Tháng Một

Nguyễn Đức Tùng

Chúng ta chỉ sống một lần, nhưng nếu biết cách sống, thì một lần cũng đủ cho một đời.

Tôi không biết có ai biết sống như thế cả. Thật dễ dàng để nhìn thấy khuyết điểm của thế giới, của người khác, thật khó khăn để nhìn thấy khuyết điểm của chính mình. Tôi nhặt một hạt sạn trong giày, định ném đi. Không phải sạn, một hòn đá, óng ánh, trơn xanh như ngọc. Tôi cầm trong tay thật lâu, rồi lấy sức ném nó ra xa, trả viên ngọc về với biển, nơi nó thuộc về. Mỗi chúng ta đều thuộc về một điều gì, một xứ sở, một nguyên tắc sống, một lý tưởng, một người yêu dấu. Khi gặp sự vật, cầm nó trong tay, sở hữu nó, bạn không bẻ đôi như miếng bánh, không phân tích nó như mẫu thí nghiệm, bạn quan sát nó một cách trọn vẹn, ngửi mùi thơm, lắng nghe tiếng nói, nhận ánh sáng của nó. Cũng như trong tình yêu. Ngày 9 tháng 1 năm 2007: iPhone đầu tiên ra đời, trong một tuyên bố ngắn của Steve Jobs ở Macworld Conference, sau đó sáu tháng, ngày 29 tháng 6 năm 2007, chiếc đầu tiên được bán trên thị trường. iPhone có ba đặc điểm: điện thoại di động, màn hình kiểm soát bằng chạm tay, và, đặc điểm quan trọng, kết nối internet. Từ đó nhân loại thay đổi. Theo hai hướng: tốt và xấu. Năm 2020, Tony, lên tám, hỏi mẹ:

– Đố mẹ, nỗi sợ hãi lớn nhất của người ta là gì?

– Bị nhiễm Covid.

Đó là năm đầu tiên của đại dịch Vũ Hán.

– Không. Sợ bị mất iPhone.

Buổi sáng tôi đi dọc bờ nước, chân giẫm lên cát, hít thở không khí trong lành, gió biển lạnh buốt. Tôi mặc áo ấm, quàng khăn len, đội mũ kín đầu, dùng giày chạy bộ thật tốt, không muốn trả giá cho sự thờ ơ. Tôi cần sống không phải vì đặt quá nhiều hy vọng vào cuộc đời này, mà vì cần làm xong những bổn phận của mình, nhỏ bé, khiêm tốn, rõ ràng. Buổi sáng, tôi ngồi lâu trên cái ghế thấp, đọc một cuốn sách. Nếu đó là cuốn hấp dẫn, nó buộc tôi đứng lên, đứng mà đọc như vậy, đôi khi cả giờ. Đó là những cuộc đọc sách vô cùng quan trọng, không có chúng, đời sống tàn úa.  Ngày 1 tháng 1 năm 1863, ngay giữa cuộc nội chiến Hoa Kỳ: Tuyên bố giải phóng người da đen khỏi chế độ nô lệ (Emancipation proclamation), bởi tổng thống Abraham Lincohn. Không những người da đen ở Mỹ, mà những người nô lệ trá hình khác, ngay bây giờ, năm 2026, cũng cảm thấy được khích lệ. Thế giới đầy câu hỏi và trả lời. Chúng ta không ngớt tranh cãi. Trong khi đi tìm câu trả lời, chúng ta tranh luận, hơn thua, bực bội, tức giận, bẽ bàng. Không có một phương cách nào tốt hơn thế để nhân loại tiến về phía trước. Ngày 3 tháng 1, 2026, lực lượng đặc biệt Delta của Mỹ bất thần tấn công Venezuela, bắt sống tổng thống Maduro và vợ, dẫn về New York, ra tòa, trước phản ứng bàng hoàng của thế giới. Nhiều nước lên tiếng phản đối, cho đó là sự vi phạm chủ quyền. Nhiều nước khác lên tiếng ủng hộ, dựa trên nguyên tắc can thiệp đối với trường hợp đặc biệt. Tôi ngạc nhiên là với một quân đội đông đảo, một trăm cận vệ của tổng thống Venezuela đã bị quân Mỹ bắn chết, trong đó có 32 binh sĩ Cuba, mà không gây được tổn thương nào cho phía Mỹ. Có những thứ quý hơn độc lập quốc gia, ví dụ tự do của người dân, hạnh phúc của người dân. Dù sao, tôi cho rằng việc tranh luận này, một bên phản đối một bên ủng hộ, là sự cân bằng quyền lực cần thiết của nước Mỹ. Cũng vào ngày 3 tháng 1, đúng 36 năm trước, năm 1990, quân Mỹ bất ngờ đánh vào Panama bắt sống tướng Noriega, đưa về xét xử ở Florida. Hai năm sau, tuyên án 40 năm tù vì tội buôn ma túy. Năm 2007 được thả vì hạnh kiểm tốt, đưa về Pháp, ở tù lần nữa bởi tòa án Pháp do tội rửa tiền. Năm 2011, ông được trả về Panama, tại đây lại bị bỏ tù lần nữa vì tội tham nhũng. Ngày 14 tháng 1, ngày của suy nghĩ lý tính (world logic day). Chúng ta sống quá nhiều xúc cảm. Bạn không sống những câu trả lời, bạn sống những câu hỏi. Bạn sắp sửa gây tổn thương cho người khác mà không biết. Nhiều năm trước, một người đàn bà nói: mấy hôm nay em cũng buồn bã đến khủng hoảng. Bỏ bê mọi việc, mấy hôm nay khóc cũng sắp hết nước mắt rồi. Thế gian sau này vẫn lặp lại câu chuyện ấy, vết thương, lòng yêu dấu cũ. Tháng mười hai và tháng một ở Bắc Mỹ là tháng của vui chơi, tiệc tùng, trò chơi tuyết. Tôi có hai loại bạn: những người Âu Mỹ, uống rượu mạnh nhiều và nhanh, và những người Á đông thích nhâm nhi tán chuyện. Nửa đêm ra về, chia tay bè bạn, đi dọc theo con đường từ quán ăn đến chỗ đỗ xe, lòng hân hoan tưởng như mùa xuân đã về, hoa lá đua sắc, nhựa lên đầy cành.

