Thái Hạo
Yến Năng bày triển lãm, nhưng không thông báo rộng rãi, không mời khách, chỉ ai biết thì tới xem.
Bước vào không gian của anh (Cái “không gian” này thực ra là một nhà xưởng, nơi anh đã làm việc 20 năm. Sau cánh cổng rỉ sét là một chiếc sân rộng được lót xi măng, nhiều chỗ gồ ghề, bong tróc; xung quanh sân là những bức tường cao đầy mốc và bụi bặm, bên trên xỏ xuống tua tủa những rễ của một loài dây leo nào đó, hầu hết đã khô. Chắc là do mùa đông. Lợp trên là mái tôn, cũng cũ kỹ và thủng lỗ chỗ, ngửa mặt nhìn lên, thấy như bầu trời đêm chi chít những vì sao nhỏ. Giờ thì tạm đóng ngoặc), người ta bị khựng lại. Vì nó trái hẳn với sự hình dung quen thuộc của một bảo tàng hay một “art gallery” – phòng trưng bày nghệ thuật, vốn phải hiện đại và sang trọng, mà một nghệ sĩ sẽ bày những tác phẩm của mình trong một triển lãm thời thượng.
Giữa cái sân rộng ấy, một chiếc kệ lớn được đặt lù lù. Bao kín chiếc kệ là một lớp vải sô màu trắng, như chiếc màn phủ trên một cái giường. Trong lớp vải màu trắng mờ đục ấy là những tác phẩm điêu khắc của Yến Năng.

Hay toàn bộ cái kệ phủ màn này là một tác phẩm? Chẳng biết. Vì không hỏi tác giả.
Muốn xem những tác phẩm bên trong thì phải ghé mắt lại thật gần, nhìn xuyên qua những mắt lưới li ti. Nhưng xem như thế cảm giác vẫn rất khó chịu, nó khiến người ta muốn vạch chiếc màn ra mà nhìn cho rõ những thứ bên trong. Khốn nỗi, vì những tấm vải sô được kéo căng, nên nếu có vạch ra thì cũng chỉ được một khe nhỏ, chỉ có thể ghé được một con mắt vào.
Đứng xa nhìn thì mờ mờ mịt mịt, úp mặt vào thì cùng lắm cũng chỉ thấy được một góc của những tác phẩm điêu khắc đang được sắp đặt bên trong. Thế là đành phải đi quanh để xem, vừa đi vừa ghé sát mắt vào. Cái cảm giác ngột ngạt cứ dâng lên mãi, vì đứng xa thì mờ ảo, lại gần thì tức mắt mà cũng chẳng thấy được toàn cảnh. Và dù sao thì bức màn vẫn ở đó, bất luận anh đứng ở vị trí nào. Nó án ngữ và khiêu khích.
Cái gì ở bên trong? Đó là câu hỏi thúc ngay vào người xem và không chịu buông tha. Vì thế, họ phải nhìn, liên tục nhìn, tìm mọi góc để nhìn. Mắt không thể xem được tác phẩm một cách toàn vẹn, ngươi ta đành phải ghi nhớ từng góc nhỏ trong lúc di chuyển. Điện thoại thông minh cũng không thể chụp được, vì chụp xa thì chỉ thấy một cái khung phủ màn màu trắng, chụp gần thì chẳng vẹn.

