Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 12)

Nguyễn Phương Mai

DANH TÍNH – NỘI CHIẾN VĂN HÓA

Kỳ cuối cùng của loạt bài này tập trung vào vấn đề ngôn ngữ. Học giả Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Chính vì vậy, ngôn ngữ là thách thức gây chia rẽ lòng người lớn nhất trong cuộc CÁCH MẠNG DANH TÍNH ở Ukraine.

1991: TIẾNG NGA LÀ NGÔN NGỮ XÃ HỘI

Sau khi Liên Xô sụp đổ, dù tiếng Ukraine trở thành ngôn ngữ chính thống cấp nhà nước, thực tế đây vẫn là một quốc gia SONG NGỮ.

Hầu như ai ở Ukraine cũng có thể nói hoặc hiểu tiếng Nga với mức độ thành thạo khác nhau. Địa vị xã hội của tiếng Nga thậm chí còn có phần lấn lướt (bài 7). Di sản của 300 năm “Nga hóa” đã biến ngôn ngữ này thành công cụ của quyền lực và trí tuệ. Từ công sở đến giảng đường, từ nhà máy đến trụ sở chính phủ, tiếng Nga là yếu tố bắt buộc để một công dân có thể học lên cao, hòa nhập xã hội và thăng tiến trong sự nghiệp. Muốn thành công trên chính quê hương mình, người Ukraine buộc phải thạo tiếng Nga.

Ngược lại, giai đoạn Nga hóa khiến tiếng Ukraine bị giới hạn trong gia đình hoặc nông thôn, gắn liền với định kiến “nhà quê, ít học”. Thậm chí cho tới trước chiến tranh 2022, nhiều người vẫn mặc định tiếng Nga đẳng cấp và văn minh hơn.

Đây là nguồn gốc ra đời của thứ ngôn ngữ pha trộn Surzhyk (nghĩa đen là bột mì pha lúa mạch đen). Những người dân quê lên phố cố gắng học tiếng Nga để hòa nhập. Tuy nhiên, họ không thoát được gốc gác, dần dà tạo ra một thứ ngôn ngữ lai căng: ngữ pháp, phát âm kiểu Ukraine, nhưng chèn từ vựng Nga. Nôm na, nó hơi giống như tiếng bồi: “Mày mếch-xua cái đét-lai cho tao nhé”. Tuy dở dở ương ương và bị coi thường, nhưng Surzhyk khá thông dụng vì nó khiến ai cũng hiểu nhau.

Thế hệ trẻ ngày càng ít thạo tiếng Nga hơn. Vậy nên trước chiến tranh, trong các gia đình thường có cảnh bố mẹ dùng tiếng Nga, con cái dùng tiếng Ukraine. Nhưng họ vẫn hiểu nhau. Nhiều nhân vật tôi phỏng vấn mở đầu bằng tiếng Ukraine vì phép lịch sự, rồi chuyển sang tiếng Nga cho thuận tiện. Họ sống theo “công thức Kyiv” – một từ tiếng lóng chỉ sự linh hoạt cả hai ngôn ngữ. Gọi là “Kyiv” vì thủ đô trung tâm là nơi giao thoa của nhiều luồng di dân và văn hóa Ukraine.

2012: TIẾNG NGA TRỞ THÀNH QUÂN BÀI CHÍNH TRỊ

Năm 2012, uy tín của Tổng thống thân Nga Viktor Yanukovych sụt giảm khi lời hứa “cải thiện đời sống” thất bại. Để kéo sự chú ý khỏi vấn đề tham nhũng, ông tập trung vào việc thực hiện một cam kết tranh cử khác: Nâng tiếng Nga thành “ngôn ngữ quốc gia thứ hai”.

Tuy nhiên, điều này cần 2/3 Quốc hội đồng ý sửa Hiến pháp – điều mà đảng của ông không thể làm được. Để lách luật, ông dùng “Hiến chương châu Âu về Ngôn ngữ” để trao cho tiếng Nga địa vị “ngôn ngữ khu vực”. Nhờ đó, tại vùng Đông Nam, tiếng Nga sẽ được dùng trong dịch vụ công ngang hàng với tiếng Ukraine.

