Nguyễn Quốc Bảo
7

魂歸淨土 香在家祠
Hồn quy tịnh thổ – Hương tại gia từ
VĂN TẾ LÊ ĐỖ THỊ NINH
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Hương trầm một nén, nước tĩnh một bầu,
Ngửa trông linh khí tổ tông chứng giám.
Hôm nay, giữa buổi nhân gian còn vương bụi lửa,
Chúng con – hậu duệ dòng Lê Đỗ – Đái – Nguyễn,
Cúi đầu kính dâng lời tế,
Tưởng vọng người chị đoan thuần bạc mệnh:
LÊ ĐỖ THỊ NINH,
Con gái ông Tham Kỳ,
Cháu ngoại họ Đái Quảng Xương,
Người thiếu nữ vừa tròn mười sáu trăng,
Hoa chưa kịp nở đã rụng vào sương.
Nông Giang đoạn mệnh,
thập lục niên hoa sớm rụng còn thương bóng tím;
Lê Đỗ truyền hương,
tam đại tộc lệ chưa khô đã nhớ người hiền.
濃江斷命 十六年花早落猶傷影紫
黎杜傳香 三代族涙未乾已憶人賢
Nùng Giang đoạn mệnh,
thập lục niên hoa tảo lạc do thương ảnh tử;
Lê Đỗ truyền hương,
tam đại tộc lệ vị can dĩ ức nhân hiền.
- Lung (Khởi tế)
Than ôi!
Một dải Nông Giang chiều loạn, nước đùng đục chiến trường,
Một bóng áo nâu bên bờ cát giặt, trời không kịp đổi sắc, đất không kịp lên hương.
Sóng dữ tràn về, cuốn đi người con gái hiền như sương mai mới chạm,
Ba ngày ba đêm tìm xác, cả núi rừng câm lặng nhìn phận bạc giữa tàn canh.
Hình hài trọn vẹn còn không giữ,
Huống chi lời tiễn biệt – chưa ai kịp nói một câu.
Lúc ấy, trời Thanh Hóa xám tro,
Làng trên xóm dưới nghe tin mà thắt ruột,
Người trong họ Đái – Đỗ đứng lặng như cây bị sét đánh ngang thân.
Còn chúng con – lũ trẻ run rẩy không hiểu được định mệnh,
Chỉ thấy một khoảng trống rơi vào trong mắt người lớn
Và trong đó – bóng chị dần tan.
- Ai (Kể nỗi đau)
Ôi!
Chị – búp sen non chưa biết yêu, chưa kịp sợ đời, chưa kịp soi gương mà thẹn,
Một tiếng kêu hơi gió mạnh cũng đủ làm chị nép vào vai chị Huệ.
Cái hiền, cái e ấp, cái ngại ngùng như khói lam chiều,
Người con gái ấy, Trời định không cho sống đến mùa hạ sau.
Ngày chị đi về nơi tịch mịch,
Nhà họ bàn thờ nghi ngút, người cúi mặt,
Mẹ chị – bà Đái Thị Ngọc Chất
Lệ cạn từ buổi trưa, tối lại ngồi nhìn áo con mà ngất lịm.
Đất Quảng Xương vốn sinh người đoan chính,
Nên cái chết một thiếu nữ càng khiến trời đất nghẹn ngào.
Rồi một người thanh niên trí thức,
Tên Nguyễn Hữu Loan,
Kẻ yêu chị bằng cái yêu lặng lẽ của thời loạn,
Kẻ chỉ làm chồng chị được ba đêm trăng,
Đã mang hình bóng chị đi suốt cả đời kéo đá.
Bài thơ Màu tím hoa sim
Từ nỗi đau ấy mà thành,
Hóa nỗi khóc của cả một thế kỷ.
- Kế (Tưởng công đức & an ủi linh hồn)
Chị ơi!
