Hiện Hữu, như một sự bừng nhuỵ đơm hoa (*)

(Mario Vargas Llosa, Nobel Văn Chương 2010, bàn về Viết, Cuộc Đời, Nghệ Thuật, Văn Chương, v.v.)

Bùi Vĩnh Phúc dịch

 

“Nhà văn là kẻ trừ tà những con quỷ của chính mình.”

(García Márquez: Historia de un deicidio, 1971)

“Ấn tượng của tôi là cuộc sống – một từ lớn lao, tôi biết – gây ra những chủ đề cho nhà văn thông qua những trải nghiệm nhất định, những trải nghiệm này in sâu vào ý thức hoặc tiềm thức của anh ta và sau đó buộc anh ta phải giải thoát bản thân bằng cách biến chúng thành những câu chuyện.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

 “Dù phù du đến đâu, một tiểu thuyết vẫn là một thứ gì đó, trong khi sự tuyệt vọng thì không là gì cả.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Tôi học đọc từ năm lên năm, trong lớp của thầy Justiniano tại Học viện De la Salle ở Cochabamba, Bolivia. Đây là điều quan trọng nhất từng xảy đến với tôi. Gần bảy mươi năm sau, tôi vẫn nhớ rõ phép màu của việc chuyển biến những từ ngữ trong sách thành ra hình ảnh đã làm phong phú thêm cuộc sống của tôi, phá vỡ những rào cản về thời gian và không gian, cho phép tôi cùng thuyền trưởng Nemo du hành hai mươi ngàn dặm dưới đáy biển, cùng d’Artagnan, Athos, Portos và Aramis chống lại những âm mưu đe dọa Nữ hoàng trong thời kỳ Richelieu bí ẩn, hay loạng choạng vượt qua những đường cống ngầm ở Paris, hóa thân thành Jean Valjean cõng thân thể bất động của Marius trên lưng.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Một cuốn sách mở là một tâm trí biết nói; một cuốn sách đóng là một người bạn đang chờ đợi; một cuốn sách bị lãng quên là một tâm hồn biết tha thứ; một cuốn sách bị phá hủy là một trái tim đang khóc.”

(La fiesta del Chivo, 2000)

“Cảm hứng không hề tồn tại. Có lẽ nó là thứ dẫn lối cho đôi tay của các nhà điêu khắc và họa sĩ, đưa hình ảnh và nốt nhạc đến tai các nhà thơ và nhạc sĩ, nhưng nó không bao giờ đến với tiểu thuyết gia: nhà văn hoàn toàn bị các nàng thơ lãng quên và buộc phải thay thế sự từ chối hợp tác đó bằng sự bướng bỉnh, lao động và kiên nhẫn.”

(Historia Secreta de Una Novela, 1966 / Secret story of a novel, 1971)

“Việc tìm kiếm tự do chỉ đơn giản là một phần của cuộc tìm kiếm rộng lớn hơn một thế giới mà sự tôn trọng pháp quyền và nhân quyền là phổ quát – một thế giới không còn độc tài, khủng bố, hiếu chiến và cuồng tín, nơi nam nữ thuộc mọi quốc tịch, chủng tộc, truyền thống và niềm tin có thể cùng chung sống trong nền văn hóa tự do, nơi các biên giới nhường chỗ cho những cây cầu mà mọi người vượt qua để đạt được mục tiêu của mình, những mục tiêu chỉ bị giới hạn bởi ý chí tự do và sự tôn trọng quyền của nhau. Đó là cuộc tìm kiếm mà tôi đã dành trọn tâm huyết trong việc viết, và rất nhiều người đã chú ý đến. Nhưng chẳng phải đó là cuộc tìm kiếm mà tất cả chúng ta nên dành trọn cuộc đời mình hay sao? Câu trả lời sẽ rõ ràng khi chúng ta nhìn thấy những gì đang bị đe dọa.”

(Confessions of a Liberal, Acceptance Speech of the Irving Kristol Award, 2005)

“[Những người nhập cư] đến từ bất cứ nơi nào có nạn đói, thất nghiệp, áp bức và bạo lực, và đã lén lút vượt biên giới của các quốc gia thịnh vượng, hòa bình và giàu cơ hội, chắc chắn là đang vi phạm pháp luật, nhưng họ đang thực hiện một quyền tự nhiên và đạo đức mà không có chuẩn mực pháp lý hay quy định nào nên cố gắng loại bỏ: quyền được sống, quyền được tồn tại, quyền thoát khỏi sự tồn tại địa ngục mà họ bị các chế độ man rợ áp bức trên một nửa bề mặt trái đất.”