Ô saisons ô châteaux,

Quelle âme est sans défauts?

(Arthur Rimbaud)

Ôi những mùa màng ôi những đền đài

Tâm hồn nào không tội lỗi?

Trước áp lực của đời sống, thơ ca tạo ra vùng an toàn, sự đề kháng. Áp lực của hiện thực, vì đó là một hiện thực mới, gồm những yếu tố chống lại con người, đô thị hóa, xóa bỏ nông thôn, tàn phá thiên nhiên, chủ nghĩa tiêu thụ, đàn áp công dân, xung đột chính trị. Sự đề kháng đối với những môi trường không thuận lợi đòi hỏi tưởng tượng và sáng tạo. Trong những môi trường bạo lực hôm nay, thơ mở những cánh cửa, làm mới lại suy nghĩ, làm mới lại cảm xúc của chúng ta. Thực ra thời tiết ở đây vẫn còn lạnh, thậm chí là lạnh nhất trong năm. Thế mà cái ấm áp của lòng người nó từ xa đến, nghĩ, giá như mình đang đi trên chính quê hương vậy. Thì mới đây chứ đâu, anh đi giữa hai hàng rào dâm bụt, đi sau một ngọn đèn bão lắc lư trong gió, nghe tiếng người cười nói vọng ra từ trong những căn nhà còn hắt ánh lửa dù đã khuya, tiếng người chơi bài tới, bài tam cúc, bài cào, tiếng nam nữ hò đối đáp, tiếng gọi nghé của một đứa trẻ chăn trâu về khuya. Em yêu của anh, cái áo lụa màu xanh nhạt có hoa tim tím, cánh tay ngắn, em hay mặc, vì trời sắp Tết mà ở miền Trung thì nóng hẳn lên, cái áo ấy nay em có còn mặc nữa không?