Ủy ban Venice của châu Âu phản đối, coi đó là sự đánh tráo khái niệm. Hiến chương là để bảo vệ những ngôn ngữ SẮP TUYỆT CHỦNG, trong khi tiếng Nga tại Ukraine không hề yếu thế, thậm chí ngược lại, đó là thứ ngôn ngữ đang thống trị không gian truyền thông, văn hóa kinh doanh và văn minh đô thị. Hiến chương bị Ủy ban Venice cho rằng đó chỉ là công cụ để nâng vị thế tiếng Nga mà không cần phải sửa Hiến pháp.

Như vậy,

– Trước năm 2012, tiếng Nga là “ngôn ngữ xã hội”, đặc biệt ở vùng Đông Nam (giao tiếp tự do, nhưng giấy tờ hành chính là tiếng Ukraine).

– Sau 2012, tiếng Nga trở thành “ngôn ngữ khu vực” ở Đông Nam (giấy tờ buộc phải có tiếng Nga).

Chính sự luật hóa này đã khiến phe cực hữu có cơ sở để cáo buộc rằng “chính sách Nga hóa của Sa Hoàng và Liên Xô đang quay trở lại. Ukraine đang mất chủ quyền văn hóa”.

Họ cũng dùng luôn quân bài “ngôn ngữ” để tấn công Yanukovych và kích động tâm lý sợ hãi. Nhiều cử tri ôn hòa dồn phiếu cho đảng cực hữu Svoboda vì họ cam kết bảo vệ tiếng Ukraine một cách cực đoan nhất.

Kết hợp với các nguyên nhân khác nhau, bạo lực bùng phát dẫn đến Cách mạng Maidan. Tổng thống thân Nga Yanukovych phải tháo chạy. Cùng năm đó (2014), Nga sáp nhập Crimea và hậu thuẫn miền Đông ly khai với lý do “BẢO VỆ NGƯỜI NÓI TIẾNG NGA”.

2019: TIẾNG NGA PHẢI LÀ NGÔN NGỮ THỨ HAI

Việc bị mất Crimea và hai tỉnh miền Đông tuyên bố ly khai dưới sự chống lưng của Nga khiến chính phủ Ukraine trở tay không kịp.

Họ nhanh chóng nhận ra rằng ngôn ngữ không chỉ là “công cụ giao tiếp” mà còn là CỘT MỐC BIÊN GIỚI. Ở đâu có tiếng Nga, ở đó xe tăng Nga “có cớ tiến vào”. Việc luật hóa tiếng Ukraine trở thành vấn đề an ninh quốc gia chứ không còn là yếu tố đa văn hóa.

Năm 2019, luật ngôn ngữ mới ra đời. Quyền lực địa phương (ở luật 2012) được thay thế bằng quyền lực tập trung cấp nhà nước. Tiếng Ukraine được chuyển từ “khuyến khích” sang “bắt buộc”. Cụ thể như sau:

– Mọi giao tiếp trong không gian công cộng (công sở, trường học, bệnh viện, nhà hàng, truyền thông, giao thông) phải bắt đầu bằng tiếng Ukraine, chỉ chuyển sang tiếng Nga nếu có yêu cầu. Ví dụ, nhân viên hay tài xế… sẽ chào bằng tiếng Ukraine, sau đó chuyển sang tiếng Nga hoặc tiếng Anh nếu khách yêu cầu.

– 90% thời lượng truyền thông là tiếng Ukraine. Báo chí bằng tiếng nước ngoài phải có bản tiếng Ukraine. Chi phí gấp đôi khiến nhiều tờ báo đóng cửa bản tiếng Nga.

– Mọi quan chức, bác sĩ khu vực công, giáo viên, thẩm phán, cảnh sát… phải có chứng chỉ tiếng Ukraine mới được bổ nhiệm.

– Giáo dục siết chặt dần: Cấp I vẫn học bằng tiếng Nga nếu đó là tiếng mẹ đẻ; Cấp II tăng tỷ lệ tiếng Ukraine từ 20-60%; Cấp III tối thiểu 80%.

– Tuy nhiên, đây không phải lệnh cấm (như người ta đồn). Trong cuộc sống hằng ngày và không gian tôn giáo, tiếng Nga vẫn được nói như thường: từ trên mạng, đến trong nhà, ra ngoài đường. Trong loạt bài này, hầu hết các cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Nga.