(The Language of Passion: Selected Commentary, 2003)

“Một sự bổ sung không thể thiếu cho tính kỳ lạ trong những truyện của ông [Borges] là sự uyên bác, những mảnh kiến ​​thức chuyên ngành, thường là văn chương, nhưng cũng có cả ngữ văn, lịch sử, triết học, hay thần học. Kiến thức này, vốn gần gũi nhưng không bao giờ vượt quá ranh giới của tính hàn lâm hay sự cầu kỳ, được phô trương một cách thoải mái. Nhưng vấn đề không phải là để khoe khoang sự am hiểu sâu rộng của Borges với các nền văn hóa khác nhau. Thay vào đó, nó là một yếu tố then chốt trong chiến lược sáng tạo của ông, với mục đích là nhúng câu truyện vào một sắc màu nhất định, mang đến cho chúng một bầu không khí riêng. Nói cách khác, sự uyên bác của Borges thông qua việc sử dụng các bối cảnh và nhân vật kỳ lạ đã thực hiện một chức năng văn học mang tính độc quyền, bằng cách biến đổi sự uyên bác thành những thứ đôi khi mang tính trang trí, đôi khi mang tính biểu tượng, khiến nó trở nên lệ thuộc vào nhiệm vụ trước mắt. Theo cách này, thần học, triết học, ngôn ngữ học, và các thứ khác nơi Borges mất đi tính chất nguyên bản, mang phẩm chất của hư cấu, và trở thành một phần không thể thiếu của một sự kỳ ảo văn học, được chuyển hóa thành văn học.”

(The Fiction of Jorge Luis Borges, in “Making Waves”, 1996)

“Một trong những lý do tại sao văn học quan trọng là nó cho ta một công cụ để hiểu thời gian. Trong đời thực, thời gian là thứ nuốt chửng ta, là thứ không cho ta góc nhìn cần thiết để hiểu được cái dòng chảy của nó mà ta đang đắm chìm vào; và vì vậy, ta không có góc nhìn, ta không có khoảng cách cần thiết để thực sự hiểu những gì đang diễn ra. Vì vậy, ta cần một trật tự nhân tạo để hiểu thời gian.”

(The Discreet Hero: A Novel, 2015)

“Đó là một trải nghiệm rất bổ ích đối với tôi với tư cách là một nhà văn, bởi vì đó là lần duy nhất tôi cố gắng hoàn toàn trung thực khi viết tiểu thuyết, cố gắng không bịa đặt mà ghi nhớ và tường thuật lại những hồi ức của mình một cách khách quan. Tôi nhận ra rằng điều này là không thể, rằng bạn không thể làm được nếu đang viết tiểu thuyết, rằng tiểu thuyết không tương thích với việc tường thuật khách quan về trải nghiệm sống, rằng có một sự không tương thích cốt yếu giữa hai điều này – tiểu thuyết và một tài liệu sống, một tường thuật khách quan về cuộc sống thực. Tôi liên tục bị chính ký ức của mình dẫn dắt sai lệch. Ký ức của tôi bị bóp méo bởi trí tưởng tượng, bởi sự hoang tưởng của tôi. Tôi cảm thấy có một áp lực vô hình từ sự tưởng tượng của mình buộc tôi phải thay đổi ký ức để có một tài liệu tốt hơn, để cải thiện văn bản tôi đang viết. Mặt khác, những gì tôi cố gắng ghi nhớ và đưa vào tiểu thuyết không phải được đặt trong một chân không mà trong một tiểu thuyết có bối cảnh tưởng tượng, một thế giới kỳ ảo….”

(A Writer’s Reality, 1990)

“Văn học là một sự mô tả sai chệch về cuộc sống, nhưng dù thế nó vẫn giúp chúng ta hiểu cuộc sống tốt hơn, định hướng bản thân trong cái mê cung nơi chúng ta được sinh ra, đi qua, và chết đi. Nó bù đắp cho những thất bại và thất vọng mà đời thực gây ra cho chúng ta, và nhờ có nó, chúng ta có thể giải mã, ít nhất là một phần, những bí mật mà hiện hữu này có xu hướng trở thành đối với đại đa số con người, đặc biệt là những người trong chúng ta vốn tạo ra nhiều nghi ngờ hơn là những điều chắc chắn, và thú nhận sự bối rối của chúng ta trước các chủ đề như sự siêu việt, vận mệnh cá nhân và tập thể, linh hồn, điều ý nghĩa hay cái vô nghĩa của lịch sử, sự qua lại tới lui của hiểu biết lý tính.”