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Hàn Mặc Tử. Thật khó khăn để nhìn thấy khuyết điểm của chính mình. Nhưng khi bạn nhìn thấy, bạn liền nghe tiếng nói: cho em biết, nếu như có thể, em làm gì được để anh vơi bớt nỗi buồn? Có năm Tết rơi vào tháng 1, có năm tháng 2. Người Việt yêu Tết biết bao. Tôi cũng nhớ tiếng pháo giao thừa. Tôi nghĩ, nó sẽ trở lại. Trong tiếng pháo giao thừa, bạn thức dậy, đưa tay lay nhẹ người bên cạnh, mà nói, em ơi dậy cúng giao thừa. Rồi sáng sớm nếu ở Sài Gòn bạn sẽ đi đền Hùng hay đền Đức thánh Trần như tôi ngày xưa, chở người yêu sau chiếc xe Honda, tay nàng cầm bó nhang lớn, cháy thơm lừng khúc phố, còn nếu ở Hà Nội, bạn đi đền Ngọc Sơn, nếu ở Huế bạn đến chùa Thiên Mụ, nghĩ như thế thì làm sao mà ngủ được, hỡi người xa quê.

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Tháng một, tháng giêng, mùa xuân, tuyết tan, nắng sớm, đó là những khởi đầu của một năm. Bổn phận của chúng ta là hạnh phúc. Sống sao cho hạnh phúc là một bổn phận. Muốn hạnh phúc, bạn cần ba thứ: một đời sống vật chất tối thiểu, như cơm ăn áo mặc, nhà ở, việc làm. Bạn có những nhu cầu tinh thần khác nữa: phim ảnh, sách vở, âm nhạc, thờ cúng, tình yêu, tình bạn. Và thêm duy nhất một điều sau đây mà nhiều người trên thế giới hiện nay không có, nhưng bạn phải có: tự do. Bài thơ của Hàn Mặc Tử viết về mùa xuân nhưng không phải chỉ là sự mô tả mùa xuân một cách hiện thực như trong Đoàn Văn Cừ:

Họ vui vẻ khéo hàng trên cỏ biếc

Những thằng cu áo đỏ chạy long xoong

Vài cụ già chống gậy bước lom khom

Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.

Cũng mô tả thôn nữ, mà Hàn Mặc Tử bắt đầu thoát khỏi hiện thực ấy:

Bao cô thôn nữ hát trên đồi

Câu thơ xa xôi hơn, mờ ảo hơn, thơ mộng hơn; câu Đoàn Văn Cừ duyên dáng hơn, hiện thực hơn. Một trong những câu đáng yêu nhất của bài thơ này là:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Thơ là sự đặt tên lại cho sự vật, sự gọi tên thế giới, làm cho chúng trở thành mới. Chính sự tìm kiếm chữ mới tạo lập nối kết giữa hiện tại và hiện thực khác, biến đời sống khốn khổ, tình yêu tuyệt vọng thành ra bi kịch chấp nhận được, bạn có thể ứng xử được với chúng. Đây là một câu thơ gồm những chữ không mới, mà lại mới, vì chữ mới không phải là chữ chưa được ai dùng tới:

Hổn hển như lời của nước mây

Trong văn chương, đi tìm chữ mới chính ra là đi tìm cách sử dụng mới của một chữ. Quyền lực của thơ ca là có thật, là trung tâm của đời sống của một nhà thơ, đó không phải là quyền lực ngự trị, bắt buộc, đó là quyền lực của sự nối kết và tiếp cận nguyên lý của sự vật. Tôi tìm thấy niềm vui trong khi viết. Đọc lại và viết lại là một việc thú vị, không phải một văn bản nào cũng chịu sự đọc lại. Tôi uống hết tách trà nóng, thấy người ấm lại, tôi mang giày vào, thong thả, kỹ càng. Niềm vui sướng giản dị của buổi sáng ban cho tất cả chúng ta, không trừ người nào. Tôi uống trà trước tất cả mọi thứ, trước một cái bánh kiểu Pháp, tách cà phê nóng hay sữa đá, những loại bánh ngọt hoặc bánh mì baguette nướng. Tôi ngước nhìn, vầng trăng màu trắng, lạnh, trên trời, đó là vầng trăng sớm, bao lần tôi đã gặp nó. Đã bao lần chúng ta bỏ qua, ngó lơ, không nhìn thấy một vầng trăng ngang cửa, đã bao lần kể từ khi xa tuổi nhỏ, bạn không đứng một mình thật lâu ngước nhìn trời, nhìn cây đa và chú Cuội, đêm trăng rằm tròn vành vạnh.  Ngày 8 tháng 1, năm 2019, vườn rau Lộc Hưng ở Sài Gòn bị đập phá. Ngày 8 tháng 1, 2026, tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị rút ra khỏi danh sách 50 tác phẩm tiêu biểu của nền văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa (1975-2025). Nhiều người ngạc nhiên, phẫn nộ. Tôi thì ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy: chủ nghĩa hận thù đã được nuôi dưỡng từ bao năm nay, chưa hề bỏ cuộc. Bây giờ vẫn thế. Ngày 8 tháng 1, 2026, tôi đọc thấy câu này trên FB của Hoàng Thị Hồng Thái, người bị bắt cùng ngày:

Nói dối thì dễ.

Im lặng thì an toàn.

Tôi thật yêu quý chị. Quốc gia cần biết bao một công dân trung thực như vậy, dân tộc cần biết bao một người phụ nữ đáng yêu như vậy. Ngày 20 tháng 1, ngày Chấp nhận (international day of acceptance). Chấp nhận, tiếp nhận, thừa nhận là sự bao dung, sự không khác, sự nhận vào, sự giao hòa. Trẻ con suốt nhiều năm chỉ biết nói đến lòng yêu nước, lòng căm thù, đấu tranh giai cấp, chúng chưa biết chấp nhận. Ngày 11, Thomas Hardy qua đời, ngày 12, Agatha Christie, ngày 18, Rudyard Kipling. Ngày 19, Edgar Poe ra đời, ngày 19, Paul Cezanne, ngày 22, Byron, ngày 25, Robert Burns, ngày 25 Virginia Woolf, ngày 29, Anton Chekhov. Giờ này ở quê nhà, mọi người đang tất bật lắm đây, nào công việc, nào nhà cửa, trang hoàng tết nhất, mua sắm, quà cáp, con cái. Mệt thế mà người ta vẫn vui. Mẹ tôi ngày xưa vào khoảng tháng Chạp này, mặt nhễ nhại mồ hôi mà tươi tắn, cười suốt ngày, quên bực bội. Ba tôi giản dị, các con cũng không dám đòi hỏi nhiều, nhưng mẹ tôi hăng hái lắm, tìm mọi cách dành dụm tiền bạc để mua sắm áo quần mới cho con, sắm sửa mứt bánh, dưa quả, trà bánh để cúng bàn thờ. Thế mà đến ngày cuối năm thế nào bà cũng có một món quà bất ngờ cho ba tôi, năm thì cái cà vạt mà ông không mấy khi dùng, năm thì cái mũ phớt thường đội trên đầu, năm thì một bàn cờ mới hay hộp trà Thiết Quan Âm. Trong bếp và ở nhà dưới, vì thời ấy miền Trung nhà nghèo mấy cũng có hai, nhà trên để ngủ và thờ, nhà dưới để bếp núc, vậy thì khu vực nhà dưới là của mẹ tôi, đầy những thẩu, những chậu, những thau, dưa chua, vị tinh, bong bóng cá, kim chi, hành và tỏi, giấm lên men làm rượu, thùng gỗ nấu rượu, la liệt những khay đồng, chân đèn cầy bằng đồng bằng gỗ, cái cơi trầu, năm sang còn có một chậu thủy tiên của gia đình người Bắc di cư 54 đem tặng mà mẹ tôi quý lắm. Mẹ tôi khen con cái gia đình ấy lễ phép mà chân thành, lấy chúng làm mẫu mực cho chúng tôi noi theo. Sắm sửa nhiều thế mà bà cũng chưa yên dạ, nửa đêm còn thức dậy, thắp đèn, sai những người giúp việc đi soi xét từng góc, ra vườn hái cái này cái nọ. Tháng chạp ở quê mình, tức là tháng 1 dương lịch, sao mà đẹp thế, sao mà hấp dẫn thế, đất trời rung chuyển cùng lòng người, như trong một cuộc tình duyên ân ái.

