Nét mặt của Phật, và của Chúa

Nguyễn Hoàng Văn

Phật có thể mỉm cười khi bị chúng sinh chỉ trích?

Tôi nghĩ đến điều này sau khi xem phim Samsara (Luân hồi) của đạo diễn Pan Nalin nhưng đó chỉ là ý tưởng thoáng qua. Mãi đến khi đọc bài thơ ngắn, bài 679,  trong tập 909 Bài thơ ba dòng của Nguyễn Hưng Quốc:

Trước sự yếu đuối của con người

Chúa cau mặt

Còn Phật thì mỉm cười

ý tưởng trên mới quay lại, như một ám ảnh.

Thường, chúng ta bộc lộ sự yếu đuối của mình khi đối diện với những thách thức khó vượt, những khổ đau quá sức chịu đựng và lúc đó chúng ta chỉ có thể khóc chứ khó mà cười. Nhưng nếu bị chỉ trích khi bộc lộ sự yếu đuối hay sự khó xử trong một tình huống ngang trái như có thể thấy trong Samsara, có lẽ Phật cũng sẽ mỉm cười.

Đó là câu chuyện về Tashi, một nhà sư Tây Tạng xuất gia từ năm năm tuổi nhưng sau lại lòng vòng hoàn tục rồi hoàn đạo. Dấu mốc đầu tiên là năm 25 tuổi, sau khi nhập thất trong hang núi ba năm liền, kẻ tưởng đã dứt bỏ lòng trần này đã ngày đêm tơ tưởng đến khoái lạc xác thịt sau khi, trong một lễ hội, vô tình nhìn thấy bộ ngực hé mở của một bà mẹ trẻ đang cho con bú. Đắm mình theo những giấc mơ ướt át mỗi đêm mà những nhà bệnh lý Đông y gọi là mộng tinh, nhà sư trẻ sau đó đã phá giới, lấy vợ, sinh con và, thậm chí, còn đắm mình truy hoan trong các cuộc phiêu lưu xác thịt khác, như một ông chồng ngoại tình. Nhưng rồi thì những giềng mối rắc rối trong đời sống trần thế cộng thêm mặc cảm tội lỗi khi nghe tin sư phụ qua đời, Tashi lại chán đời sống trần thế, quay về với đời sống khổ hạnh.

Gây ấn tượng mạnh nhất, với tôi, là cảnh Tashi lén lút bỏ trốn nhưng bị người vợ chặn đường. Người vợ chỉ trách, không ngăn cản, mà lại trách cả Phật, nhắc lại chuyện nửa đêm Phật vén màn nhìn vợ con ngủ say rồi thầm lặng bỏ đi, không lời từ giã. Một người như Phật thì phải có dũng khí đối diện với sự thật, phải đánh thức vợ dậy để nói rõ sự thật chứ?

Phật, phải chăng, là ngại ngần cảnh người mình thương yêu khóc lóc? Mà chúng ta, miễn là tử tế, ai có thể chai sạn trước nước mắt của người mình thương yêu? Và Phật, cũng như chúng ta, nếu bị trách bằng những lời trên, có lẽ cũng chỉ mỉm cười, như một cách trả lời.

Nhưng đó chỉ là một giả định, từ một câu chuyện nhỏ và nụ cười của Phật có thể có những hàm ý sâu rộng hơn.

Phật xem vũ trụ này là một thực thể hằng hữu, vô thủy vô chung, không có khởi đầu cũng không có kết thúc nên con người, đã đến với thế giới này thì phải học cách sống với thế giới này, nghĩa là phải chấp nhận… khổ đau. Khổ Đế, chân lý đầu tiên của Tứ Diệu Đế, nêu rõ rằng khổ đau là phần không thể tách rời của cuộc sống thì, làm người, phải chấp nhận, phải biết sống chung để vượt qua.

Mà để được như thế thì phải lạc quan, phải đối diện với nó một cách an nhiên, tự tại. Nghĩa là phải biết cười và, do đó, khi “mỉm cười” trước khổ đau của con người, Phật đã dạy chúng ta cách sống.

Nhưng còn Chúa, tại sao Chúa lại… cau có?

Chúa Trời, theo Thần học Thiên Chúa Giáo, là một đấng tự hữu và hằng hữu, không sinh không diệt và Ngài đã sáng tạo nên thế giới này, sáng tạo nên con người. Nhưng nếu thế thì sự khổ đau của con người lại ngụ ý cái gì đó bất toàn trong sự sáng tạo nói trên và đây, phải chăng, là lý do khiến Chúa không vui?

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.