(Literature and Life – Peace Prize of the German Book Trade, 1996)

“Giống như chuyện viết, việc đọc là một sự phản kháng chống lại những thiếu khuyết của cuộc sống. Khi chúng ta tìm kiếm trong hư cấu những gì còn thiếu trong đời thực, chúng ta đang ngầm nói, mà không cần phải thốt ra hay thậm chí là biết điều đó, là cuộc sống như nó vốn có không thỏa mãn được khát vọng tuyệt đối của chúng ta – nền tảng của thân phận con người – và nó cần phải tốt đẹp hơn. Chúng ta tạo ra hư cấu để, bằng cách nào đó, sống được nhiều cuộc đời mà ta khao khát, trong khi chúng ta chỉ có duy nhất một cuộc đời thôi.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Văn học tạo ra một tình huynh đệ trong sự đa dạng của con người và làm mờ đi những ranh giới được dựng lên giữa đàn ông và phụ nữ bởi sự ngu dốt, hệ tư tưởng, tôn giáo, ngôn ngữ và sự ngu xuẩn.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Sự thật thực sự là một chuyện, và sự thật văn chương lại là chuyện khác; và không có gì khó hơn việc muốn cả hai sự thật trùng khớp với nhau.”

(La verdad de las mentiras, 1989)

“Nếu bạn bị giết vì bạn là một nhà văn, đó là biểu hiện cao nhất của sự tôn trọng, bạn biết đấy.”

(Interview, The Paris Review, The Art of Fiction No. 120, 1990)

“Văn học tốt đẹp dựng lên những cây cầu giữa các dân tộc khác biệt, và qua việc khiến chúng ta hân hưởng, đau khổ, hoặc cảm thấy ngạc nhiên, nó đoàn kết chúng ta dưới những ngôn ngữ, tín ngưỡng, thói quen, phong tục và định kiến chia rẽ chúng ta.”

(In Acceptance Speech of the Irving Kristol Award, 2005)

“Một trong những đóng góp quan trọng của văn học trong cuộc sống chúng ta là nó thiết lập một trật tự nhân tạo cho thế giới, cho thời gian, cho không gian, và cho trải nghiệm sống. Đặc biệt, những tác phẩm vĩ đại, những kiệt tác văn học, là những công cụ cho phép chúng ta thích nghi với vực sâu [1] này, với vòng xoáy mà cuộc sống thực tại, trải nghiệm sống thực tại này là. Khi bạn khám phá khả năng tạo ra một cấu trúc thời gian trong một câu chuyện, bạn không chỉ đang làm một điều gì đó vốn là thành tựu nhân tạo của một kỹ năng hình thức, sự thành thạo ngôn ngữ, hay sự thành thạo các kỹ thuật thôi miên người đọc. Bạn cũng đang tạo ra một công cụ mà qua đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cách trải nghiệm hằng ngày, trải nghiệm sống, đang diễn ra trong thực tế. Và vì vậy, sự say mê với thời gian, một đặc điểm riêng biệt của văn học hiện đại, không phải là vô cớ, không phải là giả tạo. Đó là một cách phản ứng với một thực tế mà trong đó chúng ta cảm thấy mình – đặc biệt là trong các xã hội đương đại – hoàn toàn lạc lõng. Chúng ta đang trở nên quá tầm thường, quá nhỏ bé trong thế giới phi thường và không mang tính cá nhân này, và đó là thế giới của các xã hội hiện đại, đến nỗi chúng ta cần một cách để đặt mình vào đó. Sự tổ chức mang tính nhân tạo này mà văn học mang lại cho cuộc sống là thứ giúp chúng ta cảm thấy bớt lạc lõng và bối rối hơn trong cuộc sống thực.”

(Notes on the Death of Culture, 2015)

“Đây là câu hỏi tôi tự hỏi mình mỗi khi một trong những nghiên cứu hoặc quan sát thực địa này thu hút sự chú ý của tôi, và một lần nữa, tôi thấy rằng không hề có sự đề cập nào, ngay cả khi thoáng qua, đến những người kể chuyện lang thang, những người mà với tôi dường như là những hình mẫu tinh tế và quý giá nhất của dân tộc đó, chỉ chiếm một số ít, và trong bất kỳ trường hợp nào, đã tạo nên mối liên hệ tình cảm kỳ lạ giữa người Machiguengas [2] và thiên hướng của riêng tôi (không nói, một cách giản dị, là với chính cuộc sống của riêng tôi).”

(The Storyteller, 1987)

“Đôi khi tôi tự hỏi liệu việc viết lách có phải là một sự xa xỉ mang tính vị kỷ ở những quốc gia như của tôi, nơi có ít độc giả, quá nhiều người nghèo khó và mù chữ, quá nhiều bất công, và nơi văn hóa là một đặc quyền của một thiểu số ít ỏi. Tuy nhiên, những nghi ngờ này chưa bao giờ dập tắt được tiếng gọi theo đuổi mục tiêu trong tôi, và tôi vẫn luôn tiếp tục viết ngay cả trong những giai đoạn mà việc kiếm sống chiếm hết phần lớn thời gian. Tôi tin rằng mình đã làm đúng, vì nếu [giả định rằng] để văn học phát triển, trước tiên cần phải có được một xã hội ở mức văn hóa cao, cần phải có tự do, thịnh vượng và công lý, thì [như thế] văn học sẽ chẳng bao giờ tồn tại. Nhưng nhờ có văn học, nhờ ý thức mà nó định hình, những khao khát và mong mỏi mà nó truyền cảm hứng, và sự vỡ mộng của chúng ta với thực tại khi trở về từ chuyến hành trình đến một thế giới tưởng tượng tươi đẹp, nền văn minh ngày nay ít tàn nhẫn hơn so với thời điểm những người kể chuyện bắt đầu nhân văn hóa cuộc sống bằng các câu chuyện ngụ ngôn của họ.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