Chị đi sớm, nhưng mạch họ vẫn còn,
Tên chị không lẫn vào tro bụi,
Chữ “Ninh” dịu hiền như một nếp lễ giáo cũ vẫn còn treo trên nóc nhà.
Chị chết oan trong giặc giã,
Nhưng chính sự đoan khiết của chị
Làm sang lên một gia tộc ba đời học hành lễ nghĩa.
Cái đẹp chị mang – không là sắc diện,
Mà là khí thuần hậu của đất Thanh Hóa xưa,
Thứ khí phách không cần lời
Mà vẫn đứng thẳng qua biến động thời cuộc.
Hôm nay, chúng con đội lễ, thắp hương,
Xin mời hương linh về an tọa,
Nhận chút lòng muộn màng của kẻ hậu sinh,
Những đứa bé ngày xưa từng nhìn chị qua bậc cửa
Nay tóc đã pha sương.
- Kết (Tiễn biệt)
Lạy chị,
Nước Nông Giang đã cuốn chị đi,
Nhưng dòng chữ, dòng thơ, dòng nhớ
Sẽ giữ chị ở lại mãi với đời.
Mong chị:
Về nơi thanh tịnh,
Giữa suối vàng an yên,
Không vướng nỗi nước lũ năm nào,
Không còn tiếng gọi thất thanh trong chiều tản cư.
Chị ơi,
Nén hương này xin gửi,
Lời tế này xin dâng,
Coi như là chiếc cầu nối
Để chị về với tổ tiên,
Để chúng con còn giữ được
Một tuổi mười sáu không kịp lớn.
Nam mô A Di Đà Phật.
Chúng con kính cẩn vọng bái.
8
NGUYỄN HỮU LOAN (1916–2010)
Nguyễn Hữu Loan (bút danh Hữu Loan) sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình nông thôn. Ông tự học, không xuất thân từ hệ thống đào tạo chính quy của chính quyền bảo hộ, nhưng đã đỗ Tú tài toàn phần Pháp trước năm 1945, một thành tích hiếm hoi đối với trí thức xuất thân thôn dã thời đó.
Hiện không có tài liệu cẩn tín nào xác định rõ tên họ và lai lịch cụ thể của thân sinh Nguyễn Hữu Loan; các nguồn chỉ cho biết ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại Nga Sơn, Thanh Hóa.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Hữu Loan từng lui tới môi trường trí thức tại tỉnh lỵ Thanh Hóa, có quan hệ dạy học với gia đình Lê Đỗ và sinh hoạt trong không gian sách vở, giáo dục của tầng lớp trí thức địa phương.
Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông tham gia Việt Minh với tư cách cán bộ trí thức, làm công tác tuyên huấn và hoạt động trong quân đội. Thời kỳ này, ông kết hôn theo phong tục với Lê Đỗ Thị Ninh (sinh khoảng 1933), con gái của ông Lê Đỗ Tham Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất, thuộc một gia đình trí thức Thanh Hóa. Cuộc hôn nhân diễn ra trong bối cảnh tản cư thời chiến; sau ba ngày, ông trở lại đơn vị.
Năm 1949, Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối trên sông Nông Giang trong một tai nạn nước lũ bất thần khi đang giặt áo cùng mẹ. Không tìm được thi thể; gia đình dựng mộ bia không xương trong nghĩa trang Lê Đỗ. Biến cố này là nguồn gốc trực tiếp của bài thơ Màu tím hoa sim. Cái chết của bà không liên quan đến bom đạn hay giao tranh, và không mang tính biểu tượng chiến tranh.
Đầu thập niên 1950, Nguyễn Hữu Loan từ bỏ Đảng, sau đó bị loại khỏi đời sống văn nghệ chính thống, chịu sự theo dõi và hạn chế xuất bản. Ông rời Hà Nội, trở về quê Nga Sơn, sống bằng lao động chân tay, trong đó có nghề thồ đá, suốt nhiều năm.
