Minh Phúc
Liên tục có tác phẩm mới trong những năm qua, nhà văn Hồ Anh Thái tiếp tục cho thấy nội lực mạnh mẽ với cuốn tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (Nhã Nam và NXB Hà Nội ấn hành 2026). Với cuốn sách này, ông cho thấy sự sáng tạo vượt trội trong cách viết và các chủ đề bản thân khai thác.
1. Cuốn sách gồm hai mạch truyện đan cài vào nhau, khởi phát từ người đàn ông liên tục bị chậm chuyến bay vào lúc rạng sáng. Trong thời gian không biết phải làm gì, anh đã nhìn thấy một bản thảo bị để lại, trong đó ghi rằng tác giả dù rất cố gắng nhưng không nhà xuất bản nào đồng ý phát hành, vì vậy thông qua email, rất muốn nghe được cảm nhận của các độc giả. Từ đây, kết cấu truyện lồng trong truyện được mở ra, khi người đàn ông chứng kiến một lịch sử trải dài từ thập niên 1940 cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, thông qua câu chuyện của ba người phụ nữ trong cùng một gia tộc và những chặng đường chìm nổi của họ.
Thoạt nhìn, cuốn sách vẫn sở hữu nhiều nét đặc trưng của Hồ Anh Thái. Đó là những chi tiết châm biếm, tếu táo, giễu nhại những chuyện hài hước trong cuộc đời này. Từ những điều tưởng chừng bình thường, ông luôn nhạy bén tìm ra những mặt gây cười. Quan trọng hơn, cái cười của Hồ Anh Thái có nhiều cấp độ, có khi là cười mỉm sự tinh ranh của các nhân vật, khi là cái cười ha hả nhân sinh điêu toa, cũng có khi là cái cười buồn của hài đen cay nghiệt, mà sau khuôn miệng là dư vị đắng ngắt… Những điều đó tạo ra lớp lang phức tạp, và không ngoa khi nói ông là nhà văn hàng đầu trong việc mang đến nụ cười.
Ngoài ra, chủ đề cuốn sách cũng không xa lạ, khi xoáy sâu vào dòng chảy lịch sử. Nếu đã đọc qua Trong sương hồng hiện ra, Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu… ta vẫn sẽ nhận ra một Hồ Anh Thái rất xuất sắc khi viết về chủ đề này. Ông không khoác lên mình chiếc áo sử gia, ghi lại tỉ mỉ những gì đã qua; thay vào đó, lịch sử trong cuốn sách này chỉ như phông nền, nơi các nhân vật được thỏa sức thể hiện cá tính và con người mình. Với người phụ nữ thế hệ đầu tiên mà ông gọi là “nàng”, trải qua giai đoạn Pháp vào, Mỹ sang, hòa bình lập lại và những chuyển động của đất nước, ông cho ta thấy một nhân vật uyển chuyển, linh hoạt, người từ những đen tối thời cuộc tưởng không lối thoát nhưng đã nhạy bén sống sót, tồn tại và giữ cho dòng chảy huyết thống cứ thế tiếp tục.

Tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân của Hồ Anh Thái
Với thế hệ thứ hai tương ứng với giai đoạn xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, ông nhấn mạnh vào tác động của văn hóa nghệ thuật Xô Viết lên người đương thời. Không chỉ từ trong nhìn ra, ông cũng cho nhân vật từ ngoài nhìn vào, khi tạo ra sự gặp gỡ tình cờ với những người đàn ông ngoại quốc, từ đó khắc họa đời sống của người Việt ở chốn xa xôi. Đây là giai đoạn mà thế hệ sau từng được nghe nói đến với cả nước mắt cũng như nụ cười, và Hồ Anh Thái đã tái hiện xuất sắc điều ấy. Nhưng hơn hết, các nhân vật của ông luôn chứa trong mình một sự “quá độ” phức tạp, họ vừa đắm mình trong hào quang cũ nhưng cũng đồng thời đương đầu với tương lai bất định. Điều đó tạo nên sức hút thật riêng biệt.