Zwei Kamele und ein Esel (tranh của Paul Klee)

“[H]ư cấu không chỉ là một sự giải trí, không chỉ là một bài tập trí tuệ làm sắc bén sự nhạy cảm và đánh thức một tinh thần phê phán nơi con người. Nó là một sự cần thiết tuyệt đối để nền văn minh tiếp tục tồn tại, đổi mới và bảo tồn trong chúng ta những điều tốt đẹp nhất của nhân loại. Để chúng ta không rút lui vào sự hoang dã của sự cô lập, co cụm và cuộc sống không bị giản lược thành chủ nghĩa thực dụng của các chuyên gia, những người nhìn mọi thứ một cách sâu sắc nhưng lại bỏ qua những gì bao quanh, đi trước và tiếp nối những điều đó. Để chúng ta không chuyển từ việc để những cỗ máy ta phát minh để phục vụ mình thành việc làm nô lệ cho chúng. Và bởi vì một thế giới không có văn học sẽ là một thế giới không có niềm khát khao, lý tưởng hay sự bất kính, một thế giới của những cỗ máy tự động bị tước đoạt đi thứ làm cho con người thực sự là con người: khả năng bước ra khỏi bản thân và đi vào một người khác, đi vào những người khác, được hình mẫu hoá bằng đất sét từ những giấc mơ của chúng ta.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“[S]ống là chuyện xứng đáng để ta nỗ lực, ít ra chỉ vì nếu không có cuộc sống, chúng ta không thể đọc hay tưởng tượng ra những câu chuyện.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Chúng ta sẽ sống tồi tệ hơn hiện tại nếu không có những cuốn sách hay mà chúng ta đã đọc, sẽ dễ tuân thủ trong sự đồng phục hơn, ít bồn chồn hơn, ngoan ngoãn phủ phục hơn, và tinh thần phê phán – động cơ cho tiến bộ – thậm chí sẽ không tồn tại.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Đó là lý do tại sao hư cấu ra đời: để, thông qua việc sống cuộc đời gián tiếp, thoáng qua, bấp bênh, nhưng cũng đầy đam mê và hấp dẫn mà hư cấu đưa chúng ta đến, chúng ta có thể kết hợp điều không thể vào điều có thể và sự hiện tồn của chúng ta có thể là vừa thực tế vừa phi thực, vừa lịch sử vừa ngụ ngôn, vừa cuộc sống cụ thể vừa cuộc phiêu lưu kỳ ảo.”

(The Temptation of the Impossible: Victor Hugo and Les Misérables, 2007)

“Hãy đọc liên tục, bởi vì không thể có được một ý thức phong phú, trọn vẹn về ngôn ngữ mà không đọc nhiều tác phẩm văn học hay, và hãy cố gắng hết sức – dù điều này không hề dễ dàng – để không bắt chước phong cách của các tiểu thuyết gia mà bạn ngưỡng mộ nhất và là những người đầu tiên dạy bạn yêu văn học.”

(Cartas a un joven novelista, 1997)

“Đời là một cơn bão kinh hoàng, một cuộc náo loạn điên khùng, mà nghệ thuật là chiếc ô duy nhất của chúng ta.”

(Interview, Artsnight, BBC Channel, 2015)

“Đó là một điều tôi chắc chắn giữa vô vàn những điều không chắc chắn của mình về thiên hướng văn chương: sâu thẳm bên trong, một nhà văn cảm thấy rằng viết lách là điều tuyệt vời nhất từng xảy ra với mình, hoặc có thể xảy ra cho mình, bởi vì đối với họ, viết lách là cách sống tốt nhất có thể, bất kể những phần thưởng về xã hội, chính trị, hay tài chính mà họ có thể đạt được qua nó.”

(Cartas a un joven novelista, 1997)

“Ký ức là một cái bẫy, thuần túy và đơn giản; nó thay đổi, nó sắp xếp lại quá khứ một cách tinh tế để phù hợp với hiện tại.”

(The Storyteller, 1987)

“Cách mạng sẽ giải phóng xã hội khỏi những đau khổ của nó, trong khi khoa học sẽ giải phóng cá nhân khỏi những đau khổ của anh ta.”

