Lê Huy Hòa
Trong bức tranh đa sắc của văn học Việt Nam đương đại, Đỗ Quyên là một gương mặt đặc biệt với hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ từ một trí thức khoa học (giảng dạy và nghiên cứu vật lý hạt nhân) bước sang địa hạt văn chương. Gần nửa thế kỷ cầm bút, với hơn 20 trường ca, hàng trăm bài thơ và nhiều tác phẩm văn xuôi, ông đã khẳng định một giọng điệu riêng, một “cá tính cơ địa” không lẫn – vừa chỉn chu, bài bản của tư duy khoa học, vừa phóng túng, đa cảm của hồn thơ.
Nhưng Đỗ Quyên còn là một trường ca gia “thứ thiệt” – người đã dành nhiều tâm huyết khảo cứu, hệ thống hóa và thể nghiệm cách tân thể loại trường ca Việt Nam. Cuộc trò chuyện dưới đây diễn ra trong những ngày cuối cùng của hành trình hồi hương, vừa hối hả với bản thảo, vừa lặng lẽ nhìn lại chặng đường sáng tạo của mình. Từ “câu hỏi nhớn” về tư tưởng nghệ thuật, về cái tôi người nghệ sĩ xa xứ, cho đến những trăn trở về “giải thiêng và tái thiêng” trường ca, về “ly thân” với những khuôn mẫu thẩm mỹ… tất cả được ông chia sẻ với sự thẳng thắn, hóm hỉnh và đôi khi “tưng tửng” nhưng ẩn sâu là nỗi niềm mải miết sáng tạo, là tình yêu Tổ quốc “như máu thịt” – nguồn cội sâu xa nhất của mọi tư tưởng nghệ thuật.
Xin giới thiệu cuộc trò chuyện cùng nhà thơ Đỗ Quyên.
*
BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN ĐỖ QUYÊN
Chủ đề: HÀNH TRÌNH KIẾN TẠO & KHIÊU KHÍCH THỂ LOẠI
PHẦN I: TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT & CÁI “TÔI” SÁNG TẠO
1. Khởi nguyên và căn cốt: Từ bối cảnh một trí thức khoa học chuyển hẳn sang địa hạt văn chương, ông có thể chia sẻ điều gì đã thực sự thôi thúc và làm nền tảng cho tư tưởng nghệ thuật xuyên suốt của mình? Phải chăng có một sự tương đồng nào đó giữa tư duy vật lý và tư duy thi ca trong cách ông kiến tạo thế giới nghệ thuật?
ĐQ: Những ai từng làm khoa học tự nhiên khi sang ngành văn chương – dù bởi nguyên do, hoàn cảnh khác nhau – nhưng có lẽ không khác nhau nhiều trong quan niệm thực hành, về ảnh hưởng giữa hai lãnh vực tưởng như đối nghịch này ở lao động nhà văn của mình.
Đó là thói quen bài bản, chỉn chu trong thiết lập kế hoạch sáng tác (việc nào ra việc nấy). Là cấu trúc nghiêm chỉnh ở dàn bài, thấu suốt ở tư liệu (ít lăn tăn, hiếm khi bỏ của chạy lấy người). Là ít trọng cảm hứng, thiếu “lụa” hành văn, ưa tra vấn ngôn từ… Và vài cái khác nữa. “Rằng hay chưa thật là hay / Nghe ra có vẻ… loay hoay thế nào!?”. Của đáng tội, mấy bác mấy em “nhà văn thứ thiệt” – lại là ở cương vị biên tập viên – luôn nhòm lũ chúng tôi với vẻ phải nói nể trọng đặc biệt đấy, dưng mà ở đó cứ lấp lánh, cứ óng ánh những gì hơi bị khó tả. Còn ở các đấng bậc “nhà văn thứ thiệt thứ dữ” – nam cũng như nữ – thì dễ lộ vẻ… ngạc nhiên!?
Quan sát kỹ đôi ba bạn văn, hay vài VIP của thế giới “đồng sàng”, tôi thấy – so với giới tác giả chuyên nghiệp – họ thích lo xa cả nghĩ về số phận tác phẩm cụ thể của mình, nhưng lại không quá nặng nề về chức phận nhà văn. Đa số ở họ ít sự bay bổng, phóng khoáng trong viết lách so với các đồng nghiệp “nhà văn không–khoa–học”.
