Nhớ về Iran: một thời từ bi, thơ mộng

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt – để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu…

Ngàn Lẻ Một Đêm, tranh của họa sĩ Sani‛ Ol-Molk (1814-66). Photo: Boston University Libraries.

Một thời xa xưa, thời trước khi Hồi giáo tới Iran, Phật giáo đã truyền sang Iran và nhiều quốc gia lân bang, làm người dân sống rất mực từ bi và thơ mộng, nơi họ kể cho nhau nghe các truyện Bản Sanh trong Tiểu Bộ Kinh của nhà Phật, nơi những người đạo đức có thể nghe được các con voi, nai, chim và các thú rừng nói chuyện với nhau. Nhiều thế kỷ sau, một số truyện này ghi dấu trong kho truyện cổ tích Ba Tư, rải rác trong Ngàn Lẻ Một Đêm, bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Điểm chung của các lần xuất bản bộ truyện là truyện nền ban đầu kể về vị vua Shahryār và vợ của vua là nàng Scheherazade. Truyện nền đã giúp kết hợp chặt chẽ xuyên suốt cho chính các truyện kể khác. Nếu bạn đã từng đọc truyện Bản Sanh của Phật giáo trong Tiểu Bộ Kinh, bạn sẽ kinh ngạc thấy nhiều yếu tố rất gần nhau, khi đối chiếu vài truyện với nhau.

Bìa sách “The Arabian Nights: Tales of 1,001 Nights”đang bán ở Amazon.

Kho tàng truyện cổ Ngàn Lẻ Một Đêm được kết nối xoay quanh một sợi chỉ xuyên suốt, theo Wikipedia: Xưa kia ở miền Đông Ả-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư tên là Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc.  Ban đầu, ông vốn là một vị hoàng đế anh minh, hiền hậu nhưng do hoàng hậu và phi tần ngoại tình nên vua đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ, cứ mỗi ngày vua cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết. Nhằm thoát khỏi thảm kịch, các gia đình có con gái lần lượt bỏ xứ di cư. Thấy đất nước lâm nguy, cô Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình nói như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con, ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe tiếp “hồi sau thì sẽ rõ”, không thể ra lệnh xử tử nàng.

Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như dân thường, người thương buôn, kẻ ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua từ bi trở lại, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến vua đã quên tâm sát nhân. Cảm phục từ các truyện kể rất nhân đạo và và rồi chân thực yêu thương nàng Sheherazade, vua đã bỏ lệnh bắt thiếu nữ làm sủng phi một đêm để giết một cách tàn nhẫn và lập nàng làm hoàng hậu bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu, rồi họ có với nhau ba người con trai.

Bạn thấy gì? Tất cả các hình ảnh đó đều có trong truyện Bản Sanh. Khi vua độc ác, nghe lời khuyên từ các ẩn sĩ, từ các tể tướng, từ các chàng trai và thiếu nữ thông tuệ, rồi trở thành từ bi… Kinh Bản Sanh (Jataka) của Phật Giáo thường bắt đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa, tại Benares…” Trong khi đó, truyện Ngàn Lẻ Một Đêm thường bắt đầu bằng “Người ta kể rằng, ở một vùng núi xa xôi…”

Về xây dựng nhân vật cũng có yếu tố tương tự. Truyện Bản Sanh thường có các con vật là tiền thân Đức Phật hay các bậc thánh tăng, và nói ra ngôn ngữ rất đạo đức. Ngàn Lẻ Một Đêm cũng có nhiều thú vật biết nói, thường trích dẫn triết lý và thơ ca. Các đoạn kết thì y hệt nhau, nhưng dị biệt là: Truyện Bản Sanh rút ra bài học về luân hồi hoặc đức hạnh. Còn Ngàn Lẻ Một Đêm đưa ra bài học về sự khôn ngoan và sự quan phòng của Thượng đế (đã được Hồi giáo hóa). Nếu chúng ta thay chữ Thượng Đế bằng chữ Nguyên Lý Tối Cao, Luật Nhân Quả, Pháp Duyên Khởi… thì dị biệt không nhiều. Nếu chuyển hóa từ ngôn ngữ “Đức Phật trong tiền kiếp” thành “Vị ẩn sĩ Hồi giáo” thì sẽ là những tương tự tuyệt vời.

