Ái Điểu
Những câu chuyện đại khái như chuyện này chắc xảy ra nhiều. Có thể nhiều người đã viết rồi.
Nên, nếu có sự trùng hợp tình tiết, nhân vật là ngoài ý muốn, xin bỏ qua, chuyện nhỏ mà.
——
Ven đường quốc lộ, khu vực ít dân cư, chỗ giáp ranh phường và xã có những tiệm hớt tóc nam.
Đời nay nhiều chuyện oái oăm, tiệm hớt tóc nam do phụ nữ hớt mà tiệm tóc nữ lại do đàn ông làm.
Tiệm của con Bé Hai cách xa các tiệm kia. Bảng hiệu ghi đơn giản:
BÉ HAI
Hớt tóc nam – Hair Cut
Chêm tiếng Anh cho sang thôi chớ ở đây làm gì có Tây, Tàu gì đến.
Mấy ông trong xóm đọc Hair Cut là Hai-rờ-cu-tê. Lâu dần chết tên thành tiệm hớt tóc nam của con Hai-rờ-cu-tê.
*
Ông Năm Sanh về hưu gần tám năm, ông làm phó phòng một cơ quan trên tỉnh. Ông có nhà ở phố nhưng cho đứa con trai. Ông thích về vùng quê, với cây, với sông, với đất, trời hơn.
Vợ ông, cũng về hưu một lượt với ông. Hơn nửa năm nay bà sang Hàn Quốc giữ cháu ngoại.
Lúc đầu, vài ngày vợ ông điện thoại về thăm hỏi. Lâu dần, cuộc sống mới khiến bà như quên ông. Đứa con trai trên tỉnh cũng vậy thôi, vài ba tháng nó mới gọi. Có khi ông không biết để bắt máy, nó cũng quên gọi lại.
*
Hôm đó, ông đi hớt tóc. Đương nhiên là ông đến tiệm hớt gần nhà ông nhất, tiệm của con Bé Hai.
Qua đọc báo, ông cũng biết mấy tiệm hớt tóc nam có thể làm chuyện đồi truỵ. Nhưng ông tò mò muốn vào xem thử.
Con Bé Hai đón ông lễ phép. Nó nói: Chào bác, mời bác nằm lên ghế cho con hớt. Tóc bác cũng quá lứa rồi đó. Mà bác có cạo mặt, ngoáy tai, gội đầu không?
Ông Năm Sanh nằm ngửa trên ghế. Khoan khoái ngửi mùi nước hoa, mùi đàn bà lâu rồi ông không nhớ đến.
Ông nhắm mắt tê mê khi tay con Bé Hai mềm mại chạm da mặt ông để cạo râu. Ông chợt hỏi: Con có mát-xa không?
Bé Hai lễ phép: Dạ, con chỉ đấm bóp vai, trán chớ không có mát-xa.
Rồi nó vừa ngoáy tai vừa rủ rỉ hỏi ông chuyện này, chuyện nọ.
*
Từ hôm đó cứ năm, bảy ngày ông Năm Sanh lại đến quán hớt tóc con Bé Hai cạo mặt, gội đầu.
Ở đây, ông có chỗ để nói đôi điều uẩn khúc giấu trong lòng. Chỉ những chuyện nhỏ thôi mà ông không dám xả ra với người khác.
Như chuyện con dâu ông nhắc ông đừng nói gói xơi, trái ởi mà phải nói xôi, ổi. Con dâu sợ con nó nhiễm cái giọng nhà quê của ông thôi chớ đâu có khinh khi ông. Ông nghĩ vậy.
Nhưng mà thật lòng ông thương quý vùng quê của ông nên không muốn sửa lại giọng nói. Nhiều lần ông thấy buồn khi nghĩ lứa già như ông chết hết rồi chắc không còn ai nói xơi, ởi nữa.
Như chuyện ông không dám có ý kiến về cách dạy con của dâu ông. Ông thương hai đứa cháu nội quá. Mẹ chúng bắt học thêm toán, tiếng Anh, học bơi, học đờn, đá banh cũng phải học. Rồi chúng lại lén mẹ cắm đầu vào ai-phôn khi rảnh. Tụi nhỏ khổ thiệt.