Chúng ta đang nói chỉ về “vỏ” của tác phẩm, về phương cách viết. Còn lõi tư tưởng nghệ thuật? Tôi ngờ lắm cơ. Đâu dễ khái quát được từ cánh sáng tác đa nghề lắm nghiệp này.
Trước, thật tình tôi không đặt được “câu hỏi nhớn” như anh Lê Huy Hòa. Nay nghĩ lại, thấy ở mình, đúng là nhiều “lõi” được hình thành, được câu thúc từ nghề cũ – giảng dạy và nghiên cứu vật lý hạt nhân. Ấy là các lõi tư tưởng nghệ thuật tìm thấy dễ nhất khi sáng tác, nhớ lại nhanh nhất trong hậu sáng tác. Nhưng còn biết bao cái lõi khác – chắc chắn nhiều hơn về số lượng – được sinh ra từ các nguồn ngoài–vật–lý thì là những nguồn nào? Trở về “câu hỏi nhớn” nhất: Tư tưởng nghệ thuật đến từ đâu?
Tôi xin được “giao lưu” với phát ngôn mới toanh của vị Bộ trưởng – nhà khoa học đang đau đáu về công nghệ thông tin nước nhà: “Tài sản lớn nhất của startup là tìm được vấn đề.” Vâng, chuẩn khó mà chỉnh với chuyện chúng ta đang nói… Mọi người thường cho rằng mỗi nhà thơ luôn khởi nghiệp từ bài thơ mình đang viết, mà – ưu tiên số 1 – cần được sinh ra từ một tư tưởng nghệ thuật nào đó. Cũng không nhất thiết phải là tư tưởng mới, là của riêng mình (của đâu mà sộp!); song phải khác so những gì trước hết là mình, rồi người khác đã viết. (Nếu không thế, khỏi làm thơ, đi bổ củi cho sớm chợ – Tản Đà răn thế.)
Thiển ý, tư tưởng nghệ thuật của tạng “nhà-văn-khoa-học” chúng tôi có lẽ cũng không khác với các nhà văn chính tông. Nhiều ràng buộc lắm, song có điều chắc chắn nó phụ thuộc vào tư chất nhà văn ở từng người. Tức là cái cơ địa tinh thần mà cha mẹ, gia đình, nhà trường, xã hội, thể chế, tôn giáo và nhất là quê hương – nơi sinh ra chốn lớn lên của nhà văn, đặc biệt là Tổ quốc – người Mẹ lớn của mỗi con dân cầm bút. Với nhà văn xa xứ, yếu tố cuối cùng là quyết định. Vâng, Tổ quốc! Không gì có thể hơn, không gì có thể thay.
Vậy lẽ nào dăm ba cái nghề cũ, như ở bần đạo đây là dạy học, nghiên cứu (rồi “mất dạy”, “mất cứu” mà đi mần thơ hi hi) lại có thể sánh so với các yếu tố sinh ra tư tưởng nghệ thuật.
“Ôi Tổ quốc […] như máu thịt / Như mẹ cha ta, như vợ như chồng / Ôi Tổ quốc […] mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”. (Trích thơ Chế Lan Viên)
Dĩ nhiên, giá trị “tư tưởng” của sáng tác văn chương có được từ Tổ quốc đang bàn đây không hẳn mang ý nghĩa chính trị (hoặc địa chính trị) hay tình cảm, mà ở sắc thái “nghệ thuật”.
Phải chăng có một sự tương đồng nào đó giữa tư duy vật lý và tư duy thi ca trong cách chúng tôi kiến tạo thế giới nghệ thuật? Thì vẫn…
Tôi rất thích “nhai lại” giai thoại sau đây… Lev Landau, giải Nobel 1962, là một nhà vật lý lỗi lạc của thế giới, người đặt nền móng cho ngành vật lý lý thuyết hiện đại Liên Xô cũ, trong đó có việc đào tạo các thế hệ khoa học xuất sắc thời Xô Viết. Khi được hỏi về các học trò của mình, ông rầu rĩ đáp: “Các tay vật lý lý thuyết giỏi nhất của tôi ư? Họ bỏ đi làm thơ rồi! Vì không đủ trí tưởng tượng và tình lãng mạn.”