(The War of the End of the World, 1981)

“Đọc sách đã biến giấc mơ thành cuộc sống và cuộc sống thành giấc mơ.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Nhiệm vụ của nhà văn là viết với sự nghiêm cẩn, với sự tận tâm, để bảo vệ những gì họ tin tưởng bằng tất cả tài năng họ có. Tôi nghĩ đó là một phần của nghĩa vụ đạo đức của một nhà văn, cái nghĩa vụ vốn không thể chỉ thuần túy là nghệ thuật. Tôi nghĩ một nhà văn có một trách nhiệm nào đó, ít nhất là tham gia vào các cuộc tranh luận dân sự. Tôi nghĩ văn học sẽ nghèo đi, nếu nó bị cắt khỏi những gì gắn bó chính với con người, với xã hội, với cuộc sống.”

(Speech at National Book Festival, 2010)

“Đọc văn học hay là một trải nghiệm của niềm vui… nhưng nó cũng là một trải nghiệm học hỏi về việc chúng ta là gì và làm thế nào chúng ta đã ra như thế, trong sự toàn vẹn của nhân loại và những thiếu khuyết của con người, với những hành động, ước mơ và những ma quỷ của chúng ta, lúc cô đơn và trong những mối quan hệ gắn kết chúng ta với người khác, trong hình ảnh bày ra của chúng ta trước mắt mọi người và trong những góc khuất bí mật của ý thức mình.”

(Pourquoi La Littérature?, 2001)

“Viết truyện không hề dễ dàng. Khi chúng được chuyển thành từ ngữ, các dự án héo tàn trên giấy và các ý tưởng, hình ảnh thất bại. Làm thế nào để hồi sinh chúng? May mắn thay, những bậc thầy luôn ở đó, những người thầy để học hỏi và những tấm gương để noi theo. Flaubert dạy tôi rằng tài năng là sự kỷ luật sắt đá và sự kiên nhẫn lâu dài. Faulkner dạy rằng hình thức – cách viết và cấu trúc – nâng cao hoặc làm nghèo nàn chủ đề. Martorell, Cervantes, Dickens, Balzac, Tolstoy, Conrad, Thomas Mann dạy rằng phạm vi và tham vọng trong một cuốn tiểu thuyết cũng quan trọng như sự khéo léo về văn phong và chiến lược kể chuyện. Sartre dạy rằng từ ngữ là hành động, rằng một cuốn tiểu thuyết, một vở kịch, hay một bài tiểu luận, nếu gắn kết với thời điểm hiện tại và những lựa chọn tốt đẹp hơn, có thể thay đổi dòng chảy của lịch sử. Camus và Orwell dạy rằng một nền văn học bị tước đoạt đạo đức là một nền văn học vô nhân, và Malraux dạy rằng chủ nghĩa anh hùng và sử thi vẫn có thể xảy ra trong hiện tại, như thời của những người Argonauts, Odyssey và Iliad.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Tôi mười một tuổi, và từ khoảnh khắc đó, mọi thứ đã thay đổi. Tôi mất đi sự ngây thơ và khám phá ra nỗi cô đơn, quyền uy, cuộc sống người lớn và sự sợ hãi. Sự cứu rỗi của tôi là việc đọc sách, đọc những cuốn sách hay, ẩn mình trong những thế giới mà cuộc sống thật huy hoàng, mãnh liệt, một cuộc phiêu lưu này nối tiếp bằng một cuộc phiêu lưu khác, nơi tôi có thể cảm thấy tự do và hạnh phúc trở lại. Và đó là việc viết lách, trong bí mật, giống như người du mình vào một thói hư tật xấu không thể nói ra, một niềm đam mê bị cấm đoán. Văn học không còn là một trò chơi. Nó trở thành một cách chống lại nghịch cảnh, là phản đối, là nổi loạn, thoát khỏi điều không thể chịu đựng được, lý do để tôi sống. Từ đó cho đến nay, trong mọi hoàn cảnh khi tôi cảm thấy nản lòng hoặc gục ngã, bên bờ vực tuyệt vọng, việc dâng hiến cả thân xác và tâm hồn cho công việc kể chuyện của mình đã là ánh sáng cuối đường hầm, là tấm ván đưa người gặp nạn dạt vào bờ.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Mặc dù nó [việc viết] rất khó khăn và buộc tôi phải đổ mồ hôi máu, và giống như mọi nhà văn, đôi khi cảm thấy mối đe dọa của sự tê liệt, một mùa khô cằn của trí tưởng tượng, nhưng không có gì khiến tôi tận hưởng cuộc sống nhiều bằng việc dành hàng tháng, hàng năm để xây dựng một câu chuyện, từ những khởi đầu không chắc chắn, những hộc tủ đầy ứ hình ảnh về một trải nghiệm đã sống trở thành một sự bồn chồn, một nhiệt hứng, một giấc mơ ban ngày rồi nảy mầm tẻ nụ thành một dự án và quyết định cố gắng chuyển đám mây hỗn loạn của những bóng ma thành một câu chuyện. ‘Viết là một cách sống,’ Flaubert đã nói. Vâng, chắc chắn là thế, một cách sống với ảo tưởng và niềm vui, và một ngọn lửa bùng cháy trong đầu anh, chiến đấu với những từ ngữ khó nắm bắt cho đến khi anh làm chủ chúng, khám phá thế giới rộng lớn như một thợ săn đang theo dõi con mồi đáng thèm muốn để nuôi dưỡng một hư cấu đang trong giai đoạn phôi bào và xoa dịu cơn thèm ăn không đáy của mọi câu chuyện mà, khi lớn lên, nó muốn nuốt chửng mọi câu chuyện khác. Bắt đầu cảm thấy sự chóng mặt mà một cuốn tiểu thuyết đang thành hình dẫn đến, khi nó bắt đầu có hình dạng và dường như bắt đầu tự sống, với những nhân vật di chuyển, hành động, suy nghĩ, cảm nhận và đòi hỏi sự tôn trọng, sự cân nhắc, những người mà anh không còn có thể tùy tiện áp đặt hành vi hoặc tước đoạt ý chí tự do của họ mà không giết chết họ, mà không làm cho câu chuyện mất đi sức thuyết phục – đây là một trải nghiệm tiếp tục mê hoặc tôi như lần đầu tiên, trọn vẹn và làm choáng váng như việc làm tình với người phụ nữ anh yêu trong nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, không ngừng nghỉ.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Tại sao bất cứ ai hoàn toàn hài lòng với thực tại, với cuộc sống thực như nó đang diễn ra, lại dành hết tâm trí cho một việc phù phiếm và kỳ ảo như việc sáng tạo ra những thực tại hư cấu? Đương nhiên, những người nổi loạn chống lại cuộc sống như nó vốn có, sử dụng khả năng của mình để phát minh ra những cuộc đời và những con người khác biệt, có thể làm như vậy vì vô số lý do, đáng trọng hay đáng khinh, hào phóng hay ích kỷ, phức tạp hay tầm thường. Bản chất của sự nghi vấn cơ bản về thực tại này, mà theo tôi nằm ở trung tâm của mọi thiên hướng văn chương, không hề quan trọng. Điều quan trọng là sự từ chối phải đủ mạnh mẽ để thúc đẩy lòng nhiệt thành cho một nhiệm vụ điên rồ như việc chiến đấu với cối xay gió – sự thay thế ảo diệu lạ lùng cái thế giới khách quan, cụ thể của cuộc sống mà ta đang sống bằng cái thế giới tinh tế và phù du của hư cấu.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Một người không đọc, hoặc đọc ít, hoặc chỉ đọc những thứ sách rác, là một người có một trở ngại: anh ta có thể nói nhiều nhưng sẽ nói được ít, bởi vì vốn từ vựng của anh ta thiếu phương tiện để tự diễn đạt. Đây không chỉ là một hạn chế về ngôn từ. Nó còn biểu hiện một giới hạn trong trí tuệ và trí tưởng tượng. Đó là một sự nghèo nàn về tư tưởng, vì một lý do đơn giản là các ý tưởng, các khái niệm mà qua đó chúng ta nắm bắt được bí mật của thân phận mình, không tồn tại tách rời khỏi từ ngữ.”