Cuối cùng, cái mà người xem như tôi thấy được, là Yến Năng đã dùng hàng vạn cây đũa với kích thước khác nhau và điêu khắc thành những tác phẩm này, suốt 4 năm qua, bắt đầu từ khi Nga xâm lược Ukraine. Chúng biểu thị điều gì? Một con tàu (chiến?) bị gãy đôi và đang tua tủa chĩa xuống là những mũi tên hay viên đạn? Những tòa cao ốc bị sụp đổ hoặc vỡ toác? Một ngôi giáo đường bị xuyên thủng, mở một lỗ trống toang hoác trên gác chuông? Những thân người hay quả bom đang nằm bất động trên sàn? Rất nhiều khúc đũa ngắn như những vỏ đạn nằm la liệt giữa những thứ ấy? Có tượng bán thân với khẩu súng thò ra từ bên dưới tấm màn…
Người ta có thể nhìn thấy “quang cảnh” này theo những cách khác: một đô thị, một sân khấu, một cuộc mưu sinh, một lịch sử, một cuộc hội họp… có thể thấy cả cái trịnh trọng hay sự buồn cười/ buồn nôn…
Tóm lại là một khung cảnh vừa hỗn loạn vừa bi tráng, vừa tang thương vừa giễu cợt.

Yến Năng đặt tên cho Triển lãm của mình là Kịch. Cái gì là kịch? Khi nào thì chúng hạ màn? Anh là ai trước vở kịch ấy? Một khán giả bị thôi thúc bởi tính hiếu kỳ hay một diễn viên quần chúng trong một cảnh quay hoành tráng mà bản thân chẳng bao giờ biết kịch bản là gì? Anh là ai, anh biết gì trên cái sân khấu kia? Anh sẽ bàn tán về những gì đang diễn ra sau lớp màn với sự ngạo nghễ của một kẻ thạo tin hay với sự tức tối vì bị ném ra ngoài sân? Anh cảm thấy thế nào khi được tôn vinh bởi vị trí khách mời nhưng lại không được phép biết rõ điều gì đang diễn ra bên trong?
Yến Năng không giải thích. Anh miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi mà khi nghe xong câu trả lời thì người ta cũng không biết gì nhiều hơn lúc anh chưa nói. Các tác phẩm của anh là một ngôn ngữ, nó có tiếng nói riêng mà sự diễn đạt bằng ngôn từ luôn có thể khiến người xem trượt khỏi đối tượng trước mắt để đi lạc sang một thế giới khác.
Nghệ thuật của anh, như chất liệu của nó và như cách nó hiện diện, không hướng đến sự vĩnh cửu. Rồi đây, khi bức màn được hạ xuống, chúng sẽ được dỡ ra, và tàn đi cùng với bụi mịn, than tro và mưa nắng, trong tiếng động cơ và tiếng chửi thề, ở một xó xỉnh không tên, của một Hà Nội rộng lớn và nguy nga. Và rồi, cho dù khi mọi thứ đã kết thúc, đã hạ màn, anh cũng không biết gì nhiều hơn về một thứ mơ hồ đã từng tồn tại. Người ta được tới gần, được nói đến nó, được bàn tán, nhưng họ không thực sự biết gì về nó.
Có lẽ Yến Năng sẵn sàng bày triển lãm này cho riêng anh. Nếu không ai biết đến cái triển lãm trong một “không gian” bị lãng quên bên rìa Hà Nội ấy, anh sẽ xem nó một mình. Tự làm nghệ sĩ, tự làm khán giả, rồi tự làm người lao công dọn dẹp những phê tích…
Bốn năm miệt mài cùng hàng vạn cây đũa, có thể không mang lại một xu nào cho anh, vì chẳng ai sưu tập. Mà có biết tới triển lãm đâu để mà sưu tập?!

Nghệ thuật của anh, như tôi thấy, vừa là một mời gọi, vừa là một thách thức. Đó là một nỗ lực phá vỡ những lề thói, đẩy con người vào tình thế phải suy nghĩ. Không phải để tìm thấy một kết luận, mà để sống như một chủ thể bị ném vào cuộc hiện sinh mà họ đã quên đi, hoặc lắm khi, giả vờ quên đi.
Tôi không muốn gọi đó là một sự cứu rỗi – cái từ đã trở nên diêm dúa và mòn sáo. Nhưng ít nhất, có lẽ nó là cách mà anh trốn thoát – trốn thoát bằng cách đối diện, đối diện dữ dội với chính mình?