2. Cái “tôi” giữa hai bờ: Trong các trường ca của ông, cái “tôi” nghệ thuật hiện lên vừa như một cá nhân cô đơn, day dứt, lại vừa như một “cá nhân văn hóa” mang trọng trách. Ông quan niệm thế nào về sự tồn tại và sứ mệnh của cái “tôi” người nghệ sĩ xa xứ trong tác phẩm? Làm sao để cái “tôi” ấy vừa là tiếng nói riêng tư nhất, lại vừa có thể cộng hưởng được với những vấn đề chung của cộng đồng, dân tộc?
Cũng lại là một “câu hỏi nhớn” của nghệ thuật, của văn chương, mà thiên hạ đã bàn luận đã đời.
Không có cái “tôi”, không có nghệ thuật; dù nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nhân sinh. Bản chất của nghệ thuật vị nghệ thuật là nghệ thuật vị cái “tôi”. Rất nhiều cái “tôi” chưa cao cả, không ít cái “tôi” không cao cả, càng hiếm cái “tôi” cao cả. Thi ca hay dở, âu cũng từ đó mà thôi!
Các thi sĩ vị nghệ thuật “sướng” hơn, trong ý nghĩa cái “tôi” của họ đều được thăng hoa, hân khoái – những thi bá, thi hào thì thăng thiên tới đỉnh thống khoái. Cho dù các sự thăng đó phá hủy sự thăng bằng cần thiết cả nội dung lẫn nghệ thuật sáng tạo.
Để cho để cái “tôi” ấy vừa là tiếng lòng riêng tư nhất (“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất.” – Xuân Diệu), lại vừa chan hòa với những vấn nạn của cộng đồng, của đất nước (như câu thơ Chế Lan Viên vừa được trích) – thậm khó! Bản thân tôi luôn luôn phải – tức là khi được lúc không – ghìm bốn vó cái “tôi” cá nhân bản thể để con ngựa trường ca của mình khi phi nước đại lúc chạy rong ruổi theo đúng nẻo đề tài cộng đồng và Tổ quốc, thế gian và quê hương, người Việt và nhân loại. Tức là phải văn-hóa-hóa cái “tôi” cá nhân để cái “tôi” văn hóa trở thành thường trực.
Cái “tôi” của người nghệ sĩ xa xứ là một khái niệm nghệ thuật trong chủ thể sáng tạo mà không gian nghệ thuật được bao phủ bằng hai từ “xa xứ”. Xa xứ làm sang chấn cái “tôi”.
Mỗi thi sĩ thứ thiệt đều được/bị cõng cái “tôi”, nặng hơn cả thánh giá. Sẽ là nặng hơn, khó ứng xử xoay xỏa hơn với thi sĩ thứ thiệt xa xứ: họ mất hết, để lại sau lưng người yêu thương, gia đình, dòng tộc, sự nghiệp, cơ nghiệp, quê hương, đất nước và cuối cùng làm nên tất cả: Tổ quốc. Cái “tôi” được nâng cấp hay xuống cấp? Tùy theo bản lĩnh, tài năng ở từng thi sĩ đó. Và cũng theo số phận. Giày dép còn có số nữa là…
Từ cộng đồng, dân tộc, nhân loại sẽ đến được cái “tôi”: các thi sĩ bình thường. Đi hết cái “tôi” là đến cộng đồng, dân tộc, nhân loại: các thi sĩ phi thường. Mấy ai được vậy? Đức Phật truyền rằng tự hiểu mình là khó nhất trần gian…
3. Giải thiêng và tái thiêng: Ông từng nói về việc muốn “giải thiêng” hai chữ “trường ca” khỏi gánh nặng sử thi thuần túy. Vậy theo ông, sau quá trình “giải thiêng” ấy, ông đã “tái thiêng” cho thể loại này bằng những giá trị mới nào? Đâu là “chất thiêng” cần giữ, và đâu là “gánh nặng” cần buông bỏ?
Câu hỏi này hóc hiểm, và “khiêu khích”.