Luật ngôn ngữ 2019 bị Đảng Đối lập (thân Nga) kháng cự mạnh mẽ. Một số nghị sĩ thân Nga kiện chính phủ ra tòa. Ủy ban Venice của châu Âu lại tiếp tục chỉ trích CÚ ĐẢO CHIỀU 180 ĐỘ này. Hungary lên án kịch liệt vì có tới 150.000 người Ukraine gốc Hung nói tiếng Nga. Họ tuyên bố sẽ chặn đường Ukraine vào NATO nếu không sửa luật.

Tuy nhiên, người dân phản kháng bằng cách “mặc kệ”. Phép vua thua lệ làng, nhiều nơi chỉ thay đổi về mặt hình thức, còn giao tiếp thực tế ở không gian công cộng như công sở, nhà máy, trường học vẫn dùng tiếng Nga như cũ.

2022: TIẾNG NGA LÀ NGÔN NGỮ CỦA KẺ THÙ

Nhưng cuộc chiến toàn diện năm 2022 đã thay đổi tất cả. Chỉ qua một đêm, bom đạn đã khiến chính sách ngôn ngữ vừa chậm chạp vừa bị phản đối bỗng tăng tốc chóng mặt. Trớ trêu thay, chính Putin chứ không phải chính quyền Ukraine đã tạo ra làn sóng người dân RUỒNG BỎ TIẾNG NGA.

Rất nhiều người nói với tôi rằng họ chỉ mới chuyển sang nói tiếng Ukraine từ khi cuộc chiến bắt đầu.

Một giám đốc ở Khmelnytsky chia sẻ rằng vì hai ngôn ngữ khá tương đồng (kiểu tiếng Pháp và tiếng Ý) nên chỉ cần mất chừng 6 tháng để toàn bộ nhân viên và dây chuyền sản xuất đổi sang tiếng Ukraine.

Cô kể: “Mới đầu các đối tác của tôi rất sốc khi thấy email bằng tiếng Ukraine. Có ông cứ viết bằng tiếng Nga, tôi trả lời bằng tiếng Ukraine. Thế rồi hàng xóm ông ấy bị bom đánh sập nhà. Sáng hôm sau, email của ông ấy là tiếng Ukraine”.

“Tôi quay lại nói tiếng Ukraine ngay sau khi Nga xâm lược” – một cựu chiến binh thời Liên Xô kể – “Cứ như một cuộc cách mạng văn hóa vậy, hàng triệu người từ chối nói tiếng Nga, dù đó là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Tổng thống Zelenskiy cả đời nói tiếng Nga cũng chuyển sang tiếng Ukraine. Ông ấy nói sai rất nhiều.

Thậm chí người già cũng đổi. Vợ tôi bảo Nga là quân xâm lược, nói tiếng Nga chỉ tổ ‘bẩn miệng’. Bà ấy còn không muốn gõ chữ ‘ы’ trên bàn phím (ký tự chỉ có trong tiếng Nga).

Thế là tôi cũng phải đổi. Tôi phát hoảng khi thấy mình đã bị Nga hóa đến mức quên cả tiếng mẹ đẻ. Khi cô nói ‘cảm ơn’ bằng tiếng Ukraine, tôi vừa xấu hổ, vừa xúc động. Tại sao một cô gái xa lạ lại tôn trọng tiếng nói của tôi hơn chính bản thân tôi?”

THÓI QUEN KHÓ BỎ

“Chú còn nói tiếng Nga không?”

“Có chứ. Nhưng chỉ khi cãi nhau với vợ thôi. Tức quá thì chỉ muốn phun ra thật nhanh cho bõ tức.”

“Ông ấy còn nói chuyện với… chó bằng tiếng Nga nữa” – Bà vợ ngồi cạnh bật cười chêm vào – “Chó mèo thì nói tiếng gì chẳng được. Miễn vuốt ve là nó thích.”

Ở Khmelnytsky, một tình nguyện viên thú thật với tôi: “Giúp Mai phiên dịch vất vả lắm, vì não tôi phải qua 3 bước: Nghĩ bằng tiếng Nga → chuyển sang tiếng Ukraine → dịch sang tiếng Anh. Thế nên tôi phản ứng chậm. Mai kiên nhẫn nhé.”

Tôi nhanh chóng nhận ra, vào thời điểm 2025, bất chấp luật ngôn ngữ và phong trào tự nguyện đổi tiếng, ngôn ngữ xã hội chủ đạo ở Ukraine vẫn là tiếng Nga. Hầu như tất cả các kênh telegram (mạng xã hội) mà tôi theo dõi viết bằng tiếng Nga, nhất là vùng miền Đông.