Ở xứ người, nhất là Bắc Mỹ, trời lạnh, nửa đêm tuyết xuống, anh ngủ say thế rồi sáng mai chưa kịp thức giấc thì người vợ đã hé mở bức màn cửa, cất tiếng gọi chồng, mình ơi, tuyết xuống. Sau những ngày Giáng sinh tưng bừng, rượu chè, hò hét, là đến những ngày đầu năm im lặng. Ngày 4 tháng 1 là ngày của chữ cho người mù, được phát minh bởi Louis Braille. Ngày 27 tháng 1, thế giới tưởng niệm lò thiêu người Do Thái bởi bọn quốc xã. Ở Vancouver, thành phố của tôi, tháng này có nhiều ngày đặc sắc, như ngày của gấu, ngày yêu phô mai, ngày của ánh sáng, ngày của nông dân, ngày của người trượt tuyết. Ngày 6 tháng 1 năm 1605, ra đời Don Quixote, cuốn tiểu thuyết được xem là vĩ đại nhất của thế giới. Ngày 23 tháng 1, ngày của những người viết tay. Viết tay ngày càng ít được sử dụng, chữ của tôi ngày trước đẹp, bây giờ xấu hẳn. Tôi thích người viết chữ đẹp. Bạn đã bao giờ đứng sau lưng họ mà ngắm qua vai chưa?  Một thiếu nữ ngày trước làm như vậy.

Ngày 14 tháng 1 là ngày của thơ ca ở nơi làm việc (poetry at work day). Tôi yêu nó nhất. Những năm đại học, dịp nghỉ hè, tôi làm việc lặt vặt cho một nhà máy sản xuất lốp xe hơi, bụi khói mù mịt. Một hôm khi sắp  về, tôi nhặt được chiếc khăn tay văng ra từ dây chuyền chạy rần rật. Tôi nhặt nó lên, màu trắng ngả vàng, lấm dầu mỡ, không hiểu sao tôi nghĩ đó là khăn phụ nữ. Tôi cho nó vào túi áo khoác, chẳng biết để làm gì, và viết một bài thơ, như sau:

Trong hình dáng của một người đàn ông

Tôi đến thế gian này

Đi giữa những cái máy

Để nhặt giùm em một chiếc khăn tay

Ngày 24 tháng 1, ngày của giáo dục trên thế giới. Trẻ em cần được giáo dục ba thứ quan trọng nhất: lòng yêu sự thật, tính vị tha, tập sống sao cho hạnh phúc. Nhưng có hai hạnh phúc mà tôi quan sát được: những người thỏa mãn được sống trong hàng rào kín đáo, giống hệt người xung quanh, cảm giác an tâm ấy làm họ hạnh phúc. Và những người khác, chịu không nổi sự giống nhau. Tháng 1 năm 1989, có một điều gì rất lạ xảy ra mà nhiều người cảm thấy, nhưng không ai biết đó là gì. Sự xao động trong không khí trước cơn bão. Sự hồi hộp và lo lắng, nó đến từ đâu chúng tôi không biết. Ba tháng sau, bắt đầu các cuộc biểu tình, tháng 4 năm 1989, sau cái chết của Hồ Diệu Bang, đó là phản ứng của người dân không còn chịu nổi sự đàn áp. Biểu tượng của Thiên An Môn là nữ thần dân chủ. Ngọn lửa của nó đã tắt dưới bánh sắt xe tăng, nhưng tro tàn ấm nóng vẫn còn âm ỉ, buồn rầu và nhẫn nại. Mùa xuân năm ấy tôi trở lại trường đại học, mang theo lòng hy vọng của những người trẻ tuổi. Sinh viên Việt Nam còn lâu mới sánh được với sinh viên Trung Hoa, về khí phách. Ba mươi bảy năm sau, năm 2026, từ tháng một kéo dài đến tháng hai, và còn tiếp tục, ngọn lửa ấy lại cháy bùng trên đường phố Iran. Mới đầu là những đòi hỏi về dân sinh, giá cả đắt đỏ, về sau là sự phản đối toàn diện chính quyền Hồi giáo độc tài, vốn sinh ra từ cuộc cách mạng lật đổ vua Shah, 1979. Cuối tháng một 2026, số người biểu tình bị bắn chết đã vượt quá hai ngàn người. Chính phủ Mỹ đe đọa can thiệp quân sự nếu người biểu tình tiếp tục bị bắn hạ.

