn học sử và phân tích trường hợp. Trong Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa, Bùi Vĩnh Phúc đã nêu được những phẩm tính của nền văn học chỉ có 20 năm tuổi. 20 năm kết nối với truyền thống, tiếp nhận tinh hoa của văn học thế giới (đặc biệt là phương Tây), cách tân cả nội dung lẫn thi pháp trên tất cả các thể loại, văn học miền Nam đủ tầm vóc để đại diện cho văn học của cả nước Việt Nam, chứ không phải là nửa nước. Bởi vì, những thành tựu mà Bùi Vĩnh Phúc chỉ ra, đặc biệt là tính nhân văn, nhân bản đã khiến văn học miền Nam cho “chúng ta thấy một khuôn mặt người. Một khuôn mặt có những khi bị xé nát, dúm dó, đau khổ, quằn quại và đầy thương tích. Nhưng đó là một khuôn mặt người. Nó không phải một tấm mặt nạ”.

Đi vào các trường hợp, trong hơn 20 cuốn sách viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà chúng tôi đang sở hữu, có thể nói, cuốn sách của Bùi Vĩnh Phúc thuộc vào hàng hay nhất. Khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn từ góc độ thi pháp học văn học, ở đoạn trích viết về “ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, tác giả đã chỉ ra các kiểu không gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn một cách tinh tế. Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Bùi Giáng đều là những gương mặt thơ được giới cầm bút bình luận rất nhiều. Tuy nhiên, đọc các tiểu luận của Bùi Vĩnh Phúc, ta vẫn thấy ông luôn tìm được lối riêng, có tính “vũ đoán” riêng trong “viết, đọc và thẩm thức văn chương”. Bài về Phạm Công Thiện đúng là “một thứ fire for fire” – “lửa đáp lửa” – là bài viết của “một thi sĩ viết cho một thi sĩ” đúng như nhận định của chính triết gia này. Đó là tuyệt bút, là một cơn lên đồng chữ nghĩa, là sự thăng hoa của trí tuệ và cảm xúc diệu kỳ khó lặp lại trong đời, ngay cả với chính tác giả.

Những bài phê bình văn học của Bùi Vĩnh Phúc luôn khiến tôi nghĩ đến thành ngữ “Hoạ long điểm tinh”. Ông là người có thủ pháp phê bình “điểm tinh”. Mỗi tác phẩm văn học xuất sắc như một con rồng được nhà văn dày công khắc tạc: đẹp đẽ, mạnh mẽ, sống động. Nhưng, chỉ đến khi Bùi Vĩnh Phúc nâng bút lên, đặt vào mắt rồng một chấm mực, con rồng ấy mới thực sự truyền thần, vẫy vùng, bay lượn, vút lên, cuốn hút đến cùng.

Thận trọng nhưng quyết đoán, giàu cảm xúc nhưng giữ sự tỉnh táo của một người làm khoa học văn chương, Bùi Vĩnh Phúc luôn làm mềm hóa lý thuyết, chứng tỏ rằng việc áp dụng lý thuyết vào phê bình và nghiên cứu là do yêu cầu tự thân của tác phẩm và tác giả chứ không hề bị áp đặt, khiên cưỡng. Bằng sự mẫn cảm của tâm hồn nghệ sĩ; sự tinh tế của nhãn quan biết nhận ra cái đẹp – dù là cái đẹp tiềm ẩn, tế vi nhất; sự sắc sảo của người thấu đạt các triết thuyết và lý thuyết phê bình văn chương Đông Tây kim cổ; và sự điêu luyện trong việc sử dụng tiếng Việt vừa rất điển phạm vừa rất phá cách, Bùi Vĩnh Phúc đã mang lại cho người đọc những công trình phê bình độc đáo mang tính thượng thừa.

Kết hợp một cách tự nhiên nhi nhiên giữa khoa học và nghệ thuật, lý trí và cảm xúc, ấp ủ và bày tỏ, đón nhận và trao gửi…, mỗi “điểm tinh” của ông là một lần sáng tạo lại tác phẩm, cho ta thấy cái diệu của “gươm báu trao tráng sĩ” khi tác phẩm văn chương gặp được một nhà phê bình đáng tin cậy cả về trí tuệ lẫn tình cảm và phẩm cách.

*

Trên dưới 700 trang sách với nhiều thể loại, điều khiến tôi không rời được Chữ nghĩa & không gian văn chương là khối kiến thức về văn học, triết học, mỹ học và ngôn ngữ học mà tác giả Bùi Vĩnh Phúc mang lại. Nhưng, quan trọng nhất, gợi nhiều xúc cảm nhất, là trong từng câu chữ của ông, tôi được nghe tiếng quê hương từ nơi xa thẳm. Người nối liền sự đứt gãy văn hoá – văn học của dân tộc, lại chính là những kẻ tha hương. Tôi biết ơn ông và những người cầm bút ở ngoài nước, như ông!

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.