Nhiều lần tôi nói “cảm ơn” bằng tiếng Ukraine khiến những nhân viên ở siêu thị và bảo tàng… giật nảy mình. Tôi thường nháy mắt một cái. Họ ngạc nhiên khi thấy một cô gái châu Á nói tiếng Ukraine. Họ bẽn lẽn cười như ngầm bảo: “Ok, tôi biết rồi.”

Ở Odesa, khi thấy một nhà khảo cổ nói tiếng Nga, tôi trêu: “Ơ kìa, đây là viện bảo tàng, chị phải nói tiếng Ukraine chứ?” Oksana cười xòa: “Biết vậy mà khó quá. Cả đời mình đã nói tiếng Nga.” Rồi cô rơm rớm nước mắt: “Đau lòng lắm. Vì tôi đang dùng tiếng nói của kẻ thù. Vì chúng tôi nói tiếng Nga mà cuộc chiến này nổ ra. Vì tiếng Nga mà chồng tôi phải ra trận.”

Ảnh tôi chụp cùng Oksana. Nhờ một ông bảo vệ chụp nhưng ông không quen nên ảnh nào cũng bị vướng ngón tay che ống kính điện thoại.

BÀI TIẾNG NGA CỰC ĐOAN

Tuy nhiên, bom đạn khiến nhiều người thù Nga đến mức “ghét ai ghét cả tông ti họ hàng”. Từ chối nói tiếng Nga một cách lịch sự chưa đủ, họ cho rằng ai (vẫn còn) nói tiếng Nga là không yêu nước.

Một Việt kiều cho rằng trong bối cảnh chiến tranh thì điều này có thể hiểu được. Anh so sánh như sau:

“Việt Nam và Trung Quốc hết đánh nhau lâu rồi, nhưng tâm lý bài Tàu vẫn rất mạnh, vì đó là kẻ thù truyền kiếp. Hồi có ý kiến đưa tiếng Trung thành ngoại ngữ ở cấp phổ thông, tôi nhớ người ta rầm rầm phản đối.

Nghệ sĩ Trấn Thành nói tiếng Việt, đóng góp hàng tỷ tiền cứu trợ, làm ra bao chương trình hay. Thế mà còn bị chửi là ‘mong gì một thằng GỐC HOA lấy vợ Hàn có lòng yêu nước?’ Thử tưởng tượng nếu bây giờ Trung Quốc ném bom tàn phá Việt Nam thì văn hóa người Hoa có thoát khỏi kỳ thị không?”

Tương tự, cuộc chiến ở Ukraine đã tạo ra những “cảnh sát ngôn ngữ cực đoan”. Có những bồi bàn bị mắng vì không chào bằng tiếng Ukraine. Có giáo viên bị học sinh quay video vì lỡ dùng tiếng Nga.

Một kỹ sư ở Odesa khẳng định với tôi rằng “Không nói tiếng Ukraine thì không phải người Ukraine”. Một giáo sư tuyên bố những người lính ở tiền tuyến “Không chiến đấu vì Ukraine nếu họ nói tiếng Nga”, vì “người yêu nước phải nói ngôn ngữ của dân tộc”.

Ở Kyiv, tôi trò chuyện với một cô bé 15 tuổi, con một nhân viên làm ở Đại sứ quán Việt Nam. Bé nói tiếng Việt ở nhà, tiếng Nga ở trường, tiếng Ukraine khi cần và tiếng Anh với tôi.

Thấy bé giỏi quá, tôi hỏi thì bé kể rằng chiến tranh khiến nhiều bạn tẩy chay tiếng Nga. Thậm chí có bạn bảo “Mày cứ nói tiếng Việt đi tao còn thấy dễ chịu hơn.” Tiếng Anh được các bé chọn vì nó trung tính nhất. Tiếng Surzhyk cũng là một giải pháp vì ai cũng hiểu.

Rồi bé kể tiếp rằng nhiều bạn vứt hoặc đốt hết sách tiếng Nga. Có cô giáo tiếc của, cho bé rất nhiều sách cũ. Bé không nỡ từ chối, lại sợ sách bị đốt nên đem về. Bé bảo tôi đứng dậy. Hóa ra cô bé không biết để đâu nên nhét hết sách tiếng Nga dưới gầm ghế sô-pha.

