Nhịp điệu của những mất mát không tên trong văn xuôi Ái Điểu

Bảo Chân

Thời gian gần đây, văn chương Ái Điểu xuất hiện, giữa nhiều ồn ào của thị hiếu đương đại, với những truyện ngắn, bút ký, truyện-kịch… đặc biệt thu hút người đọc. Không ồn ào, không tìm kiếm lối văn chương hào nhoáng rực rỡ, tác giả bình lặng khắc họa những nỗi mất mát đứt gãy của con người trong xã hội: ga xép bị xóa sổ, đất thừa tự bị cắt mất, và những người phụ nữ mang nỗi đau đời…

Những nỗi đau vẫn luôn ở đó

Đọc hầu hết các tác phẩm văn xuôi của Ái Điểu ta có thể nhận ra sáng tác xoay quanh ba chủ đề chính, đan xen nhau chặt chẽ:

Nỗi đau đương đại: Ga xép bị “xoá sổ trên hành trình”, đất thừa tự bị cưỡng chế, những khẩu hiệu rách nát, những lời tiên tri bị bán tháo… Tác giả không viết sử, nhưng viết nỗi đau của người dân thường bị lịch sử “quên” hoặc “bán”. Câu nói trong Đất thừa tự rất đau: “Chúng ta nhân danh tương lai để phá tan sự bình yên.”

Số phận người phụ nữ trong thân phận “bán thân” và “hy sinh”: Từ cô gái trong Ga xép, người đàn bà mại dâm trong Trong tàn phai khao khát một niềm đau Sấm ký đến người mẹ đơn thân trong Bay trên bốn mươi lăm ngọn gió bấc, đến người đàn bà lúc sinh được cắt rốn bằng lưỡi liềm và chết bằng cách bám sợi dây diều bị mắc vào đường dây điện cao thế trong Bốn đoạn ngắn về một người đàn bà. Họ giống như những con chim bị gai nhọn cuộc đời đâm xé, mang đầy tổn thương nhưng vẫn khao khát được nếm trải niềm đau của tình yêu đích thực để cảm nhận mình còn là người, vừa chấp nhận tan biến để đứa con mình đẻ ra được đi xa.

Người đàn bà thuê một căn hộ trên tầng thứ chín của chung cư.

Bà sống một mình. Đứa con trai đã đi đến một xứ sở khác lâu rồi.

Ngày lại ngày, đêm nối đêm bà ngồi nhìn mây trời qua cửa sổ tầng thứ chín.

Một đêm trăng sáng có mưa phùn, gió lộng. Bà lấy cánh diều của đứa con tung cao lên bầu trời trăng, qua khung cửa sổ.

Con diều bay lên cao. Có cơn gió vô tình thổi nó dạt vào đường dây điện cao thế.

Người đàn bà thấy triệu triệu vì sao sáng lên trong đêm trăng.

Bà vẫn giữ chặt sợi dây diều.

Cánh diều trắng gục xuống cháy treo trên trụ pháp trường”.

(Bốn đoạn ngắn về một người đàn bà)

Những người đàn bà trong truyện của Ái Điểu không phải là những người cam chịu hy sinh truyền thống trong sự thụ động; họ là những chủ thể mang quyền năng của nỗi đau. Nghĩa là, họ lấy nỗi đau như một thứ vũ khí sau cùng để xác nhận sự tồn tại của họ trong một thế giới công nghiệp hoá và vô cảm.

Cô đơn giữa “phồn vinh giả tạo”: Cái ga xép, cái cồn cát, cái chung cư tầng 9, cái quán cà phê người già… đều là những không gian biểu tượng của sự lưu đày ngay trên quê hương. Con người hiện đại Việt Nam bị “cắt đứt rốn” với quá khứ, với mảnh đất quê, và cắt đứt mối dây liên kết giữa người với người. Vì vậy, sự mất mát trong văn xuôi của Ái Điểu không chỉ là mất mát vật chất (đất đai, nhà cửa) mà còn là sự đứt gãy của bản thể, của căn tính. Hẳn là, khi sợi dây rốn nối với quá khứ bị cắt đứt, người ta trở thành kẻ lưu vong ngay chính trên mảnh đất của ta, căn nhà của chính ta – như những âm hồn không có mộ chí để cư ngụ:

Đất không nói, chỉ có người tự huyễn

những cột vôi chia cắt cả chân trời

chúng ta nắm giữ những di sản mất linh hồn

khi thức tỉnh, thấy bàn tay không còn ngón”.