Về sau, ông chung sống và kết hôn với bà Nhu, một phụ nữ xuất thân nghèo, gia đình chịu ảnh hưởng nặng nề của Cải cách Ruộng đất. Hai người sinh được chín người con. Gia đình sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn nhưng ổn định, ngoài mọi bảo trợ chính thức.
Nguyễn Hữu Loan qua đời năm 2010 tại Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông để lại một số lượng thơ không nhiều, nhưng Màu tím hoa sim trở thành một trong những thi phẩm có sức ám ảnh sâu sắc nhất của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Trong văn cảnh lịch sử, ông là một trí thức tự học, một nhà thơ ngoài hệ thống, và là người mang một bi kịch cá nhân không được chính trị hóa.
9
TchyA Đái Đức Tuấn – danh sách các Tác phẩm đã in
Thần trùng (1934)
Khúc sáo du dương (1936)
Thủ xú (1936)
Số kiếp (1937)
Thần hổ (1937)
Linh hồn hay Xác thịt (1938)
Oan nghiệt (1939)
Thầy Cử (1939)
Kho vàng Sầm Sơn (1940)
Đồng tiền Vạn Lịch (viết tiếp theo “Kho vàng Sầm Sơn” – 1940)
Ai hát giữa rừng khuya (1940)
Đầy vơi (tập thơ – 1943)
Tình Sơn nữ (1956)
10
TchyA, Bài ca Thuốc lào

TchyA Đái Đức Tuấn qua nét vẽ của Tạ Tỵ
Thú mây khói người đời ai rõ…
TchyA Đái Đức Tuấn
Vào thập niên Bốn Mươi, ông cậu tôi, TchyA Đái Đức Tuấn[1], viết Bài ca Thuốc lào, nguyên bản bằng Hán tự với tựa lúc đầu là Việt Yên Ca越 煙歌, sau đổi tên là Thuốc Lào. Bài thơ khởi đầu với câu: Thời sĩ bất tri hồ dân yên 时仕不知乎民煙, shí shì bù zhi hu mín yan, diễn Nôm là Thú mây khói người đời ai rõ… Bài này TchyA viết lúc về ẩn dật ở quê[2], lên núi tu tiên, rời bỏ cuộc đời trác táng ở Hà Nội với cô đầu và thuốc phiện, ông đổi thú mây khói á phiện qua mây khói thuốc lào.
TchyA dùng chữ Hán Việt Yên 越煙 yùe yan để gọi thuốc lào, mà không viết Lao Yên[3] láo yan 牢 煙 thuốc lào. Hán Việt thông dụng ta viết yên diệp 煙葉yān yè để chỉ lá thuốc. Thường thì, chữ Yên 菸 bộ thảo dùng để chỉ thuốc lá (cây) và chữ Yên 煙 bộ hỏa, nghĩa khói, để chỉ thuốc hút. Các từ nguyên Hán Việt liên quan đến tự Nôm thuốc lá tóm tắt như sau:
- Ư, Yên 菸 (u83F8) yānbộ thảo 艸 (u8278) nghĩa Héo, úa. Một âm là Yên tức Cây thuốc lá. Chữ Hán thông dụng thường viết yên thảo 菸草 yān cǎo, Thuốc Lá tobacco; tobacco plant. Từ nguyên Hán 菸 yān (ư, yên) có các chữ Nôm là (1) úa, (2) ư, (3) yên, (4) thuốc, dược, 藥 yào (như yên dược), cho nên ta viết là thuốc lá.
- Yên 煙 (u7159) yān, giản thể: 烟 (u70DF) bộ hỏa 火 (u706B) có nghĩa 1) Khói. 2) Chất hơi nhiều gọi là yên. Như vân yên雲 煙 mây mờ, yên vụ 煙 霧 mù mịt. 3) Thuốc hút. Như lao yên 牢 煙 thuốc lào, nha phiến yên 鴉 片 煙 thuốc phiện. Yên thảo 煙 草 (giản thể 烟草) yān cǎo thuốc lá cigarette, tobacco, tobacco plant.