Một trường học dưới lòng đất để tránh bom ở Kharkiv

Tương tự, Andrzej Ludek – một doanh nhân Ba Lan – kể rằng ông và các đối tác Ukraine đều thành thạo tiếng Nga. Tuy nhiên, khi làm việc, các đối tác Ukraine đã chọn nói tiếng Ba Lan (hoặc tiếng Anh) để giao tiếp với ông vì không muốn nói tiếng Nga.

Khi Andrzej tổ chức hòa nhạc quyên góp cho tiền tuyến ở Ba Lan, những nghệ sĩ Ukraine đang tị nạn ở đây đã từ chối vì trong chương trình có một cô bé hát tiếng Nga. Bài hát có câu “người lớn ơi, đừng đánh nhau nữa”. Nhưng vì hát bằng tiếng Nga nên nó trở thành “tiếng nói của kẻ thù” chứ không còn là “ca khúc phản chiến”.

“Con bé bị loại khỏi chương trình. Nó mới 10 tuổi. Làm sao giải thích cho nó hiểu đây?”

Rồi Andrzej tìm video bài hát phóng lên màn hình lớn trong văn phòng. Trên nền hoa mang màu cờ Ukraine, bé Zarinka có khuôn mặt bầu bĩnh, cái môi cong vênh vô cùng đáng yêu. Bé hát bài “Отмените войну”, tiếng Nga có nghĩa là “Ngừng chiến”. Tôi quay sang nhìn Andrzej và thấy mắt ông đỏ hoe.

Ảnh ông Andrzej với cái thìa nấu ăn. Ông là chủ doanh nghiệp, nhưng nấu súp rất giỏi. Ông xuất bản một cuốn sách với hàng trăm món súp trên thế giới, trong đó có cả các món bún phở của Việt Nam.

Ở Odesa, bạn bè kết nối tôi với một giáo sư sử học. Tuy nhiên, bà đã từ chối lời hẹn gặp: “Tôi rất bận, không tiếp cô được.” Rồi bà nhắn thêm: “Nhân tiện, cô viết tên thành phố của tôi sai rồi. Odesa chỉ có một chữ ‘s’. Hai chữ ‘s’ (Odessa) là phiên âm theo tiếng Nga.”

Tôi vội vàng xin lỗi và xác nhận rằng, theo phiên âm tiếng Ukraine, Kharkov → Kharkiv, Lvov → Lviv, Kiev → Kyiv. Nhưng bà vẫn từ chối gặp tôi.

Thấy tôi buồn, một doanh nhân an ủi: “Bà đó cực đoan. Tôi vẫn viết Odessa hai chữ ‘s’. Gia đình tôi 6 đời ở đây. Tôi nói tiếng Nga nhưng sẽ chống Nga đến hơi thở cuối cùng. Chỉ đám cực đoan mới đánh đồng lòng yêu nước với tiếng Ukraine.”

Chàng trai tình nguyện ở Khmelnitsky cũng giải thích thêm: NGÔN NGỮ và DANH TÍNH là hai khái niệm khác nhau. Người Mexico nói tiếng Tây Ban Nha nhưng đánh Tây Ban Nha giành độc lập. Người Đài Loan nói tiếng Trung nhưng đâu muốn là một phần đại lục? Người Mỹ, Ireland và Scotland nói tiếng Anh nhưng viết lịch sử bằng máu với người Anh.”

NỘI CHIẾN VĂN HÓA

Ở Odesa, tôi gặp một vài người thoạt tiên chạy tị nạn khỏi miền Đông. Sau khi thấy tiếng Nga bị tẩy chay các nơi khác ghê quá, họ lại quay về vùng phía Đông, dù nơi này bị Nga đánh bom ác liệt hơn.

Họ phải chạy tị nạn hai lần. Một lần trốn bom đạn Nga, một lần trốn áp lực của hàng xóm, bạn bè và đồng nghiệp. Lần thứ nhất là cuộc chiến vật lý chống ngoại xâm, lần thứ hai là cuộc nội chiến văn hóa với chính đồng bào mình.

Một phụ nữ lớn tuổi từ Mariupol nói với tôi rằng bà từng là biên tập viên văn học Nga và rất yêu văn hóa Nga. Tuy nhiên, khi chạy loạn tới Kyiv, việc bà không che giấu tình yêu ấy khiến những người hàng xóm bị tổn thương. Họ gây sức ép khiến anh chủ người Việt đang cưu mang bà phải mời bà ra khỏi nhà và đi ở nơi khác. Họ bảo: “Chính vì những người như bà nên mới có cuộc chiến này.”