Muôn tâu “bệ hạ” độc giả, thần dân này đâu dám. “Giải thiêng” – với mọi chủ thể nào đó – là một chức phận không cá nhân nào làm nổi đâu. Hoặc có thể dạo đó dám cả gan nói vậy; hoặc các bạn nhà báo hiểu nhầm mà cho tôi hăng lưỡi chém chữ…
Chứ thật ra sử thi thuần túy chỉ là “gánh nặng” khi trường ca gia thảo dân như tôi trong cao vọng thể nghiệm cách tân trường ca hoặc say sưa với cái hào hùng cộng đồng mà né xa cái lãng mạn cá nhân; hoặc vì mục đích thời cuộc chính trị mà đành rời tiêu chí văn hóa, chuẩn mực văn chương, giá trị thi ca. Ở trường ca gia “con giời”, các vị ấy sử dụng sử thi khi thì là đất nền đá tảng, lúc lại như mây trời bóng chim… Mayakovsky, Tagore đã quá rõ. Rồi Walt Whitman rồi Saint-John Perse…
Vài năm gần đây, trên các chiếu nghỉ giữa cả tá bản trường ca căng đầy ham muốn (thậm chí với đôi bản phải tự thú là ham hố!), lần mần mò lại thơ vần điệu, nhất là lục bát, tôi ngộ ra điều này…
Nếu như (xin Phật cho kiếp sau hay kiếp sau nữa, con cũng chờ ạ. Xạ thu! Xạ thu!) viết nổi 2–3 bài cỡ Nguyễn Bính (tỷ như Hành Phương Nam với “Quê nhà xa lắc, xa lơ đó / Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay”; nói thêm: trong khảo cứu của tôi về trường ca Việt Nam hiện đại, bài hành này thuộc về danh sách thơ-dài-có-tính-trường-ca; hẳn anh Lê Huy Hòa cũng từng thấy cái “tôi” của người nghệ sĩ xa xứ được thi nhân lãng tử tâng cao chót vời trời mây mà vẫn là là mặt đất nhân quần)…
Thậm chí chỉ vài câu tầm Bùi Giáng (“Xin chào nhau giữa con đường / Mùa xuân phía trước miên trường phía sau” – lại cũng cái “tôi” trong hành trình nghệ sĩ xa xứ; hay như “Người bước về đây năm ngón chân / Tôi buồn người bảo có tay nâng / Bàn tay người có đủ năm ngón / Người đứng xa, tôi tiến lại gần” – Ôi sao cái tình nam-nữ mà cũng có thể nam-nam lại hiện sinh loang loáng màu siêu thực đến vậy).
Thì tôi đã chả phải nhọc bút “tiền cách tân hậu hiện đại”. (Mở ngoặc: có vài nghiên cứu cho rằng chính Trung niên Thi sĩ họ Bùi là nhà thơ tiên phong cho dòng thơ Hậu hiện đại Việt Nam. Đỗ tôi xin được đứng sau cùng trong các phát hiện đó).
Thì vâng, sau cả hai tá năm nhắm mắt liều mình “giải thiêng” rồi “tái thiêng” trường ca sử thi thuần túy, nói rộng là ra khỏi dòng truyền thống lãng mạn – hiện thực – tự sự cách mạng, thu về hơn tá tác phẩm, tôi xin được san sẻ nơi đây để các đồng sự trường ca gia Việt, các nhà phê bình – lý luận ở trong-ngoài Việt Nam xem xét…
Cứ theo chữ của nhà biên tập Lê Huy Hòa thì có 5 điểm cần tái thiêng sao cho tính-trường-ca được thể hiện hài hòa, như chúng tôi phác họa trong khảo cứu Trường ca Việt Nam: Tác giả và tác phẩm (2015 & vẫn bổ sung hoàn thiện):
a) Thể tài: có tinh thần và nội dung không ở từng cá thể, hay giữa các cá thể, mà nâng lên giá trị chung (đất nước, quê hương, nhân loại, dân tộc, cộng đồng…) trong một chủ đề nhân văn nào đó chứa ý nghĩa xã hội rộng lớn.
Đây cần được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật thơ mang tính trường ca!
b) Cảm hứng: ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu;
c) Giọng điệu, nhịp điệu/âm hưởng, ngôn ngữ: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn qua thái độ chủ quan; ngôn ngữ trường ca hiển lộ.
d) Cấu trúc và thủ pháp: sử dụng một số hình thức, kỹ thuật của “trường ca chuẩn tắc/chuẩn mực” – sử thi thuần túy, trường ca truyền thống (như: chương/khúc/đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập);
e) Dung lượng: khoảng 750 chữ trở lên (có thể ít hơn chút, tùy ý nghĩa từng bài).
Các “gánh nặng” cần buông bỏ ư? Cũng không ít. Và cũng không dễ nhất trí về quan niệm. Càng không dễ thực hiện. Chỉ kịp nêu ở đây hai vấn đề.