Còn nhiều chuyện ông chưa thể kể cho con Bé Hai như chuyện vợ ông và đứa con trai chê ông dở quá; về hưu mà chỉ có chức phó phòng, tài sản không bao nhiêu so với những người cùng trang lứa.
Như chuyện ngày xưa vợ ông có dan díu với tay chánh văn phòng tỉnh.
Như chuyện ông phải bán mấy miếng đất để trả nợ giang hồ cho thằng con ông – lúc nó còn trẻ – vì nó cá độ đá banh.
Như chuyện ông không tham gia vào các công việc mờ ám của cơ quan nên không lên chức trưởng phòng được…
Còn những chuyện sai trái liên quan đến thời thế ông càng phải để bụng, không nói ra. Mà có nói con Bé Hai cũng không hiểu.
Không có con Bé Hai ông không biết thổ lộ với ai. Vô lẽ ông ngồi một mình nhìn lên trời cao lầm bầm nói những suy nghĩ của mình. Chỉ có khùng mới làm vậy.
Nói cho con Bé Hai nghe một ít chuyện giấu kín làm ông Năm Sanh giải toả được phần nào tắc nghẽn trong lòng. Ông thấy mình tạm thời nhẹ nhàng, dễ chịu. Y như tóc ông sau khi được con Bé Hai gội; sạch rồi cũng dơ lại thôi.
*
Con Bé Hai cảm nhận được sự lương thiện của ông. Ông không cố tình đụng chạm cơ thể nó, không nói những câu có ý suồng sã.
Con Bé Hai thấy ông Năm Sanh khác xa với ba nó. Từ lúc còn trẻ ba nó đã làm ít, nhậu nhiều; tối ngày làm thơ tình, thơ chán đời, khoe tài với các dì, các thím trên Phây-Bút. Ba nó lại có máu dê, thường ghé nhà nghỉ, bia ôm.
Nó trốn học từ năm lớp chín, theo thằng Bảy Cúp học nghề hớt tóc. Vài năm sau, chán cảnh gia đình nó bỏ nhà lưu lạc khắp nơi.
Phải chi ba mình giống ông Năm Sanh. Có lần con Bé Hai nghĩ vậy.
Bữa nọ, nó hỏi: Bác Năm nè! Bác có làm thơ không bác?
Ông Năm Sanh ngạc nhiên vì câu hỏi. Rồi điềm đạm trả lời: Hồi hai, ba mươi tuổi bác cũng có làm thơ. Nhưng rồi bác tự hỏi chính mình: tại sao mình làm thơ, và mục đích làm thơ để làm gì?
Từ đó, bác không làm thơ nữa nhưng bác vẫn đọc, đọc nhiều hơn trước.
*
Cạnh nhà ông Năm Sanh là nhà bà Sáu Sung.
Bà Sáu Sung tuổi khoảng sáu mươi, làm nghề cho vay. Chồng bà lén lấy mười mấy cây vàng theo bồ nhí. Bà chửi một trận kinh thiên động địa rồi ly dị luôn gần chục năm rồi.
Bà Sáu Sung ao ước được người chồng như ông Năm Sanh. Thừa dịp vợ ông đi Hàn Quốc, thỉnh thoảng bà đem cho ông gói trà nõn tôm, chai mắm cá cơm.
Ông Năm Sanh nhận, cảm ơn. Nhưng xem ra không có ý gì khác. Điều này càng làm cho bà Sáu Sung quý mến ông thêm, khác xa với lão chồng cũ, thấy đàn bà là nổi máu dê.
Bữa nọ, tình cờ bà Sáu Sung thấy ông Năm Sanh nằm cho con Bé Hai ngoáy tai.
Bà tức khí, giả đò đi ngang qua tiệm hớt tóc, chửi đổng: ĐM! Ở đâu trôi về mấy con đĩ ngựa dụ dỗ đám già dê.
Không ăn được thì đạp đổ, bà cấp tốc gọi Zalo cho bà Năm Sanh.
Bà Sáu Sung ứng khẩu hư cấu ngay một câu chuyện ngoại tình mà nhân vật chính là ông Năm Sanh và con Bé Hai-rờ-cu-tê.
Bà khêu cho ngọn lửa sân si của bà Năm Sanh cháy bùng bằng câu tiên đoán: Coi chừng ông bán nhà, bán đất giao cho con hớt tóc.