Khi nói chuyện với tôi, giọng bà hiền dịu nhưng đầy thách thức: “Đương nhiên là tôi nói được tiếng Ukraine chứ. Nhưng tôi CỐ TÌNH KHÔNG NÓI ĐẤY. Không ai ép tôi được hết.”

Thái độ phản kháng ấy lặp lại với một cô gái gốc Việt ở Odesa. Cô nói được tiếng Ukraine nhưng kiên quyết chỉ nói tiếng Nga. Lý do của cô là “phải nói tiếng Nga để người ngoài hiểu rằng KHÔNG PHẢI VÌ CÁI NGÔN NGỮ MÀ ĐÁNH NHAU”.

Giáo sư Anastasia Piliavsky là một trong những tiếng nói phản biện mạnh mẽ từ Odesa. Cô cho rằng việc kỳ thị tiếng Nga khiến đất nước bị chia cắt nặng nề:

“Người miền Đông nói tiếng Nga là những người chống Nga kiên cường nhất. Họ cũng là những người chịu thiệt hại nặng nề nhất trong cuộc chiến này. Từ những ngày đầu tiên, Odesa đã gọi tên Nga là kẻ xâm lược. Ở chiến hào, lính tráng vẫn nói tiếng Nga. Thật vô đạo đức khi những kẻ yên ấm ở hậu phương dám xúc phạm người đang đổ máu ở chiến trường chỉ vì họ nói tiếng Nga. Nếu những người lính ấy buông súng, thử hỏi cái đám ấy sẽ nói tiếng Ukraine kiểu gì khi đất này đã trở thành đất của Nga?”

Tuy nhiên, rất nhiều người nhấn mạnh rằng, những kẻ bài tiếng Nga cực đoan chỉ là thiểu số. Vấn đề là họ to mồm và hung hăng. Thay vì “khẩu súng”, họ coi “ngôn ngữ” là vũ khí.

Tôi nhớ đến Maxim – chàng võ sĩ đấm bốc ở Odesa không dám đi lính nhưng đã khóc vì biết mình hèn nhát (bài 4). Một lần thấy đám trẻ con hát tiếng Nga để quay TikTok, anh điên tiết muốn tẩn cho bọn nó một trận. Nắm đấm lẽ ra dành cho kẻ thù suýt nữa thành vũ khí để anh bắt nạt lũ con nít.

Và máu đã đổ trong cuộc “nội chiến văn hóa” mà Anastasia mô tả.

Một nghị sĩ cực đoan tên là Iryna Farion đã chỉ trích binh sĩ của Lữ đoàn Azov rằng họ “không phải là người Ukraine nếu không nói tiếng Ukraine. Cùng lắm chỉ là người Nga có tư cách công dân Ukraine thôi.”

Lính tráng và sinh viên phẫn nộ tột độ. Họ đòi bà bị sa thải. Một năm sau (2024), bà bị một thanh niên 18 tuổi ám sát. Cậu ta ra tay không phải vì ủng hộ nước Nga, mà vì bà đã “xúc phạm người lính và gây chia rẽ nội bộ”.

Như vậy, ngôn ngữ và văn hóa Nga trở thành nạn nhân (sau cuộc chiến) chứ không hẳn là nguồn gốc (khởi đầu) cuộc chiến. Nỗi sợ “tụt hạng văn hóa” là có thật trong tâm trí nhiều người muốn giữ tiếng Nga.

Bom đạn khiến cực đoan đẻ ra cực đoan. Nó góp phần đẩy những người yêu nước theo kiểu khác nhau quay ra tấn công lẫn nhau.

THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY

Khi loạt bài này ra mắt, một bạn đọc người Việt nhận xét rằng Ukraine giống như nhân vật Pavel Korchagin trong tác phẩm kinh điển của văn học Liên Xô “Thép đã tôi thế đấy”.

Nhưng khi tôi hỏi thì ai cũng phủ nhận, thậm chí bực mình khi Ukraine bị so sánh với một “biểu tượng tuyên truyền” của Xô-viết – thứ mà họ muốn cắt bỏ.

Duy nhất một nhà sử học đồng tình.

“Pavel là người Ukraine. Anh trưởng thành qua sự khốc liệt cả về tinh thần lẫn thể xác. Đất nước này cũng vậy. Ukraine xây dựng bản sắc trên những CHẤN THƯƠNG. Đó là ‘Nga hóa’, là nạn đói Holodomor, là Chernobyl, là cuộc chiến hiện tại.