- Diệp như diệp dược葉藥 yè yào(1) thuốc thơm, (2) thuốc lá thơm, (3) thuốc thơm, (4) thuốc lá. Các từ hương yên 香煙 xiāngyān, hương dược diệp 香藥葉ʹ xiāng yào yè đều để chỉ thuốc thơm.
- Trừu yên 抽煙 (烟) chōu yān hút thuốc smoke (a cigarette/pipe). Nghiện thuốc: thượng ẩn上癮 shàng yǐn.
Bài ca Thuốc lào của TchyA, không phải chỉ để ca tụng thuốc lào mà thôi, nhưng là dịp để cho ông chê bai, chỉ trích rượu và á phiện (régler les comptes) mà ông muốn từ bỏ, và kéo bè kéo lũ với tiền nhân làm hậu thuẫn và để biện chứng. Cái ngông của TchyA, ngay từ đầu bài thơ ông đã không giấu giếm. Ông đem các thi tiên (Thánh) Lý Bạch[4], hiền nhân Tăng Tử, Nhan Hồi[5], Quân sư Khổng Minh, Quản Trọng[6], tài tử Bá Nha Chung Kỳ[7], cho đến anh hùng Thủy Hoàng, Tào Tháo, tất cả thi tiên, tửu tiên cùng anh hùng, đều là bạn tri âm của Phiêu phiêu yên giới!
Thế nhưng Sử viết Yên thảo (thuốc lá, thuốc lào) được nhập vào Trung Quốc chỉ có từ Minh Triều, đời Vạn Lịch Tam Niên萬曆三年wàn lì san nián (1575), yên thảo do từ quần đảo Lữ Tống 呂宋 lu sòng Luzon (Phi Luật Tân), trước tiên, nhập vào Đài Loan, Phúc Kiến, rồi phổ biến khắp nước Tàu. Còn á phiện, thì trước khi đốt và hút (bắt chước từ người thổ dân châu Mỹ hút thuốc lá), người Âu Á thường nhai hoặc uống thuốc phiện, và chỉ bắt đầu từ cuối thể kỷ 16. Qua thế kỷ 17 ‐ 18 thuốc phiện xuất hiện các nơi với tên gọi madak, một loại thuốc pha trộn á phiện và thuốc lá. Thế kỷ 19, madak bị cấm ở Tàu, hoạt động buôn lậu thuốc phiện tới Trung Quốc xuất phát từ Ấn Độ. Cho nên những thi tiên, tửu tiên cùng anh hùng mà TchyA đề cập tới, sinh sống hoặc trước Công Nguyên hay trễ lắm là khoảng cuối thế kỷ thứ 7, làm sao có Cổ lai yên giới vô trích tiên và có cơ hội để Phiêu phiêu yên giới tiên kỷ hà? Chẳng qua ông cậu tôi nổi hứng nổi ngông nói chuyện ba hoa, tào lao mà thôi.