Nghe xong, từ Seoul bà Năm Sanh lập tức FaceTime cho chồng.
Bà lồng lộn nhiếc mắng, sỉ vả ông thậm tệ suốt cả tiếng đồng hồ. Đại ý bà kết án ông hết một đời bất tài, vô dụng; gần xuống lổ rồi lại biến thái, sa đoạ mê gái gú. Ông đã bôi nhọ thanh danh, làm xấu hổ uy tín của gia đình, con cái.
Ông Năm Sanh ngậm miệng, nghe bà luận tội. Không phản kháng, bào chữa.
Chưa đã cơn tức giận, bà Năm Sanh gọi thằng con, bảo nó phải lên tiếng chửi ba nó.
Ác nhơn hơn, bà báo cho tổ chức, nhờ họ theo dõi, ngăn cấm ông.
*
Xẩm tối, ông Năm Sanh ngồi bất động trên thềm nhà hoang vắng.
Ông nhìn mông lung. Cặp mắt thất thất thần.
Bủa vây quanh ông là khuôn mặt của những người thân quen.
Là cặp môi xăm đỏ chót, nhóp nhép nói không ngừng dưới đôi mắt như mụ phù thuỷ của vợ ông.
Là cái miệng cười xạo xạo, đôi mắt lấm la lấm lét của thằng con trai ông.
Là cặp mắt dâm dê, cái miệng cười tạo dáng cố tình khoe hàm răng giả bọc sứ của tay chánh văn phòng…
Nhiều, nhiều quá những con mắt, những cái miệng quay cuồng dòm ngó, hét to vào tai ông, vào đời ông.
Ông xây xẩm, chóng mặt. Ông bịt tai, nhắm mắt.
Ông Năm Sanh nghe rất rõ tiếng chân nhiều người chạy thình thịch, tiếng còi tu huýt, tiếng gõ kẻng, gõ xoong nồi như thời xưa dân làng đuổi bắt trộm.
Có tiếng vợ ông, con ông, lão chánh văn phòng, gã tổ trưởng… đồng thanh hét lớn: Bắt lấy lão già mất phẩm chất, vi phạm đạo đức. Đuổi ra khỏi xóm làng kẻ xấu xa làm ô uế xóm nhân dân văn hoá mới.
Ông Năm Sanh hoảng hồn, đứng lên chạy.
Thời còn chiến tranh chưa bao giờ ông sợ quân đối địch.
Nhưng bây giờ ông sợ hãi những người thân quen.
Ông nhảy qua hàng rào, chạy thục mạng.
Ông chạy băng qua con mương thời niên thiếu ông cởi truồng tắm mát.
Ông chạy qua đống rơm nơi lần đầu tiên ông nắm tay người con gái.
Ông chạy qua cổng làng, chỗ ấy má ông tiễn ông vào bưng biền.
Những khuôn mặt người từng cùng sống với ông vẫn đuổi theo. Cùng nhau hô vang khẩu hiệu kết án ông.
Ông ngẩng mặt nhìn lên trời, gào to trong đêm đen tĩnh mịch: Tôi có làm gì sai đâu, tôi không có tội, tôi không có tội.
Ông chạy đến quán hớt tóc của con Bé Hai. Quán đã bị đập phá tan hoang.
Con Bé Hai nằm loã lồ, bất động. Nó khóc. Nước mắt ứa thành dòng, chảy tựa hồ không bao giờ cạn. Ông quỳ xuống khum lòng bàn tay cong, như hai dấu hỏi nghi vấn cõi đời này, hứng lấy đôi mắt to đen thánh thiện đang bị lệ cuốn trôi ra.
Ông Năm Sanh thẫn thờ, kiệt sức, lao đảo đi đến khu nghĩa địa. Bàn tay ông vẫn ân cần nâng giữ đôi mắt của con Bé Hai.
Trăng đêm đỏ quạch màu hoả châu như đêm thời chiến.
Nhiều người lính đứng hàng ngang chặn đường ông. Ông thấy rất rõ đó là những người lính đồng đội và cả bên đối địch lúc còn chiến tranh.
Mặt họ trẻ quá, chừng mười tám, hai mươi gì thôi. Họ giữ mãi tuổi thanh xuân lúc chết.