(Why Literature?, 2001)

“Sự thật là, dù ở mức độ ít hơn, tất cả các tác phẩm hư cấu đều khiến độc giả của mình sống ‘điều bất khả’, đưa họ ra khỏi bản thân, phá vỡ các rào cản, và khiến họ chia sẻ, bằng cách đồng cảm với các nhân vật của ảo ảnh, một cuộc sống phong phú hơn, mãnh liệt hơn, hoặc ti tiện và bạo lực hơn, hoặc đơn giản là khác biệt so với cuộc sống mà họ bị giam cầm bởi cái ngục tù có độ an toàn cao là đời thực. Hư cấu tồn tại vì lý do này. Bởi vì chúng ta chỉ có một cuộc đời, và những ham muốn cùng mộng ảo của chúng ta đòi hỏi cả ngàn cuộc đời. Bởi vì cái vực thẳm giữa việc chúng ta là ai và việc chúng ta muốn trở thành ai phải được bắc cầu bằng một cách nào đó. Đấy chính là lý do tại sao hư cấu ra đời: để, thông qua việc sống cuộc đời gián tiếp, thoáng qua, bấp bênh, nhưng cũng đầy đam mê và hấp dẫn mà hư cấu đưa chúng ta đến, chúng ta có thể kết hợp điều không thể vào điều có thể và sự tồn tại của chúng ta có thể vừa là thực tế vừa là phi thực, vừa là lịch sử vừa là ngụ ngôn, vừa là cuộc sống cụ thể vừa là cuộc phiêu lưu kỳ thú.”

