Có ai còn nhớ đến bao nhiêu người lính Việt ngã xuống trên đất Campuchia?

Lê Đức Dục

 

Hôm nay 7-1, đi tuần một vòng trên FB không thấy mấy ai nhắc ngày này.

7-1-1979, quân Việt Nam tiến vào Phnompenh và cuộc chiến giúp dân Cam dài tới mười năm sau đó, mãi 1989 mới chấm dứt.

Một tài liệu trên BBC hơn 10 năm trước cho biết tầm 40 ngàn lính ta đã hy sinh trong cuộc chiến này.

Quê mình ở Quảng Trị, nghĩa trang quốc gia lớn nhất là Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn với 10.363 mộ.

Nhiều người lần đầu ghé thăm đây khi qua chập chùng mái đồi ngút ngàn bia mộ đã sốc.

Nhưng nếu đem hết liệt sĩ ở K về an táng tập trung ta sẽ có bốn nghĩa trang to mênh mông như Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn.

Bốn vạn liệt sĩ.

Nhiều vạn thương binh.

Và nhiều người vẫn còn ôm nỗi đau thương tật suốt đời.

Và hôm nay không biết bao nhiêu trang báo còn nhắc đến anh em?!

*****

Máu lính Việt ở chiến trường K, xin đừng ai quên!

Năm 1978, tôi đang học lớp 7, những đứa học trò sau bao năm chiến tranh tao loạn bị trắc trở học hành nên trong lớp có đứa 12-13 tuổi nhưng có người đã 16-17 tuổi. Ngồi cạnh tôi là chị Xuân, tuy lớp 7 nhưng chị đã 17 tuổi.

Đúng cái chỗ ngồi của tôi là chỗ ngồi của anh Ph., anh học lớp 8 học vào buổi sáng, và tuy học lớp 8 nhưng anh Ph. cũng đã 18 tuổi.

Một buổi chiều đi học tôi thấy trong gầm bàn một mẩu giấy ghi: “O Xuân ơi, thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ một người chín nhớ mười mong một người/gió mưa là bệnh của trời/ tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Với một đứa học trò lớp 7 vào những năm đó thì làm sao biết đó là thơ Nguyễn Bính? Cứ coi đó là thư tình anh Ph. viết gửi cho chị Xuân, và buổi chiều đến lớp, chị Xuân lại đọc những tình thư giấu trong hộc bàn ấy.

Rồi một ngày tôi không thấy những lá thư trong hộc bàn như thế nữa, nghe nói anh Ph. đã đi “nghĩa vụ” ở chiến trường Campuchia.

Bẳng đi một thời gian sau, một hôm đến lớp thấy chị Xuân khóc, hỏi ra mới biết anh Ph. đã hy sinh ở Campuchia, khi anh vừa qua 18 tuổi và chưa học xong cấp 2!

Không hiểu sao khi nhắc đến cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi hay nhớ về anh Ph. đi “nghĩa vụ” và hy sinh. Có hàng vạn người lính như anh Ph. đã hy sinh ở chiến trường đó, dang dở học hành, dang dở yêu đương và không phải ai cũng may mắn mang được chút tro cốt cát bụi về với đất mẹ, còn rất nhiều thân xác người lính Việt đã hóa thân trong màu xanh của những hàng thốt nốt trên xứ sở Chùa Tháp!

Cuộc chiến đó không dừng lại ở ngày 7-1-1979, khi quân tình nguyện Việt Nam tiến vào Phnompenh mà còn dài hơn thế, “Thêm 10 năm, 8 tháng, 9 ngày” theo cách tính của một cựu binh chiến trường K, nhà thơ Phạm Sĩ Sáu.