Nhưng để làm cách mạng, Pavel phải cực đoan với tư duy nhị nguyên. Anh ta nhìn thế giới chỉ có bạn hoặc thù. Ukraine cũng vậy. Nếu không có cuộc chiến này, quá trình ‘thoát Nga’ sẽ mưa dầm thấm lâu mất hàng chục năm. Bom đạn chính là lò lửa cực đoan khiến một số người chỉ nhìn thấy hai màu trắng đen.

Luật lệ chỉ là phần nhỏ thôi. Chính người dân vì thù Nga quá nên cái gì dính đến Nga cũng thành xấu xí và ghê tởm. Bom đạn đã khiến chúng tôi ‘thoát Nga’ như những người cộng sản năm xưa ‘thoát Sa hoàng’. Cũng đập phá tan tành trật tự cũ, đổi tên, xây mới, chụp mũ nhau là giặc”.

Tâm sự của nhà sử học khiến tôi nhớ tới một cô giáo ở Lviv. Cô bảo Ukraine đã bị “Nga hóa” quá lâu. Để xây dựng danh tính Ukraine có bản sắc riêng, họ buộc phải GIẾT CHẾT MỘT PHẦN THÂN THỂ MÌNH.

“Cô ấy nói đúng đấy” – nhà sử học trả lời – “Chúng tôi phải đoạn tuyệt với văn hóa và ngôn ngữ Nga, cũng như Pavel phải đoạn tuyệt với cả hai người con gái anh yêu tha thiết. Người thứ nhất vì khác biệt giai cấp, người thứ hai vì anh sợ tình yêu sẽ làm mình xao nhãng lý tưởng cách mạng.”

“Nhưng nếu định nghĩa ‘UKRAINE = KHÔNG PHẢI NGA’ thì đất nước sẽ bị chia cắt từ bên trong. Ukraine là một quốc gia đa văn hóa. Người nói tiếng Nga đã và sẽ mãi là một phần máu thịt của dân tộc này. Họ nói tiếng Nga nhưng chính họ đang đổ máu bảo vệ Ukraine”.

Ảnh: Nhân vật Pavel trong poster thời Xô-viết.

CÂY CẦU GỖ LIỄU

“Tương lai Ukraine sẽ ra sao?” – tôi hỏi.

“Tôi không muốn Ukraine là thép. Tôi luyện trong lò lửa chiến tranh xong nó sẽ trở nên cứng rắn nhưng lạnh lùng. Ukraine sẽ là MỘT BÀI DÂN CA.

Bản sắc Ukraine vẫn sống âm ỉ suốt mấy trăm năm qua là nhờ hàng triệu nông dân hát dân ca. Người Ukraine hát dân ca cũng rất lạ, nhiều bè cao thấp, mới nghe chênh phô nhau, thậm chí hơi chói tai. Nhưng cuối cùng đều hòa quyện và ngân dài cùng nhau ở đoạn cuối.

Dân ca là linh hồn và tính cách của dân tộc này. Những kẻ cực đoan muốn tất cả phải hát cùng một giọng của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Nhưng khi tiếng súng ngưng, tôi tin người ta sẽ nhận ra rằng, để một bài dân ca kiểu Ukraine sống được, nó cần mọi thanh âm, kể cả tông giọng của những kẻ đã từng lạc nhịp vì lịch sử.”

“Anh muốn nhắn gì với độc giả loạt bài này?”

“Tôi cảm ơn những người Việt đã lắng nghe tiếng nói từ Ukraine. Tôi xin tặng các bạn bài dân ca ‘Cây cầu gỗ liễu’ (Verbovaya Dooshchechka). Người Ukraine chúng tôi thường múa điệu này bằng cách dệt tay vào nhau thành một cây cầu mềm mại nhưng chắc chắn. Rồi một em bé sẽ được nâng lên để đi qua cầu. Em bé là biểu tượng của hy vọng, hàn gắn, và khởi đầu mới”.

“Nastochka em đang ở đâu? Em đang đi qua cây cầu gỗ liễu. Em chạy đến nơi rừng cây bốc cháy. Em dùng xô xách nước dập lửa.

Này Nastochka em có hay chăng? Bao nhiêu giọt nước là bấy nhiêu dòng sự thật”.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.