Điểm đẹp, hay và hùng tráng của bài thơ, trong nguyên bản Hán tự, là khi Tchya nói về khói thuốc (yên) – nhưng giọng thơ rất đam mê, nên không hiểu đây là khói nha phiến mà TchyA vẫn còn luyến tiếc hay khói thuốc lào. Ông nghiện rượu, á phiện và thuốc lá từ năm 22 tuổi,8 nên khi nói đến khói yên, thì lời thơ TchyA lai láng, sắc sảo và hoa mỹ lắm:
Lục yên hữu đức như minh nguyệt
Bạch yên hữu quang như diễm tuyết
Hồng yên hữu sắc như đào hoa
Hắc yên mang mang thiên địa tuyệt
Khói biếc đức sáng ngời như nguyệt
Khói bạc trong như tuyết trắng phau
Khói hồng như đóa hoa đào
Khói đen mờ mịt trời cao đất dầy
Nhàn yên như liên tĩnh chú trì
Mộ yên như hỏa tận cao phi
Khứ yên dùng dũng như phong suy
Chiêu yên như lộ cửu thiên giang
Khói lơ lửng sen cười lặng lẽ
Khói chuyển vần mạnh mẽ gió bay
Khói mai sương xuống tự trời
Khói hôm lửa bốc tít vời ngàn không
Yên hạ đắc thời nỗ lực khỉ
Yên họa hữu thế vô sở tụy
Yên tụ sơn đầu điểu bất minh
Yên tán phòng trung khách tĩnh túy
Khói nước giậy sóng đùng đùng chuyển
Khói lửa ran không bến không bờ
Đầu non khói phủ chim thưa
Trong phòng khỏi tỏa khách lờ mờ say
Vô tư mà nói, thì có lẽ chỉ ả phù dung mới đem đến cho TchyA một nguồn thi hứng dồi dào bất tận như trên. Lời và nhạc của thơ đẹp quá, áp dụng cho cái say của thuốc lào, chắc khó tưởng tượng được. Sau khi ca tụng khói một cách nồng nhiệt, TchyA bắt đầu thanh toán với cái nguy hại xấu xa của rượu, trà và á phiện.
Việt yên bất như mỹ tửu tùng
Bất như danh trà sử vương công
Bất như nha phiến đa tiều tụy
Việt yên bình dân hương vị nùng
Thuốc lào khác rượu cay men bốc
Khác trà non quen tục lâu đài
Khác nha phiến xấu xa người
Thuốc lào bình dị thơm mùi đượm hương
Say rượu thì Nhiệt độ hào hùng cố bất chính (Hơi men sặc sụa hỗn dâm tơi bời), nghiện á phiện thì Trụy ư địa ngục nghi đăng tiên (Nằm ngục tù vẫn tưởng lên tiên).
Và để kết luận, vì chí suy nhược và ngu xuẩn, nhầm lẫn chân giả, nên ta mới lạc vào chốn ma đưa lối quý đưa đường á phiện ; trong khi thuốc lào là chính đạo, là trung dung, tốt cho hô hấp và khẩu minh tinh thần. Rồi Tchya tiếp tục cái Ngông của mình, đưa ra giả thuyết:
Việt yên hảo nguyện đắc minh thời
Đại đồng thiên hạ can qua khứ
Thuốc lào ví được gặp thời
Đao binh đoạn tuyệt loài người anh em
Nhưng than ôi, cái nợ của TchyA nặng lắm, thủy chung không thoát được số mệnh của kẻ tài hoa. Bỏ thuốc phiện được 10 năm, đến năm 1953, ông lại khăn gói trở về với ả phù dung, và cái ma phiến quỷ bắt ông trở lại Chính đạo bất tầm yên đạo quy, cho đến khi mãn phần.