(The Temptation of the Impossible: Victor Hugo and Les Misérables, 2007)

“Nhà tiểu thuyết không viết về những gì sâu thẳm kích thích và truyền cảm hứng cho mình, mà lại lạnh lùng lựa chọn các chủ đề một cách lý trí vì tin rằng bằng cách đó họ sẽ có cơ hội thành công cao hơn, thì đó là nhà tiểu thuyết không chân thực và rất có thể là một nhà tiểu thuyết tồi.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Không có hư cấu, chúng ta sẽ ít nhận thức được tầm quan trọng của tự do đối với một cuộc sống đáng sống, cái địa ngục mà nó biến thành khi bị một bạo chúa, một hệ tư tưởng, hoặc một tôn giáo chà đạp. Hãy để những người nghi ngờ rằng văn học không chỉ nhấn chìm chúng ta trong giấc mơ về cái đẹp và hạnh phúc mà còn cảnh báo chúng ta về mọi loại áp bức, tự hỏi tại sao tất cả các chế độ quyết tâm kiểm soát hành vi của công dân từ trong nôi đến khi nhắm mắt lại sợ hãi nó đến mức họ thiết lập các hệ thống kiểm duyệt để đàn áp nó và luôn dõi theo những nhà văn độc lập một cách cảnh giác. Họ làm điều này vì họ biết nguy cơ khi cho phép trí tưởng tượng lang thang tự do trong sách vở, biết những câu chuyện hư cấu trở nên nổi loạn đến mức nào khi độc giả so sánh sự tự do làm cho chúng khả thi và được thực thi trong chúng với sự u tối và nỗi sợ hãi đang rình rập trong thế giới thực. Dù muốn hay không, biết hay không, khi sáng tạo ra những câu chuyện, các nhà văn kể chuyện đang truyền bá sự bất mãn, chứng minh rằng thế giới được tạo ra không tốt đẹp và cuộc sống tưởng tượng phong phú hơn cuộc sinh hoạt hằng ngày của chúng ta. Sự thật này, nếu nó bén rễ trong sự nhạy cảm và ý thức của họ, sẽ khiến công dân khó bị thao túng hơn, ít sẵn lòng chấp nhận lời dối trá của những kẻ thẩm vấn và cai ngục muốn làm cho họ tin rằng đằng sau song sắt, họ đang có một cuộc sống an toàn và tốt đẹp hơn.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Chủ đề thực sự của một cuốn tiểu thuyết bao gồm kinh nghiệm chung của con người: cách mọi người rút lui vào thế giới ảo tưởng và hư cấu để làm giàu cuộc sống của họ, và cách những hư cấu được tạo ra trong tâm trí được xây dựng dựa trên những sự việc nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày. Hư cấu không phải là cuộc sống như nó vốn có mà là một cuộc sống khác, được gợi ra từ những chất liệu do cuộc sống cung cấp; không có hư cấu, cuộc đời thực sẽ là một chuyện nhạt nhẽo và buồn tẻ hơn.”

(La verdad de las mentiras, 1989)

“Từ hang động đến nhà chọc trời, từ gậy gộc đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, từ cuộc sống lặp đi lặp lại của bộ lạc đến kỷ nguyên toàn cầu hóa, những hư cấu của văn học đã nhân lên kinh nghiệm của con người, ngăn cản chúng ta khuất phục trước sự hôn mê, sự tự mãn, sự cam chịu. Không có gì gieo rắc nhiều sự bồn chồn, làm xáo trộn trí tưởng tượng và ham muốn của chúng ta nhiều như cuộc sống gỉa dối mà chúng ta, nhờ văn học, thêm vào vào cuộc đời mà chúng ta có, để chúng ta có thể là nhân vật chính trong những cuộc phiêu lưu vĩ đại, những đam mê lớn lao mà đời thực sẽ không bao giờ trao cho chúng ta. Những lời dối trá của văn học trở thành sự thật thông qua chúng ta, những độc giả đã được biến đổi, bị lây nhiễm sự khao khát và, do lỗi của hư cấu, vĩnh viễn nghi vấn một thực tại tầm thường. Là phép thuật đó, khi văn học mang đến cho chúng ta hy vọng có được những gì chúng ta không có, trở thành những gì chúng ta không phải là, tiếp cận sự tồn tại không thể đó, nơi chúng ta như những vị thần ngoại giáo cảm nhận vừa tính khả tử vừa tính vĩnh cửu, điều đã đưa vào tinh thần chúng ta sự không tuân phục và nổi loạn, vốn là động lực đằng sau tất cả những hành động anh hùng đã góp phần trừ giảm bạo lực trong các mối quan hệ con người. Giảm bạo lực, chứ không phải chấm dứt nó. Bởi vì cuộc đời của chúng ta sẽ luôn luôn là, may mắn thay, một câu chuyện chưa hoàn kết. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tiếp tục mơ ước, đọc và viết, đó là cách hiệu quả nhất mà chúng ta tìm thấy để xoa dịu thân phận hữu hạn của mình, đánh bại sự bào mòn của thời gian, và biến điều bất khả thành khả thể.”