(Đất thừa tự)

Một bút pháp vừa cổ điển vừa hiện đại

Ái Điểu viết và tự đặt mình ở vị trí của người đi bên rìa văn chương đương đại. Cô viết với ngòi bút tự nhiên. Như một người đang sống và đang thở giữa xô đẩy cuộc đời. Bằng giọng điệu thì thầm với gió.

– Trong các truyện ngắn và văn xuôi của Ái Điểu, ta đọc ngôn ngữ của thơ, nhạc và của hội hoạ. Câu văn thông thường ở dạng câu ngắn, có nhịp điệu dồn dập như gió bấc. Hoặc câu văn dàn trải tạo sự chậm rãi như “tiếng guitar chú Sơn”. Hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ: “thân thể em khi loã lồ đẹp lắm. Đẹp như một bức tranh siêu thực với những vết xước đỏ bầm”,

hay “cây xương rồng không cần người trồng phải ở lại để chứng kiến nó trổ bông”,

hay “cánh diều trắng gục xuống cháy treo trên trụ pháp trường”…

Bút pháp này tạo sự xung đột có chủ đích giữa cái thô ráp của hiện thực (máu, vết xước, sự tha hoá) và cái trữ tình của thi ca. Có lẽ nào ta tìm thấy lại cái thi pháp spleen kiểu Baudelaire – nỗi u sầu đẹp – mà ông đã viết trong Hoa ác (Les Fleurs du mal): “Người cho ta bùn lầy, và ta biến nó thành vàng” (Tu m’as donné ta boue et j’en fait de l’or). Ái Điểu biến máu, cát, vết xước thành nỗi đau đẹp nhói lòng khiến người đọc vừa bị thu hút bởi cái đẹp, vừa bị đẩy ra bởi hiện thực trần trụi.

– Các tác phẩm văn xuôi của Ái Điểu đều có cấu trúc mới lạ, độc đáo – kịch kết hợp văn xuôi, “sấm ký”,  đoản bút đánh số. Tiêu biểu như Ga xép là một vở truyện-kịch biểu tượng xuất sắc, có thể được dàn dựng ngay trên sân khấu với ánh sáng tím, bóng ma múa, miệng há to không thành lời. Mặt khác, cô còn sáng tạo những biểu tượng độc đáo “Gió” (45 ngọn gió bấc như 45 năm đời người?), “cát”, “diều” (con diều bay cao trong gió bấc vang vọng thành “ai điếu… adieu” – tiếng Pháp nghĩa là “vĩnh biệt” – một trò chơi chữ đầy bi tráng, như lời từ biệt của chính cái tên Ái Điểu).

Những hình ảnh như “xương rồng”, “máu”, “ga xép”, “đất”… tạo thành một hệ thống hình tượng mạch lạc – chất liệu làm cho các sáng tác của cô trở  thành bản văn bi thương của miền cồn cát Nam Bộ. Hệ thống biểu tượng này còn thiết lập một không gian vô định – “Diều” không chỉ tượng trưng cho một trò tiêu khiển tuổi thơ, mà là biểu tượng của khát vọng bay lên tự do nhưng lại bị níu giữ bằng sợi dây tồn tại sẵn như định mệnh. Ánh sáng tím trong Ga xép không chỉ là kỹ thuật dựng sân khấu mà còn là màu sắc của bờ giao giữa thực và ảo, giữa hai bờ sống chết trong nghệ thuật thị giác.