Đến thế hệ thứ ba mà người phụ nữ được gọi là “bé”, ông chuyển sang giai đoạn đất nước bình thường hóa quan hệ, tiến đến toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở đó không chỉ có những ngày sau tươi sáng mà còn là quá khứ không ngừng bám đuổi, dù có chối từ cũng là bất khả, bởi con người luôn được bắt rễ từ những gì đã qua. Sự tiếp nối, chồng lấn và đồng hiện của ba người phụ nữ đại diện cho những giai đoạn khác nhau của đất nước đã phản ánh một lịch sử biến động không ngừng, mà từ đó con người đã sống sót, tồn tại, không ngừng vươn lên.
2. Không chỉ mang đến những điều quen thuộc, trong tiểu thuyết này, Hồ Anh Thái còn mang đến những điều mới mẻ. Tuy là tiểu thuyết mới nhất, nhưng đặt trong dòng chảy tư duy và sáng tạo, thì tác phẩm này lại đứng ở giữa. Nói thế bởi lẽ cuốn sách là sự tiếp nối những chủ đề quen thuộc, từ châm biếm đã xuất hiện ở Mười lẻ một đêm, SBC là Săn bắt chuột, Bốn lối vào nhà cười, Trượt chân trên tầng cao; hiện thực chiến tranh ở Trong sương hồng hiện ra, Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu như đã nói trên; đến những chuyến đi xa như ở Năm lá quốc thư, Mộng du khi xa xứ, Thế gian dài hơn bước chân người… Vì lẽ đó, Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân cho thấy một Hồ Anh Thái hòa trộn tất cả đặc trưng của những giai đoạn sáng tác đã qua, để trở lại thú vị, quyện hòa hơn bao giờ hết.
Cũng từ điều này mà ông xoay chuyển tạo nhiều điểm mới từ sự quen thuộc, không lặp lại mình. Chẳng hạn viết về hiện thực đất nước dù ở từng thời kỳ hay trong một khoảng thời gian dài đã có không ít tác phẩm, nhưng làm sao vẫn mang nụ cười vào được một thời đoạn gian khó hay khai thác một khía cạnh mới là góc nhìn đến từ bên ngoài… thì không phải ai cũng làm được. Để rồi từ đó, với vốn đi, vốn sống và trải nghiệm phong phú, ông đưa những hiện thực nhan nhản vào tác phẩm dưới góc nhìn bình luận, đối chiếu, so sánh, qua đó làm mờ những biên giới thể loại, đưa văn chương tiệm cận hơn nữa với đời sống quốc tế. Điều này, chính nó, lại cho thấy một vốn đọc phong phú, nơi Hồ Anh Thái không chỉ đào sâu vào quá khứ mà còn lắng nghe từ nhịp sống đương đại, mang đến những kết hợp thú vị.
Không chỉ xóa nhòa thể loại, ông còn thoát ly khỏi lối viết hiện thực thường thấy qua việc chọn lọc tình tiết cũng như thêm vào yếu tố phi lý. Sau rốt, vòng lặp thời gian của người đàn ông, bản thảo kỳ lạ, địa chỉ email năm lần bảy lượt phản hồi trở lại hộp thư người gửi… muốn nói điều gì? Thời gian trong cuốn tiểu thuyết cũng bị bẻ cong, nơi không có gì là xác thực cả. Điều đó cho thấy Hồ Anh Thái đã chạm rất gần đến quyền năng của tiểu thuyết, nơi nó không tái hiện, minh họa, mà nói như Milan Kundera, mỗi một tình tiết là “sự hiền minh của lưỡng lự”, nơi khả năng nào cũng có thể xảy ra, mặc cho niềm tin của độc giả hay ý chí chủ quan của người viết. Qua đó việc đọc không chỉ là đọc, mà còn là sự gọi mời người đọc bước vào không gian cuốn sách, cùng giải mã, suy ngẫm.
Hồ Anh Thái đã viết từ cuối thập niên 1970, vừa vặn gần nửa thế kỷ, nhưng Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân có thể nói đã tiếp tục mở ra chặng đường mới của nhà văn. Đúng như câu nói “đi thật xa để trở về”, thông qua các cuộc hành trình dù là theo chiều ngang địa lý hay chiều dọc lịch sử, ta đều thấy ở đó những câu hỏi căn cơ: gốc rễ, nguồn cội, lịch sử, quá khứ, từ đó kêu gọi tâm thái hòa giải giữa một thời điểm còn nhiều bất trắc.