Như truyện The Tale of King Jali’ad of Hind and his Vizier Shimas (Truyện về vua Jali’ad của xứ Hind [Ấn Độ] và tể tướng Shimas) trong Ngàn Lẻ Một Đêm, kể về Vua Jali’ad, người cai trị Ấn Độ (Hind), và vị tể tướng thông thái Shimas. Truyện cấu trúc như một chuỗi truyện ngụ ngôn được các nhân vật sử dụng để đưa ra lời khuyên về đạo đức và chính trị. Thường bắt đầu với việc Vua Jali’ad có một giấc mơ kinh hoàng (chẳng hạn như đổ nước lên cây và thấy chúng bốc cháy), và vua yêu cầu tể tướng Shimas giải thích giấc mơ đó.

Vua Jali’ad là một vị vua nhân từ nhưng ban đầu chưa có con nối dõi. Sau khi cầu nguyện và có được hoàng tử Wird Khan, vua đã nhờ tể tướng Shimas dạy dỗ con mình. Phần lớn truyện là các bài giảng của Shimas dành cho nhà vua và hoàng tử thông qua các câu chuyện ngụ ngôn về loài vật và thiên nhiên để dạy về cách kiềm chế dục vọng, lòng từ bi, và sự nguy hiểm của tâm tham và sân. Khi Hoàng tử Wird Khan lên ngôi vua, Shimas tiếp tục sử dụng truyện ngụ ngôn để hướng dẫn tân vương trở thành một người cai trị công bằng. Các lời răn dạy của Shimas về việc một vị vua phải nhiếp phục bản thân trước khi nhiếp phục thiên hạ rất gần gũi với Phật giáo.

Trong truyện trên, một phần y hệt như đời Đức Phật, khi so sánh các tình tiết chính giữa nhân vật Hoàng tử Wird Khan (trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm) và Thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật). Sử Phật giáo ghi rằng Vua Tịnh Phạn hiếm muộn, cầu nguyện và nằm mơ mới có con là ngài Tất Đạt Đa. Trong khi đó, truyện Iran kể rằng Vua Jali’ad già yếu, không có con, sau khi cầu nguyện khẩn thiết mới sinh được Wird Khan.

Đối chiếu về lời các tiên tri nhìn về tương lai cũng tương tự. Phật sử kể rằng các đạo sĩ tiên tri Thái tử Tất Đạt Đa sẽ là bậc Chuyển luân Thánh vương hoặc sẽ là Pháp Vương nếu xuất gia. Trong truyện cổ Iran, các chiêm tinh gia tiên đoán hoàng tử Khan sẽ có trí tuệ siêu phàm và thay đổi vận mệnh vương quốc. Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa học thông thạo các môn nghệ thuật và võ thuật từ nhỏ. Truyện cổ Iran này kể tương tự: Hoàng tử Wird Khan được tể tướng Shimas dạy dỗ về triết học và đạo đức từ năm 5 tuổi, bộc lộ trí tuệ vượt bậc.

Ý thức về khổ và vô thường: Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa đi dạo 4 cửa thành, thấy hình ảnh Sinh-Lão-Bệnh-Tử và quyết định từ bỏ ngai vàng. Trong truyện cổ Iran, sau cái chết của vua cha, Wird Khan đối mặt với sự vô thường của quyền lực và những bài học về khổ đau. Dĩ nhiên là có dị biệt: được kể lại trong môi trường Hồi giáo, kết thúc của Wird Khan là thiên về việc trở thành một “Vị vua hiền triết”.  Tuy nhiên, các bài học ngụ ngôn về con báo, con cá, và con chim trong truyện chính là những bản sao của các truyện Jataka (Bản Sanh) mà Đức Phật dùng để dạy về Nghiệp và Giải thoát.

