Chiếc “lá tương tư” bay về trời

Phạm Cảnh Thượng

Sáng nay thứ Bảy 31-01-2026, ông dạo một vòng “qua mấy ngõ hoa” rồi thong dong về miền mây trắng.

Hôm kia ông ra đi ở tuổi 79 tại Sài Gòn sau cơn nhồi máu cơ tim. Một thoáng nhẹ nhàng như chiếc “lá tương tư” chao nghiêng về phía cuối trời…

Đó là nhà văn Mường Mán.

Nếu nghĩ về một người bình dị, lặng lẽ với những thăng trầm, không nổi đình nổi đám nhưng lại hết sức phong phú và rất mực tài hoa, thì có lẽ không ít người nghĩ ngay đến nhà văn Mường Mán. Nơi ông hội đủ “năm nhà”. Mà lạ, “nhà” nào cũng xuất sắc, đúng chất đúng nghĩa: nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên kịch và họa sĩ.

Cũng chính vì thế nên nói về ông thì rất khó nói hết. Bài viết chỉ mong điểm qua vài nét chính, như nén nhang lòng để sáng nay tiễn đưa ông…

Hẳn với ai ít quan tâm văn chương sẽ có phần bỡ ngỡ, là lạ với cái tên Mường Mán. Ông tên Trần Văn Quảng, 1947, quê làng An Truyền (còn gọi làng Chuồn), huyện Phú Vang cũ, Thừa Thiên Huế. Tại sao lại là Mường Mán?

Nguyên do cái bút danh Mường Mán là đây:

  1. Lúc còn học tại trường Quốc học Huế, ông đọc một mẩu tin: “Đêm qua trường tiểu học Mường Mán bị pháo kích sập”.
  2. Ít tháng sau, lại tình cờ đọc truyện ngắn Mường Mán của nhà thơ Tô Thuỳ Yên, viết về cuộc chia tay buồn của một đôi tình nhân tại một sân ga nhỏ có tên ga Mường Mán (tỉnh Bình Thuận cũ).
  3. Từ đó cái tên lạ lạ ấy ám ảnh. Một chiều mưa cậu học trò đạp xe lang thang trong Thành Nội Huế, săn tìm ý thơ cho hai bài thơ Thiếu thờiMùa hạ. Hai bài thơ đầu tiên ấy xuất hiện trên tạp chí Văn, được chàng trai 18 tuổi ký bút danh Mường Mán.
  4. Cũng bởi một chút tinh nghịch của tuổi mới lớn, thích chút gì đó “phá cách”.

Đó là bốn yếu tố làm nên bút danh Mường Mán. Nghe có vẻ như “người dân tộc”. Ngồ ngộ và hoài cổ. Hoang sơ và mộc mạc. Và cũng ấn tượng.

Sau hai bài thơ đăng năm 18 tuổi nói trên, tiếp theo là hai truyện dài đầu tay Lá tương tưMột chút mưa thơm được đăng nhiều kỳ trên tuần báo Tuổi Ngọc (do nhà văn Duyên Anh làm chủ bút) những năm đầu 1970 tại Sài Gòn dành cho tuổi mới lớn.

Rồi bài thơ Qua mấy ngõ hoa đượm chất học trò rất dài. Dài đến 18 khổ x 4 = 72 câu, nhưng vẫn được bao cô cậu học trò say mê nên vẫn kiên trì, sẵn sàng chịu khó ngồi chép tay vào sổ lưu bút:

… “Tay nhớ ai mà tay bối rối.

Áo thương ai lồng lộng đôi tà.

Đường về nhà qua mấy ngõ hoa.

Chớ có liếc mắt nhìn ong bướm

Lại là cái đuôi theo sau cô gái giờ tan học, ngắm và muốn buông lời trêu chọc. Nhưng đâu dám. Chỉ thầm nhủ trong lòng:

… “Hoa tầm xuân tím hoang bờ dậu.

Lòng anh buồn chi lạ rứa thê.