Thuốc lào
(Nguyên văn Hán tự và Diễn Nôm: TchyA)
Thời sĩ bất tri hồ dân yên
Cổ lai yên giới vô trích tiên
Lưu linh Lý Bạch tửu thi thánh
Nhan Hồi Tăng Tử nhân nghĩa hiền
Thú mây khói người đời ai rõ
Khói không tiên từ cổ vẫn truyền
Nhan Tăng nhân nghĩa nho hiền
Lưu thánh chén ngọc Lý tiên vân vàng
Khổng Minh Quản Trọng đạt nhân chí thủy
Hoàng Tào Tháo anh hùng khí
Lý Tích Phật Nữ cao nhãn duyên
Bá Nha Chung Kỳ tri âm nhĩ
Hùng Tào Tháo Thủy Hoàng nhất thống
Đạt nhân thì Quản Trọng Khổng Minh
Lý Tích Phật Nữ mắt xanh
Hiểu đàn họ Bá là anh Tử Kỳ
Thánh hiền đạt nhân anh hùng đa
Thanh nhãn tri âm mãn thế hoa
Thi tiên Tửu tiên an sở đắc
Phiêu phiêu yên giới tiên kỷ hà
Hùng đạt thánh hiền chi cũng có
Nhiều tri âm vô số mắt xanh
Tiên thơ tiên rượu đã đành
Trong làn khói tỏa tiên linh mấy người
Lục yên hữu đức như minh nguyệt
Bạch yên hữu quang như diễm tuyết
Hồng yên hữu sắc như đào hoa
Hắc yên mang mang thiên địa tuyệt
Khói biếc đức sáng ngời như nguyệt
Khói bạc trong như tuyết trắng phau
Khói hồng như đóa hoa đào
Khói đen mờ mịt trời cao đất dầy
Nhàn yên như liên tĩnh chú trì
Khứ yên dùng dũng như phong suy chiêu yên như lộ cửu thiên giang
Mộ yên như hỏa tận cao phi
Khói lơ lửng sen cười lặng lẽ
Khói chuyển vần mạnh mẽ gió bay
Khói mai sương xuống tự trời
Khói hôm lửa bốc tít vời ngàn không
Yên hạ đắc thời nỗ lực khỉ
Yên họa hữu thế vô sở tụy
Yên tụ sơn đầu điểu bất minh
Yên tán phòng trung khách tĩnh túy
Khói nước dậy sóng đùng đùng chuyển
Khói lửa ran không bến không bờ
Đầu non khói phủ chim thưa
Trong phòng khỏi tỏa khách lờ mờ say
Việt Yên bất như mỹ tửu tùng
Bất như danh trà sử vương công
Bất như nha phiến đa tiều tụy
Việt yên bình dân hương vị nùng
Thuốc lào khác rượu cay men bốc
Khác trà non quen tục lâu đài
Khác nha phiến xấu xa người
Thuốc lào bình dị thơm mùi đượm hương
Túy bất cuồng túy tỉnh bất tỉnh
Nhàn nhã phong lưu tâm khả định
Bất như ẩm thời tửu sung quan
Nhiệt độ hào hùng cố bất chính
Say chẳng say tỉnh thường chẳng tỉnh
Thú phong lưu nhàn định được tâm
Không như uống rượu ầm ầm
Hơi men sặc sụa hỗn dâm tơi bời
Bất như ám khí nha phiến yên
Trụy ư địa ngục nghi đăng tiên
Trác cân ma cốt ư cô mộng
Tòng thử chung thân cánh đảo điên
Không như mờ mịt say vất vưởng
Nằm ngục tù vẫn tưởng lên tiên
Mài gân rũa cốt liên miên
Bén hơi nghiện ngập đảo điên một đời
Tự thân tác nghiệp u tù hoạt
Li bất đắc li thoát bất thoát
Cô miên bảo hận trường bi ta
Chí hề khí hề hà đê mạt
Thân tự đọa vào nơi u tối
Khôn xa lìa khó nỗi rứt đi
Nằm trơ ôm hận sầu bi
Buồn sao chí khí đã suy cả rồi
Chí khí đê mạt do ư si
Thời nhân ngộ nhận chân giả chi
Việt yên bất như nha phiến quỷ
Chính đạo bất tầm yên đạo quy
Chí suy nhược vì người ngu xuẩn
Tính vốn thường nhầm lẫn giả chân
Thuốc phiện quỷ thuốc lào thần
Đường Phật chẳng rõi lại rần đường
Việt yên xuất ư chính đạo khí
Bất trụy linh hồn bất túy lý
Ôn hòa tao nhã đáo trung dung
Thử đại tiên cung danh thảo thị
Thuốc lào mới rõ là chính khí
Mê hồn không túy lý cũng không
Ôn hòa đạt tới trung dung
Cỏ thơm trong chốn tiên cung đó
Cố chư quân tử đa ân cần
Nhàn thời hô hấp như phi vân
Trúc can nhật dụng vi yên cụ
Tảo khởi nhất khẩu minh tinh thần
Bực quân tử thiết tha vì thế
Kéo một hơi dường thể tuôn mây
Dìu tre uốn trúc đêm ngày
Tan sương một khói rạng ngay tâm thần
Vương chí bình dân đồng nhất lữ
Cộng xử Việt yên giai như thử
Việt yên hảo nguyện đắc minh thời
Đại đồng thiên hạ can qua khứ
Trên chí dưới vua dân một lứa
Điếu tỉnh say cùng thú cùng vui
Thuốc lào ví được gặp thời
Đao binh đoạn tuyệt loài người anh em


[1] Đái Đức Tuấn, bút danh TchyA, hiệu Mai Nguyệt, sinh năm 1908, từ trần ngày 8 thánh 8 năm 1968 (ngày Rằm tháng bảy năm Mậu thân), quê quán gốc làng Ngọc Diêm, còn gọi là làng Si thuộc Ngọc Giáp xưa, nay thuộc xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Bài Thuốc lào chưa bao giờ đăng báo.