Một người nói: Ông là người có tội. Thoả hiệp, câm nín, cúi đầu, không kháng cự lại cái ác cũng là sự bất lương. Ông là kẻ đào ngũ, phản bội. Là người lính thua trận, đầu hàng. Là người hèn.
Nghe xong, ông Năm Sanh mất hết sức kháng cự. Bủn rủn toàn thân ông khuỵu xuống, ngã người trên nền đất quê nhà. Mặt gục vào đôi mắt đen, buồn bã của con Bé Hai.
Trời ửng sáng. Ông Năm Sanh tỉnh dậy trước hiên nhà ông. Mình đẫm ướt mồ hôi.
Ông súc miệng, rửa mặt rồi đến bàn thờ thắp một cây nhang.
*
Cả tháng qua, ngày nào bà Sáu Sung cũng lén theo dõi ông Năm Sanh.
Bà thấy ông vẫn sinh hoạt bình thường như chăm sóc cây cối, ao cá.
Chỉ khác là chiều nào ông cũng ra nghĩa địa thắp nhang.
Điều bà đắc ý nhất là ông không ra quán hớt tóc của con Bé Hai.
Sáng hôm qua bà Sáu Sung không thấy ông Năm Sanh ra sân vườn như thường ngày.
Sáng nay, bà bỏ buổi đi đòi nợ, ngồi canh đến trưa cũng không thấy ông.
Đến chạng vạng tối bà Sáu Sung thấy lo. Bà bước qua vườn nhà ông.
Cửa nhà khép hờ. Bà đẩy cửa bước vào gọi to: Anh Năm ơi! Anh Năm ơi!
Không có tiếng trả lời. Trong đốm sáng thê lương soi từ chiếc đèn dầu leo lét, bà thấy ông Năm Sanh gục đầu trên bàn, trước di ảnh người cha già của ông.
Ông đã chết.
*
Con Bé Hai nghe người ta nói ông Năm Sanh chết vì bị đột quỵ.
Đám tang ông long trọng, oai nghiêm. Có nhiều xe chở các ông chức lớn trên tỉnh, huyện về viếng.
Không có tụng kinh, gõ mõ nhưng có linh bồng súng hô nghiêm, chào trước linh cửu của ông.
Ông chánh văn phòng tỉnh trịnh trọng đọc điếu văn. Giọng ông thật lâm ly làm bà Năm Sanh muốn rưng lệ.
Điếu văn có đoạn ngợi khen ông Năm Sanh là người cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đạo đức tốt. Lại có đoạn biểu dương ông từ khi còn thanh niên đã chiến đấu vì quê hương, xứng đáng là tấm gương sáng cho mọi người noi theo…
Đọc xong, ông chánh văn phòng về lại bàn trà nói với mọi người: Lão Năm Sanh chết vậy cũng sớm, thời nay sống đến tám mươi mới là thọ.
Ông hội trưởng Hội Nông dân tỉnh nói: Ảnh ra đi đột ngột, không nằm bịnh lâu ngày là sướng cho ảnh và không làm khổ vợ con.
Không có ai khóc trong tang lễ. Con Bé Hai muốn vào thắp cho ông cây nhang mà không dám.
Nó chờ ở ven đường đợi con trai ông bưng di ảnh đi qua. Trong ảnh, ông Năm Sanh mặc quân phục, ngực đeo nhiều huy chương. Nó cúi đầu chắp tay vái, cầu nguyện ông bình an ở cõi nào đó khác với cõi này.
Rồi nó khóc.
*
Sáng ngày hôm sau, lúc gội đầu cho chú Bảy bán thuốc tây, con Bé Hai nghe chú nói: Hôm bữa, ông Năm Sanh có đến tiệm mua hai vỉ thuốc ngủ loại mạnh.
Buổi chiều, trong lúc đang cạo mặt, bác Chín bán phân bón thuốc trừ sâu, nói: Hôm trước khi chết, ông Năm Sanh đến tiệm ông mua bịch thuốc diệt sâu rầy.
Con Bé Hai sững sờ, mất hết ý thức. Dao cạo cứa phạm vào cằm bác Chín.
Máu chảy ra nhiều. Con Bé Hai mất bình tĩnh. Nó đưa tay vội vã bịt vết thương.
Nó thấy hai bàn tay nó đẫm màu đỏ của máu tươi.