Nghề nghiệp đã cho tôi vài lần đi dọc theo tuyến biên giới Tây Nam từ chót mút Hà Tiên lên tận ngã ba biên giới Việt-Lào-Cam, đã vài lần đến đất nước Chùa Tháp, lặng người trước ngôi trường Tuol Sleng ở thủ đô Phnompenh – ngôi trường, nơi để con người chắp cánh cho những hy vọng thì Pol Pot đã biến nó thành “siêu địa ngục”, ở đó có những sọ người được xếp thành hình bản đồ Campuchia. Những viên gạch lót sàn mà máu của người dân bị tra tấn giết hại thấm mãi hóa một màu đen sẫm ma quái.Và kinh hoàng hơn cả là hàng vạn tấm ảnh chân dung những trẻ em Campuchia bị giết hại được treo kín trong nhiều căn phòng của bảo tàng này!

Không chỉ người dân Campuchia, trong một chuyến đi biên giới, tôi đã ghé vào Tri Tôn, Ba Chúc, hàng ngàn bó xương và hộp sọ của người dân bị lính Pol Pot thảm sát được mang từ đền tưởng niệm ra phơi nắng! Những hình ảnh mà giàu tưởng tượng đến mấy cũng không thể hình dung ra được, nhưng đó là sự thật, sự thật như chính tội ác.

Tội ác man rợ của quân diệt chủng và quan thầy của chúng đã được ghi nhớ đầy ấn tượng như thế. Và tôi lại nhớ đến hàng vạn người lính tình nguyện như anh Ph. Hàng vạn nỗi đau như thế của những ông bố bà mẹ.

Nhớ về ngày 7-1-1979 và chế độ diệt chủng tại Campuchia không chỉ là tưởng nhớ và vinh danh sự hy sinh của những người lính tình nguyện Việt Nam.

Nhắc lại tội ác của chế độ diệt chủng và quan thầy Trung Quốc của chúng cũng là để không bao giờ quên bài học cảnh giác với những kẻ thù.

Nhắc để biết gìn giữ Tổ quốc bình yên giữa phong ba bão động. Để những người lính như anh Ph. sẽ không dang dở học hành, dang dở yêu đương và gửi tuổi thanh xuân của mình nằm lại chốn quê người!

Những bức ảnh này là khi mình được tháp tùng anh em cựu binh K trở lại cúng vọng đồng đội ở chiến trường Cao Mêlai – “thủ đô sốt rét” của… thế giới thập niên 70-80 của thế kỷ trước.

Tượng con voi ở ngã ba Nimit – hình ảnh con voi quay đít lại phía Cao Mêlai bắt đầu từ truyền thuyết đất vùng Cao Mêlai độc đến nỗi voi phải bỏ đi. Voi bỏ đi nhưng hàng vạn người lính Việt Nam đã phải gửi lại một thời tuổi trẻ của mình ở đó, và rất nhiều người lính Việt đã nằm lại đây vì trúng đạn, trúng mìn, sốt rét, rắn cắn…

“Cao Mêlai trời rây mưa

Bao người lính Việt hồn chưa được về

Campuchia Campuchia

Nghe cơn sốt rét đầm đìa mồ hôi…”

Đoàn anh em đi dịp đó, mới mấy năm mà đã có hai anh theo về mây trắng: nhà văn Nguyễn Thành Nhân và anh Hữu. Mấy tháng trước, một cựu binh là thương binh K, mình tìm gặp anh sau chuyến đi cùng các cựu binh, là anh Lê Văn Chánh cũng vừa ra đi.

Những người lính và cuộc chiến K cho đến nay vẫn chưa được viết ra một cách toàn vẹn đủ đầy. Những tài liệu về cuộc chiến rồi sẽ đến lúc giải mật.

Và những nấm mộ của các liệt sĩ chiến trường K vẫn trong những nghĩa trang, gió ù ù thổi qua những hàng bia im lặng!

Ba người trong ảnh từ trái qua: anh Phạm Sỹ Sáu nay đang ở Mỹ, anh Hữu (đã mất), nhà văn Nguyễn Thành Nhân (đã mất)

Anh Lê Văn Chánh (người thứ hai từ phải qua) cũng ra đi mấy tháng trước.

 

Cùng anh Phạm Sỹ Sáu ở Cao Mêlai

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.