Sự tương đồng không phải ngẫu nhiên. Một số nhà nghiên cứu (như chuyên gia văn học dân gian Joseph Campbell) khẳng định rằng: Tiền thân của Ngàn Lẻ Một Đêm là tập truyện Ba Tư Hezar Afsan, vốn được dịch và phóng tác từ các nguồn văn học Ấn Độ (từ ngôn ngữ Sanskrit). Khi Phật giáo lan tỏa sang Trung Á, các truyện Bản Sanh, thường dùng thế giới loài vật để dạy đạo, đã hòa nhập vào dòng chảy văn học dân gian của người Ba Tư và Arab, sau đó được “Hồi giáo hóa” nhưng vẫn giữ cốt lõi triết lý.

Trong bộ Ngàn Lẻ Một Đêm, có truyện Vị Ẩn sĩ và Những Con Thú (The Hermit and the Animals). Một vị ẩn sĩ sống trong núi, thực hành khổ hạnh và từ bi. Vị này cứu một con chim bị thương, chia sẻ thức ăn cho những con thú hoang. Khi một thợ săn đến, các con vật đã hợp sức để bảo vệ vị ẩn sĩ và lừa người thợ săn rời đi (trong truyện Bản Sanh, người thợ săn thường là tiền thân của Đề Bà Đạt Đa, tượng trưng cho ác tâm). Truyện này nêu lên Tâm Từ là dấu ấn Phật giáo: Nhân vật chính không chỉ là một ẩn sĩ từ bi, đạo đức mà còn là người bảo hộ muôn loài, phản chiếu hình ảnh Bồ Tát trong tiền kiếp. Truyện cũng nêu lên nghiệp báo (Karma): Kẻ ác (người thợ săn) bị trừng phạt bởi chính lòng tham của mình, trong khi lòng tốt của vị ẩn sĩ tạo ra một “mạng lưới bảo vệ” từ những sinh linh nhỏ bé nhất. Truyện vị ẩn sĩ bị người thợ săn khởi tâm hại tương tự trong Kinh Tiểu Bộ Phật Giáo, truyện Bản Sanh 206 Kurunga-Miga Jātaka, nơi các con vật trong rừng yêu thương nhau, cứu nhau tránh bị tiền thân Đề Bà Đạt Đa làm hại.

Bây giờ nói về sử: một nhân vật trong Hồi Giáo Sufi của thời Iran cổ đại cho chúng ta thấy một ảnh hưởng rất kinh ngạc từ Phật giáo sơ kỳ. Đó là Ibrahim ibn Adham (mất khoảng năm 777-782 Tây lịch), người được coi là một vị thánh vĩ đại của dòng Hồi giáo Sufi, và cuộc đời của ông thường được gọi là “Bản sao của Đức Phật trong thế giới Hồi giáo.”

Ibrahim ibn Adham sinh ra tại Balkh (thuộc vùng Khorasan, nay là Afghanistan). Vào thế kỷ thứ 8, Balkh là một trung tâm văn hóa lớn của Iran cổ đại. Quan trọng hơn, trước khi Hồi giáo đến, Balkh chính là “trái tim” của Phật giáo tại Trung Á với tu viện nổi tiếng Nava Vihara (Nowbahar). Lịch sử Iran kể rằng ngài là vua của vương quốc Balkh, sống trong nhung lụa, cung vàng điện ngọc. Một ngày nọ, khi đang đi săn hoặc đang ngủ trong cung điện, ngài nghe thấy những lời cảnh tỉnh tâm linh về sự vô nghĩa của quyền lực thế gian. Vua nghe thấy tiếng động trên mái cung điện và gặp một người đàn ông đang tìm lạc đà. Khi vua hỏi “Sao lại tìm lạc đà trên mái nhà?”, người đó đáp: “Vậy thì, làm sao nhà vua tìm được Thượng đế trên ngai vàng?”. Vua ngay lập tức từ bỏ ngai vàng, rời bỏ gia đình, sống cuộc đời của một tu sĩ nghèo khổ, đi bộ đến Mecca (thánh địa Hồi giáo) và dành phần đời còn lại để tu hành, lao động chân tay và thuyết pháp.