Quá đúng. Tôi ủng hộ.

Không có một nền độc lập dân tộc nào, không có một cuộc cách mạng Hồi giáo nào, chống ngoại xâm hay chống các vương quyền, lại đáng giá một xu, nếu dân chúng nước ấy không có tự do. Tháng một, 2026, tôi lên núi trượt tuyết. Tuyết đẹp mê hồn. Tôi trượt rất nhanh xuống dốc cao thẳng đứng, tự tin, êm ái, nhưng chỉ một giây nghĩ ngợi đến người khác, một giây thôi lơ đãng, tôi ngã xuống, lăn đi, bị cuốn đi. Đau đớn, bất ngờ, vùi lấp, tê dại, rất lâu tôi mới ngồi dậy được, ra về trong chiều muộn, tuyết phơi phới bay. Đôi khi một cơn bão rũ sạch một cái cây cô độc trên sườn núi làm nó trở nên xanh mướt như liễu, mềm như liễu. Nửa đêm về đến nhà, tôi nhặt một củ khoai tây, cho vào lò nướng. Tôi ăn khoai tây một mình trong bóng tối, cánh tay đau nhức trở lại. Ăn không đường, không muối, không mật ong. Tôi ăn một mình, chẳng biết để làm gì. Nhưng vào khoảnh khắc ấy, trong khi ngồi nhai khoai tây tôi bắt đầu lắng nghe mọi tiếng động, tiếng một nhành cây rơi trên núi trước khi tôi ngã xuống, tiếng chó sủa từ một khoảng cách xa, bên kia cánh đồng. Tháng một, người phụ nữ hàng xóm, một y tá, chết vì bệnh ung thư ngực, để lại người chồng và hai đứa con. Tháng một, tôi chứng kiến một đứa bé trai lên cơn suyễn đột ngột khi chạy bộ, để quên ống thuốc thở cấp cứu, được cứu sống. Một người đàn ông say rượu băng qua đường, bị xe tải hất tung lên, vẫn lồm cồm đứng dậy. Tháng một, tôi gửi lời chào đến Thiên An Môn, đến bệnh hen suyễn, đến tai nạn trượt tuyết, đến căn bệnh ung thư, đến một đứa trẻ sống lại trong ký ức, đến sự tập hợp đầu tiên dẫn đến sự kiện Thiên An Môn, của một dân tộc vĩ đại, đôi lần bị lừa gạt, tuy bần hàn khốn khổ nhưng không ngừng mơ mộng.

Một năm không bắt đầu từ tháng một, nó bắt đầu từ một ngày. Muốn có một ngày tốt đẹp: thì bạn làm một việc tốt đẹp.

Tôi xuống núi buổi chiều, ngồi nghỉ mệt trong quán cà phê. Sắp Tết người đi xa nhớ nhà: những ngày giao duyên, những vầng trăng tình tự. Tôi viết trong sổ tay:

Anh đi xa chẳng để lại được gì

Để lại cho em một vầng trăng diễm lệ

Có người nhớ giấc ngủ ngon khi đêm về sáng có mưa lắc rắc, thời khắc giao hòa giữa người chết và người sống, giữa âm và dương, giữa năm cũ và năm mới sao mà hân hoan thế, sao mà linh thiêng thế, khiến cho cả những mảnh hồn lưu lạc, những người chết bờ chết bụi trong chiến tranh, trên đường vượt biên, trong các trại tù cầu sương điếm cỏ, những kẻ không nhà ấy nay lại tìm về, quấn quít vui vầy khi thấy người dương thế mở rộng vòng tay với nhau, ôm lấy nhau mà cười, uống chén rượu nhạt mà vui. Nhưng hạnh phúc của một dân tộc cũng như của một người phải có thời gian mới dần dà xây đắp. Từng chút một. Như những thủ tục của một ngày. Cái cách mà bạn sống. Cái cách mà bạn nghĩ về người khác, tha thứ cho họ và xin lỗi họ, đôi khi cũng chẳng cần phải nói ra lời. Nhưng không dừng lại, không từ bỏ.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.