Về việc khu biệt ngặt nghèo các ranh giới (về nội dung tư tưởng, đề tài chủ điểm, hình thức thể hiện…): Chúng ta hãy thử mạnh dạn và công bằng nêu ra một mấu chốt có tính quan niệm luận xưa nay của văn chương chiến tranh Việt Nam. Đó là sợi chỉ hồng “ta thắng địch thua”. Đan cài hàng hàng câu lớp lớp nghĩa bi hùng cuộn sóng các bản trường ca, nếu sợi chỉ hồng ấy căng quá thẳng quá, giản đơn quá thì hiệu quả sẽ giảm thiểu, tùy theo tài năng của thi sĩ.
Rồi về cấu trúc trường ca, ngôn ngữ trường ca bị quá chuẩn mực, quá nghiêm ngặt: dễ làm nên tác phẩm đơn điệu, hòa nhanh vào dàn đồng ca các cao trào, phong trào trường ca hiện đại Việt Nam. Như thể “phạm lỗi việt vị”: “đồng ca” trong cái thể loại ít tính đồng ca nhất – trường ca!
PHẦN II: THỰC HÀNH SÁNG TẠO & TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI
4. Hành trình “ly thân”: Nhà văn Văn Chinh nhận xét thơ ông là một cuộc “ly thân” để đo khoảng cách giữa nhà thơ và khát vọng. Ông có thể mô tả cụ thể hơn về hành trình “ly thân” trong sáng tác của chính mình? Ông đã phải “ly thân” khỏi những điều gì (khuôn mẫu thẩm mỹ, thói quen ngôn ngữ, đề tài an toàn…), và làm thế nào để tìm được điểm tựa mới sau mỗi lần “xa cách” ấy?
Thiệt tình, dạo ấy đọc điểm huyệt của nhà văn – nhà phê bình, tôi cũng giật mình (mà vội sờ vuốt nhanh thân thể mình xem sao?!). Anh Văn Chinh dùng cách nhìn không mới khi gọi tên cách viết của tác giả, nhưng với tôi thì đáng nể phục!
Đã có rất nhiều nghiên cứu đầy đặn về “kỹ thuật/nghệ thuật phân thân” trong sáng tác. Dường như có tới một phần tư tác giả viết theo “công nghệ” ấy, vô tình hoặc hữu ý? Ly thân đau nhức hơn, quyết liệt hơn nhưng nếu vượt qua được thì thanh thới hơn, hào sảng hơn phân thân vốn phải vòng vo, đi tới đi lui hai vai chủ thể trữ tình của mình.
Người cao thủ khiến độc giả khó nhận ra sự phân/ly thân. Hạng thấp cơ như tôi đã bị nhà phê bình chỉ điểm. Thì cũng phải thôi, cá tính “cơ địa” tôi vốn đã không hạp với diễn trò, đóng vở; mặc dù trong thực hành sáng tác thì lại ưa kịch tính chuộng mâu thuẫn.
Nhận xét Văn Chinh đúng ở chỗ nó khái quát rất “vật lý học” rằng, thơ ĐQ là một cuộc “ly thân” để đo khoảng cách giữa nhà thơ và khát vọng. Nhưng chưa đủ. Và nay Lê Huy Hòa đã đào sâu vào “công nghệ” sáng tạo này bằng các câu hỏi ngón nghề. Cảm ơn các bạn văn tri âm.
Thế nhưng, cho tôi được cáo lỗi: đang ở hành trình hồi hương tuần lễ cuối cùng, không đủ thời gian nhìn nhanh lại các sáng tác chính, mà nhất là thiếu sự tĩnh tâm cần thiết, để giải trình sự ly thân ngang dọc trên hơn 20 thi phẩm trường ca, hàng trăm bài thơ bình thường/”không trường ca” và vài ba tác phẩm văn xuôi (trong đó có 2 tiểu thuyết “bị” xem như có cách viết trường ca?!).
Nhà thơ và khát vọng. Tất nhiên. Không khát vọng, chớ làm thơ. Song nỗi khát vọng ở kẻ làm thơ xa xứ đều nhuốm màu bi hài, trớ trêu và hoang tưởng. Chính thế khoảng cách giữa nhà thơ và khát vọng thường là bất định. Phải chia cắt các bộ phận, phải rời bỏ một số bộ phận của đời sống tinh thần và điều kiện văn chương mới hòng “kéo cưa lừa xẻ” cái khoảng cách bất định đó. Bằng thơ. Và với tôi là thơ trường ca. (Xin lỗi “em” thơ bình thường/thơ ngắn!).