Các nhà nghiên cứu phương Tây như Ignác Goldziher và R.A. Nicholson đã chỉ ra rằng tiểu sử của Ibrahim ibn Adham gần như là một sự “phóng tác” trực tiếp từ cuộc đời Đức Phật. Ibrahim trở thành một người khổ hạnh, thực hành sự nghèo khó tự nguyện, diệt trừ ham muốn (Ái dục), từ bỏ cái tôi và của cải để đạt đến sự hợp nhất với Thượng đế [theo Hồi giáo Sufi]. Điểm khác nổi bật: Đức Phật không công nhận có Thượng Đế, ngài tự tìm ra Trung đạo và đạt Giác ngộ.

Tại sao lại có sự giống nhau này? Vùng đất Balkh là nơi giao thoa của con đường Tơ Lụa. Khi người Iran cổ đại ở vùng này chuyển sang Hồi giáo, họ không xóa bỏ hoàn toàn ký ức văn hóa cũ. Các truyện về “Vị hoàng tử từ bỏ ngai vàng” (Đức Phật) đã ăn sâu vào tâm thức dân gian vùng Khorasan. Khi họ viết về các thánh nhân Hồi giáo, họ đã vô tình (hoặc hữu ý) sử dụng “khuôn mẫu” của Đức Phật để mô tả sự thánh thiện của Ibrahim ibn Adham. Điều này giúp người dân địa phương dễ dàng tiếp nhận đức tin mới thông qua những hình ảnh quen thuộc.

Trường hợp nhà thơ Rumi cũng là một đối chiếu văn học đầy kinh ngạc. Một nhà thơ Hồi giáo Sufi của Iran cổ đại, nhưng hiện thân như một cư sĩ Phật tử tuyệt vời. Rumi (1207–1273) không chỉ là một nhà thơ; ông là biểu tượng của sự hợp nhất tâm linh giữa Đông và Tây. Trong bối cảnh lịch sử Iran và Trung Á, Rumi là đứa con của một vùng đất mà Phật giáo và Hồi giáo từng chung sống và thẩm thấu lẫn nhau suốt nhiều thế kỷ. Tên đầy đủ là Mawlānā Jalāl-ad-Dīn Muhammad Rūmī, nhưng văn học gọi tắt ngài là Rumi.

Nhà thơ Rumi (1207–1273) trong tranh cổ Sufism. Photo: Wikipedia.

Rumi sinh ra tại Balkh (thuộc Afghanistan/Iran cổ đại). Balkh từng là trung tâm Phật giáo rực rỡ với tu viện Nava Vihara. Do cuộc xâm lược của quân Mông cổ, gia đình nhà thơ di cư sang Konya (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), khi đó thuộc đế quốc Seljuk của người Ba Tư. Rumi viết chủ yếu bằng tiếng Ba Tư (Persian/Farsi). Di sản của nhà thơ là đỉnh cao của văn học Iran cổ đại, cho dù ông sống phần lớn đời mình ở vùng đất của người Thổ Nhĩ Kỳ.

Dù Rumi là một giáo sĩ Hồi giáo hệ phái Sufism, các học giả nhận thấy những dấu ấn sâu sắc của tư tưởng Phật Giáo trong thơ ông. Từ bỏ “cái tôi” trong thơ Rumi là khái niệm Hồi giáo Sufism, diệt trừ tự ngã (Fana): tan biến cái tôi cá nhân vào Nguyên lý Tối cao, sự dập tắt ngọn lửa tham ái và bản ngã.

Thơ Rumi thường trực nói về cách sống Chánh niệm và ý thức về cái Hiện tiền. Rumi luôn nhắc nhở về việc thoát khỏi quá khứ và tương lai để sống trong “Cái bây giờ”, lời dạy của Đức Phật và thường được nhắc tới trong tư tưởng Thiền Tông Việt Nam. Thơ Rumi cũng đề cao tình yêu vô điều kiện, một hiển lộ của Tâm Từ Bi. Dưới đây là hai bài thơ nổi tiếng nhất của Rumi thể hiện sự buông bỏ tự ngã và sống trong nhận thức về Tánh không.