Một văn chương – dù bên lề – nhưng không thể bỏ qua

Ngoài văn xuôi, Ái Điểu còn sáng tác thơ. Và cho dù ở thể loại nào, tác giả không hề viết bằng ngôn từ sáo rỗng. Văn thơ ấy luôn chứa đựng tài năng khắc họa nội tâm người phụ nữ và người già cực kỳ tỉ mỉ, tinh tế và tạo nên hiệu ứng đau đớn đến nhói lòng. Cho dù, đôi khi nhiều hình ảnh như gió, cát, diều… được lặp lại khá dày đặc khiến người đọc có cảm giác “đã đọc ở truyện trước”. Giọng văn thi thoảng rơi vào bi quan tột độ và ít khoảng thở hy vọng, nhưng lối viết của cô cho thấy sự táo bạo và dũng cảm khi chạm vào những chủ đề cấm kỵ: mại dâm, ma tuý, tham nhũng đất đai, sự tha hóa của người có học lẫn người có quyền. Những yếu tố này thổi vào tác phẩm của cô tính hiện đại và đưa văn chương cô đến gần với cả văn học thế giới: phi lí như Beckett: Ga xép như một sân khấu của sự chờ đợi vô nghĩa; nỗi đau đớn thân xác như Marguerite Duras: “Nỗi đau luôn ở đó” (la douleur est là) – ở Ái Điểu, thân xác và ký ức luôn gắn liền.

Ái Điểu không viết để giải trí mà viết như một người làm chứng – vừa giàu chất thơ vừa sắc nhọn phê phán, vừa đau đớn vừa nhân ái.

Thế nhưng Ái Điểu chọn viết và đăng trên trang FB cá nhân. Cho đến thời điểm hiện tại, tất cả sáng tác chỉ được xuất hiện trên trang cá nhân và được đăng trên các trang mạng và các trang văn học độc lập, chưa được một địa chỉ văn học chính thống nào xuất bản. Dù vậy, số người đọc và theo dõi – tôi nghĩ – là rất đáng kể.

Đến nay ít ai biết rõ tiểu sử Ái Điểu. Chính sự ẩn mình cố ý ấy càng làm tăng sức hút bí ẩn của văn chương Ái Điểu.

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hôm nay hay chạy theo thị hiếu tầm thường hoặc né tránh hiện thực, tiếng nói của Ái Điểu – một tiếng nói bên lề nhưng thổi lên ngọn gió bấc buốt thấu tâm can – là cực kỳ cần thiết trong văn học đương đại Việt Nam: đó là những tác phẩm nhắc chúng ta cái hiện thực đau đớn, đằng sau những toà nhà chọc trời, những khu du lịch sang trọng, vẫn còn những cái ga xép bị xoá tên, những người đàn bà khao khát một nỗi đau để được làm người, và những mảnh Đất thừa tự đang bị chôn sống.

Nếu phải xếp hạng, tôi có thể xếp Ái Điểu vào hàng những cây bút quan trọng của văn học Việt Nam đương đại, vì rằng giọng văn cho thấy một tinh thần phê phán hiện thực táo bạo, khiến ta nhớ đến Nguyễn Huy Thiệp; đồng thời giọng văn ấy gần gũi với Nguyễn Thị Hoàng ở tài năng khắc hoạ số phận người phụ nữ; nhưng lại là một lối viết hoàn toàn riêng biệt: đặc chất cổ điển trong bút pháp hiện đại, giọng điệu bi tráng trong những truyện rất đời.

Văn chương của Ái Điểu giống như tiếng chuông ngân đánh vào những lương tri ngủ quên. Lối văn không viết ra để được ca tụng và tung hô bởi lẽ các tác phẩm tự thân đã mang một giá trị – gọi đúng tên những nỗi mất mát không lời của con người. Người ta đọc Ái Điểu không phải để đi tìm sự an ủi dễ dàng mà để đồng loã với những nỗi đau và cả cái đẹp.

Sài Gòn, 28/02/2026

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình, Số đặc biệt and tagged . Bookmark the permalink.