Nón nghiêng vành nắng chết đê mê.

Anh mê sảng theo chiều tắt chậm

Hoặc bài thơ Lá tương tư (bên cạnh truyện dài Lá tương tư) cũng rất thơ mộng và dài đến 11 khổ = 44 câu. Trong đó có những câu rất ngọt:

Sáng nay anh thấy mộng rất đầy.

Mộng về theo những cánh me bay.

Bay từ vai quên sang vai nhớ.

Xanh cả hồn anh bé có hay?

Và thêm nhiều bài rất thơ khác như: Con gái, Về bến xuân xưa, Bông cơm nguội, Dưới hiên mùa, v.v. đều tuyệt chiêu và hút hồn.

Song song với thơ là những truyện ngắn, truyện dài lần lượt ra đời: Muối trăm năm, Khóc nữa đi Sớm Mai, Mùa thu tóc rối, Trăng không mùa, Chiều vàng hoa cúc, v.v. tạo nên một Mường Mán của tuổi hoa học trò.

Chỉ tính trước 1975, ông đã có chừng 100 truyện ngắn. Ông còn là nhà báo. Tốt nghiệp tú tài 2 ông làm phóng viên chiến trường ở miền trung và từng suýt chết.

Sau 1975 ông lập gia đình ở tuổi 30 rồi hai vợ chồng vào Cần Thơ sinh sống. Bởi ông có ông anh là Kỹ sư nông nghiệp, giảng dạy Đại học Cần Thơ xin cho ông một chân công nhân tạp vụ ở trường. Và kết hợp thêm làm ruộng, chật vật với cuộc mưu sinh qua ngày tháng.

Tính ra ông có gần 10 năm không viết lách gì. Những tưởng kế mưu sinh khó khăn ấy khép lại nghiệp văn chương. Nhưng may thay thời kỳ đổi mới (1986) sau đó giúp ông trở lại nghề văn, đánh dấu bằng tiểu thuyết Hồng Hạ 1987, được in và bán rất đắt khách, hết 35 ngàn cuốn tạo kỷ lục thời đó.

Chính ông cũng không ngờ mang tiếng “nhà văn chế độ cũ” như ông in sách ra được công chúng đón đọc nồng nhiệt như vậy. Cuốn Hồng Hạ đem lại cho ông sự tự tin và niềm khích lệ lớn lao, tạo động lực cho ông viết rất sung mãn giai đoạn sau đó.

Liên tiếp các truyện dài và tiểu thuyết ra đời nối tiếp sau Hồng Hạ: truyện dài Thương nhớ người dưng (1988), tiểu thuyết Kiều Dũng (1989), tiểu thuyết Ngon hơn trái cấm (1989), truyện dài Bâng khuâng như bướm (1989), tiểu thuyết Tuần trăng mê hoặc (1990), truyện dài Khóc nữa đi Sớm Mai (1990), truyện dài Chiều vàng hoa cúc (1991), tiểu thuyết Trộm trái vườn người (1993), tiểu thuyết Bèo nước long đong (1995), v.v.

Và rất nhiều tác phẩm nữa đều đặn ra đời trải dài qua các năm. Đến 2008 xuất bản tập thơ Dịu khúc, là tác phẩm cuối cùng.

Chúng ta hẳn còn nhớ những năm đầu thập niên 1990, khi nhà văn Đoàn Thạch Biền lập ra tập san Áo Trắng dành cho tuổi học trò, thì cái tên Mường Mán xuất hiện rất đều đặn trên tập san. Ông là một trong những cây bút cộng tác chủ lực. Thời đó ba nhà văn Đoàn Thạch Biền – Mường Mán – Nguỵ Ngữ cùng tuổi 1947 và thân nhau như một bộ ba.

Cùng với truyện và tiểu thuyết, ông còn viết kịch bản phim Người trong cuộc (1987), Gió qua miền tối sáng gồm 30 tập (1995)

Cũng trong năm 1995 này ông in tập thơ đầu tay Vọng. Và từ năm này ông lên Sài Gòn sinh sống, làm ở công ty văn hóa Phương Nam.