Và đúng như nhà làm sách – tác giả “Trò chuyện với nhà văn” đã nêu ra: hầu hết các điều kiện văn chương phải tạm bị nói lời tạm biệt: Thói quen văn hóa, nhất là ngôn ngữ (tất nhiên là dở trong trăm sự khác, nhưng lại may là tiếng Việt tôi kể như không bị ngôn ngữ ở 3-4 quốc gia từng trải qua chiếm đoạt); Khuôn mẫu thẩm mỹ: dễ hiểu khi mà thẩm mỹ nghệ thuật ở các nước đó rất khác (nhấn mạnh là khác, chưa bàn về hay dở, cao thấp, mới cũ…) so với ở Việt Nam; Đề tài an toàn: có đấy, nhưng không ảnh hưởng tới nhiều văn thi sĩ xa xứ, song ở các tay bút thực sự tự do, hoặc hướng tới thực sự tự do, không có vùng cấm từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật thì đây chính là sự ly thân cuối cùng.
Điểm tựa mới sau mỗi lần “xa cách” ư?
Hoặc nó có sẵn trong hành trang xa xứ; hoặc được sinh ra và đổi thay sau mỗi cuộc ly thân. Với bản thân tôi, và vài ba thi hữu thâm tình: đó là nỗi niềm mải miết sáng tạo – nói nôm na làm thơ đến… sắp chết; và đó là khoảng cách của cái “tôi” trong đời thường và trong thơ với các vấn đề Việt Nam.
5. Thách thức của thể loại: Với tư cách một người “đam mê và nghiên cứu sâu về thể loại trường ca”, ông đánh giá thế nào về sức sống và thách thức của trường ca Việt trong bối cảnh đương đại? Sự ra đời của các trường ca “phi chuẩn mực”, “phản trường ca” có phải là lối thoát tất yếu để thể loại này tiếp tục tồn tại và phát triển?
Giả nhời câu hỏi này không chỉ khó khăn về quan niệm, mà về nội dung nó kềnh càng lắm cơ. Rút dây động rừng: từ rừng tác phẩm, tác giả cho đến rừng phê bình – lí luận, dư luận…
Bản thảo khảo cứu của chúng tôi có những câu đoạn thế này:
Từ các năm 2009-2011, nhà nghiên cứu – lí luận Trần Thiện Khanh từng viết trong bài Đỗ Quyên và trường ca Việt Nam:
“Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, sự quan tâm đến nó cả ở phương diện văn học sử lẫn lí luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ. […] “Vùng trường ca” đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này.
Nhìn từ những yêu cầu, đòi hỏi như thế, chúng tôi xin giới thiệu những nỗ lực tìm hiểu khái quát các “hiện tượng trường ca” từng xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Đỗ Quyên. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, chính anh cũng là một tác giả tiêu biểu trong việc tìm tòi thể nghiệm cách tân trường ca ở nước ngoài. Cuộc lục khảo và hệ thống hóa có quy mô lớn lần đầu tiên về các hiện tượng trường ca này có thể xem là cuộc đi khai vỡ thêm những miền đất mới đầy hào hứng của anh, đồng thời cũng là sự trở về vùng đất quen thuộc của người trong cuộc giàu tâm huyết. Hy vọng, sau dịp này, tác giả Đỗ Quyên sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt thành hơn nữa của nhiều tác giả, độc giả.”
Để thấy “sức sống và thách thức của trường ca Việt trong bối cảnh đương đại”, chúng tôi đã đề xuất các phác họa về quan niệm mới:
“Đây đang chỉ là cơ sở cho một đề tài không dễ dàng, bởi có lẽ là lần đầu tiên đề cập khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam” và việc phân loại, nhận định có hệ thống và toàn diện loại hình này trong văn học Việt Nam hiện đại.
Các yếu tính nghệ thuật của thể loại để khu biệt “trường ca” giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lí luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới. Có lẽ, nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi – già xưa nhất, tươi lạ nhất và hoành tráng nhất – của Người Mẹ Văn Chương.
Bằng quan niệm mới về thể tài, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân định không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, chúng tôi thử đề nghị một số tiêu chí, khi thành lập danh sách, cũng như phân loại tác giả, phê bình tác phẩm.”