[2] Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Nhật Phù Tang sang chiếm Đông Dương, TchyA chán ghét thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, ông xin nghỉ việc ở nha Học chính Bắc Kỳ, cùng vợ và đứa con nuôi độc nhất Đái Thị Quế, trở về quê Thanh Hoá, đến phủ Quảng Xương, ở ẩn trọng một động khoét ra từ một cái hang của ngọn núi côi, ở làng Bồ cũng thuộc về Ngọc Giáp (nay thuộc xã Quảng Thạch).
[3] Lao yên 牢 煙 thuốc lào, chữ Lao đây không có nghĩa là nước Lào (thuốc từ Lào đem sang). Nước Lào tức Liêu Quốc viết寮国. Thiển nghĩ Hán Việt Việt Yên sát nghĩa hơn là Lao Yên.
[4] Lý Bạch 李白 lĭ bái (701‐762), tự Thái Bạch 太白 tài bái, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青莲居士 qing lián ju shì, thi sĩ nổi danh thời Thịnh Đường, được xưng tụng là Thi Tiên 诗仙 shi xian, Thi Hiệp 诗侠shi xiá. Lý Thái Bạch Tập 李太白集 lĭ tài bái jí, truyền lại cho hậu thế. Đỗ Phủ (712‐770), ít tuổi hơn Lý Bạch, đương thời cũng được xưng là Thi Thánh 诗圣 shi shèng.
[5] Tăng Tử 曾子, tên thật là Tăng Sâm 曾参 (505 TCN ‐ 435 TCN), tự Tử Dư 子輿, người Nam Vũ thành, nước Lỗ (nay là huyện Bình Ấp平邑, tỉnh Sơn Đông山東), là học trò xuất sắc của Khổng Tử. Ông làm ra sách Đại học 大學 gồm 10 thiên và là một trong Tứ thư của Nho gia. Học trò của Tăng Sâm là Khổng Cấp, cùng Nhan Hồi, Mạnh Tử và chính ông là Tứ phối của Nho gia, cũng là đại biểu xuất sắc của phái Nho gia. Khổng Cấp (hay Tử Tư) làm ra sách Trung Dung trong Tứ thư (cùng với Luận Ngữ, Đại Học, Mạnh Tử).
[6] Quản Trọng (chữ Hán: 管仲; 725 TCN ‐ 645 TCN) là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (685 TCN). Tên ban đầu của ông là Di Ngô (夷吾). Trọng là tên hiệu. Được Bảo Thúc Nha tiến cử, Tề Hoàn Công phong ông làm Tể tướng năm 685 TCN. Ông nổi tiếng với ʺchiến lược không đánh mà thắngʺ mà người Trung Hoa gọi là diễn biến hòa bình – đó là tấn công bằng mưu trí, trừng phạt và dùng kinh tế để giáo huấn.
[7] Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ là tiều phu.