Bài thơ Rumi đầu tiên dẫn dưới đây [dịch sang tiếng Anh] có tựa đề The Guest House (Ngôi nhà khách) nghe y hệt lời dạy thiền. Bài thơ nói về Chánh niệm (Mindfulness), đón nhận mọi cảm thọ (vui, buồn, thiện, ác, đau, khổ) như những vị khách đi ngang qua tâm mình. Nơi đây, chúng ta trích dịch theo bản Anh văn của Coleman Barks.

Ngôi nhà khách

Thân tâm này như một nhà trọ.

Mỗi buổi sáng lại có một vị khách mới.

Một niệm vui, một niệm lo, một niệm dữ

một tỉnh thức thoáng qua đến

như vị khách không mời mà đến.

Hãy chào đón và tiếp nhận tất cả!

Ngay cả khi đó là một đám đông niệm buồn,

những niệm hung bạo quét sạch nhà của bạn

dọn trống trơn các đồ đạc trong nhà

vẫn hãy trân trọng đối xử với mỗi vị khách

Có thể niệm đó đang dọn [thân tâm] bạn cho trống chỗ

cho một niềm vui mới.

Những niệm đen tối, xấu hổ, độc ác,

hãy đón các niệm ở cửa với nụ cười,

và mời chúng vào.

Hãy biết ơn bất cứ ai đến,

vì mỗi người đều được gửi đến

như một người dẫn đường từ bờ bên kia.

Tương tự, bài thơ tựa đề Only Breath (Chỉ là hơi thở), thể hiện tư tưởng Vô ngã (Anatta). Rumi rũ bỏ mọi nhãn hiệu về tôn giáo, quốc gia và bản sắc để trở về với cái cốt lõi trống rỗng nhưng là toàn thể. Nghe y hệt như thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Bản Việt dịch như sau.

Chỉ là hơi thở

Không phải Ki tô giáo, Do Thái giáo hay Hồi giáo, không phải Ấn Độ giáo

Phật giáo, Sufi hay Thiền Tông. Không thuộc bất kỳ tôn giáo nào

hay hệ thống văn hóa nào. Tôi không đến từ phương Đông

hay phương Tây, không từ đại dương hay từ mặt đất

không phải tự nhiên hay siêu nhiên, không

được cấu tạo từ các yếu tố nào cả. Tôi không hiện hữu,

không phải là một thực thể trong thế giới này hay thế giới sắp tới,

không phải hậu duệ của Adam và Eva hay bất kỳ

câu chuyện cội nguồn nào. Nơi của tôi là không dấu vết, một dấu vết

của không dấu vết. Không thân xác cũng không linh hồn.

Tôi thuộc về cái được yêu thương, đã nhìn thấy hai

thế giới là một và lời kêu gọi duy nhất đó hướng đến và thấu hiểu,

đầu tiên, cuối cùng, bên ngoài, bên trong, chỉ hơi thở đó của người đang thở.

Bạn có thể nói thơ Rumi là ngôn ngữ của Tánh Không, vô tướng, vô ngã, vô thường, bờ bên kia, hay là bất cứ gì của từ bi và thơ mộng. Vì sao kho tàng từ bi, yêu thương và vô ngã của nhà thơ cực kỳ tuyệt vời này bỗng nhiên biến mất ở Iran bây giờ, để thay vào đó là lãi những nhãn hiệu đầy tranh chấp và những tự ngã lớn như núi? Hỡi Iran cổ đại, một thời của từ bi và thơ mộng, bây giờ đang ở đâu? Trong các trang cổ thư bị quên lãng? Hay dưới các gạch vụn cổ mộ của lịch sử?

THAM KHẢO:

Buddhism ii. In Islamic Times:

https://www.iranicaonline.org/articles/buddhism-ii/

– The Indian Origin of The Thousand and One Nights

https://www.sacred-texts.com/neu/lang1k1/index.htm

– The Jataka (Truyện Bản Sanh): https://sacred-texts.com/bud/j1/index.htm

– Thơ Rumi, bản dịch Anh văn của Coleman Barks:

The Guest House: https://grateful.org/resource/guest-house-rumi/

Only Breath: https://allpoetry.com/Only-Breath

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.