Thơ ông hay nên nhiều bài được các nhạc sĩ tâm đắc phổ nhạc. Ví dụ: Hãy là viên kẹo hồng (nhạc sĩ Đinh Trầm Ca phổ nhạc), Vị nhớ (Lý Minh Phương), Chăn vịt phương nam (Châu Đình An), Ru ta một mình (Nhật Ngân), Về (Anh Bằng), v.v …

Các kịch bản phim thì nối tiếp nhau ra đời Tiếng đờn kìm (1997), Trăng không mùa (1998), Duyên phận (16 tập, 2003) gây tiếng vang lớn. Tài viết kịch bản của ông, kết hợp với tài đạo diễn của Lê Cung Bắc, làm bộ phim thành công vang dội.

Đúng thời gian đó ông sống nhờ nghề viết văn đúng nghĩa. Nhờ tiền nhuận bút, ông mua được căn nhà ở Gò Vấp và mở được Quán Ruốc ở quận Phú Nhuận cũ, bán các món ăn Huế.

Đáng nể nữa, ông còn có 15 năm làm nghề vẽ trình bày bìa cho sách xuất bản. Vẽ hơn 300 tranh minh họa cho sách báo, trong đó có tập san Áo Trắng.

18 năm qua kể từ khi ngừng sáng tác văn chương, ông chỉ dành thời gian cho gia đình, phụ vợ con quản lý Quán Ruốc và vẽ tranh mỗi khi có hứng. Ít tiếp xúc với bạn văn chương trừ một số ít thân thiết.

Thời còn học Phổ thông ông đã có năng khiếu và yêu thích nghề vẽ hơn văn. Nhưng đến lúc trưởng thành thì nghiệp văn đã chọn ông.

Giữa tháng 7-2019 ông tổ chức cuộc triển lãm tranh chủ đề “Tuần trăng mê hoặc” tại Quán Ruốc của ông, trưng bày hơn 50 bức tranh ông sáng tác trong 15 năm qua, thu hút sự quan tâm của người yêu nghệ thuật. Phong cách hội họa của ông cũng đậm chất mộng mơ, lãng mạn và hoài niệm, như chính văn chương ông.

Gần ba năm sau, đầu tháng 3-2022 ông lại mở triển lãm tranh lần 2, cũng tại Quán Ruốc với chủ đề “Mùa chim gọi cưới”, trình làng hơn 50 bức tranh sơn dầu nữa.

Thật vậy, giới chuyên môn cũng như người đọc nhận xét văn chương của Mường Mán giàu chất thơ. Mộng mơ trong sáng khi viết cho giới trẻ. Nhân văn, nhân hậu và chứa chan thương cảm phận người khi viết cho người lớn. Hiếm có cảnh gai góc, gay cấn, đạn bom, bạo lực. Đó là phong cách đặc trưng của Mường Mán Trần Văn Quảng.

… “Hương xoan nay đã xa vời vợi.

Thuyền cũ đi về vắng bóng ai.

Lênh đênh trên bến vần thơ trắng.

Nhuộm áo khăn xưa màu trăng phai

Sáng sớm mai này ông đi, hẳn rằng vô số bạn đọc tiếc thương. Biết làm sao được. Vô số ánh mắt ngẩn ngơ, tôn kính và ngưỡng mộ nhìn theo chiếc “lá tương tư” bay về trời…

Kim Long, BRVT-TP. HCM 31 -01 -2026

Mường Mán và bìa tập truyện Cạn chén tình

Bìa tập thơ Dịu khúc xuất bản 2008, là tác phẩm cuối cùng của nhà văn Mường Mán. Sau đó ông ngưng viết văn, làm thơ, chuyển sang hội hoạ.

Nhà văn Mường Mán bên tác phẩm hội hoạ Nón lá và hoa.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.