(In Praise of Reading and Fiction: The Nobel Lecture, 2010)

“Đặc điểm xác định của thiên hướng văn chương có lẽ là những người sở hữu nó trải nghiệm việc thực hành nghề nghiệp của mình như là phần thưởng tốt nhất của chính nó, vượt trội hơn nhiều so với bất cứ điều gì họ có thể đạt được từ thành quả lao động của mình.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Thiên hướng văn chương không phải là một sở thích, một môn thể thao, một hoạt động giải trí thú vị. Đó là một công việc bao trùm tất cả, loại trừ tất cả, một ưu tiên khẩn cấp, một sự phục tùng tự nguyện biến nạn nhân của nó thành nô lệ.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Đây là chiến thắng vĩ đại của kỹ năng kỹ thuật trong việc viết tiểu thuyết: đạt được sự vô hình; khả năng truyền tải màu sắc, kịch tính, sự tinh tế, cái đẹp và sức gợi cảm vào một câu chuyện một cách hiệu quả đến mức không độc giả nào nhận ra câu chuyện đang tồn tại; dưới sự mê hoặc của tay nghề nhà văn, họ cảm thấy rằng mình không đang đọc mà đang sống một hư cấu mà, ít nhất trong một thời gian hoặc trong bao lâu mà họ quan tâm, đã thay thế cho cuộc sống thực.”

(A Writer’s Reality, 1990)

“Văn học trở thành một mối bận tâm thường trực, một thứ chiếm trọn toàn bộ sự tồn tại của bạn, tràn ngập những giờ bạn dành cho việc viết và thấm vào mọi thứ khác bạn làm, bởi vì thiên hướng văn chương nuôi dưỡng bản thân từ cuộc sống của nhà văn giống như loài sán nuôi dưỡng bản thân từ cơ thể mà nó xâm chiếm.”

(Letters to a Young Novelist, 1997)

“Văn học là một hình thức nổi dậy thường xuyên. Nhiệm vụ của nó là khơi dậy, làm xáo trộn, cảnh báo, giữ cho mọi người ở trong trạng thái bất mãn liên tục với chính mình.”

(Making Waves, 1996)

“Mọi câu chuyện đều bắt rễ từ cuộc sống của những người viết chúng; kinh nghiệm là nguồn mà từ đó hư cấu chảy ra. Đương nhiên, điều đó không có nghĩa là tiểu thuyết luôn là những cuốn tiểu sử được ngụy trang mỏng manh của tác giả; mà là trong mọi hư cấu, ngay cả những hư cấu được tưởng tượng tự do nhất, vẫn có thể khám phá ra một điểm khởi đầu, một nút thắt bí mật gắn kết một cách bản năng với những trải nghiệm của nhà văn.”

(La verdad de las mentiras, 1989)

“Có một điều gì đó trong cuộc sống [của các tiểu thuyết gia] khiến họ khao khát một thế giới khác biệt với thế giới họ đang sống, một thế giới mà sau đó họ bị buộc phải xây dựng bằng lời nói và qua đó họ đóng dấu, thường là bằng mật mã, sự nghi vấn của mình về đời thực và sự khẳng định về thực tại khác mà lòng ích kỷ hay sự hào phóng của họ thúc đẩy họ thiết lập thay thế cho cái thực tại họ đã được ban cho.”

(La verdad de las mentiras, 1989)

BVP tuyển và dịch

Tustin Ranch, Calif.

Tháng XI. 2025

_____________________________

(*)  Tựa đề của bài là do dịch giả đặt.  Các đoạn trích văn ở đây được chọn lọc từ nhiều nguồn khác nhau trong các tác phẩm, bài phát biểu, phỏng vấn, diễn văn, v.v., của Mario Vargas Llosa. Các chú thích là của người dịch.

[1]  Chữ tác giả sử dụng ở đây, nguyên văn, là “Voragine”. Đây là một từ tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là vực sâu, vực thẳm, hoặc một xoáy nước hay dòng xoáy mạnh mẽ. Từ này cũng có thể được sử dụng theo nghĩa ẩn dụ để mô tả trạng thái hỗn loạn, náo loạn hoặc chao đảo.

[2]  Người Machiguenga (còn gọi là Matsigenka) là một dân tộc sống ở vùng rừng rậm cao trên sườn phía đông của dãy Andes và ở vùng rừng rậm lưu vực Amazon thuộc đông nam Peru… Hầu hết người Machiguenga ngày nay theo đạo Thiên Chúa (chủ yếu là Công giáo), nhưng nhìn chung họ vẫn duy trì quan niệm vật linh. Linh hồn và ác quỷ chi phối đời sống thường nhật, trong khi các vị thần sáng tạo đã rút lui và thờ ơ với con người.

This entry was posted in Tư liệu and tagged , . Bookmark the permalink.