Về số lượng tác giả & tác phẩm: Ở tầm tay hạn hẹp, bằng phương pháp thống kê định lượng qua hơn 10 danh sách chuẩn, tạm thời ước tính: Cho đến năm 2015, trong tất cả hơn 2000 nhà thơ Việt hiện đại ở trong-ngoài Việt Nam (với khoảng 450 nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), và suy diễn theo số lượng tác giả trường ca và thơ dài, chúng tôi đã rút ra được tỷ lệ vàng 1/5. Đó là số các thi sĩ sáng tác theo phong cách trường ca trên tổng số các nhà thơ nói chung. Thật cân xứng: bàn tay có 5 ngón tay thơ thì người Việt dành 1 ngón cho thơ trường ca!
Cụ thể, với cập nhật 20/1/2021*), chúng tôi có được 491 tác giả và 1272 tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam (với 347 tác giả trường ca và 144 tác giả thơ dài có tính trường ca); tức là trong tổng số 491 tác giả đó, trung bình mỗi vị đã viết gần 3 tác phẩm có tính trường ca.
Về giá trị nhân sinh – thời cuộc, khảo cứu này muốn gióng lên câu hỏi:
Hiện tại trên thế giới liệu có một nền thơ ở một quốc gia nào khác, của một dân tộc nào khác, có tỷ lệ các “nhà trường ca” cao như ở Việt Nam không? Đã từng có nền văn học nào trên thế giới mà thể loại trường ca đạt tới đỉnh, về nghệ thuật, tư tưởng, số lượng tác giả và nhất là tác dụng xã hội, như dòng trường ca chiến tranh Việt Nam 1963-1975 và hậu chiến tranh 1975-1992 không?
Là từ trang lứa các “nhà trường ca trung úy” với những Thu Bồn & Nguyễn Khoa Điềm; Ngô Kha & Hữu Thỉnh; Trần Mạnh Hảo & Nguyễn Duy; Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu; Trần Vàng Sao & Trần Vũ Mai; Thanh Thảo & Nguyễn Trọng Tạo; Trần Đăng Khoa & Hoàng Trần Cương; Nguyễn Hữu Quý & Nguyễn Thụy Kha; Lê Văn Vọng & v.v.; đã đóng tên mình vào bảng thi ca chiến tranh như thế!
Là từ những Đặng Đình Hưng & Trần Dần; Chế Lan Viên & Thanh Tâm Tuyền; Tô Thùy Yên & Phạm Công Thiện; Trần Tuấn Kiệt & Du Tử Lê; Cao Đông Khánh & v.v. đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh như vậy! Dù ở thi pháp nào, nội dung nào, cảm hứng nào; dẫu là truyền thống sử thi – cách mạng hay cải cách hình thức cấu tứ, quan niệm nhân sinh – các bản trường ca đó đều là những “đứa con tốt lành” của mẹ trường ca Việt Nam.
Trước đòi hỏi hiển nhiên cần thay đổi quan niệm trường ca và thi pháp trường ca, một cao trào kéo theo sự xuất hiện nhiều trường ca theo hướng cải cách, cách tân, đổi mới được giới nghiên cứu định danh là phi-chuẩn-mực (nói ngôn ngữ mạnh là phản-trường-ca) với nhiều tác giả ở khắp trong ngoài đất nước, rộ lên khoảng 2000-2015 và ngay cả vài năm qua. Đó là các trường ca gia chuyên nghiệp chuyên tâm, như những Trần Nhuận Minh & Nguyễn Thanh Hiện; Trần Nghi Hoàng & Nguyễn Quang Thiều; Thanh Thảo & Ngu Yên; Trần Anh Thái & Inrasara; Thi Hoàng & Thế Dũng; Vĩnh Quang Lê & Nguyễn Hoàng Đức; Nguyễn Anh Nông & Phan Hoàng; Đặng Thân & Nguyễn Thế Hoàng Linh; Nguyễn Khắc Phục & Dương Kiều Minh; Đoàn Huy Giao & Nguyễn Viện; Dương Thuấn & Nguyễn Quốc Chánh; Lê Vĩnh Tài & Đặng Tiến (Thái Nguyên); Nguyễn Thị Thanh Bình & Trịnh Sơn; Trần Lê Khánh & Liêu Thái; Mai Văn Phấn & Nguyễn Đức Tùng; Đỗ Quyên & v.v. Và, 01 trường ca gia ngoại hạng: Nguyễn Linh Khiếu!
Thưa không ạ! Dòng nhánh phi-chuẩn-mực, đứa con thế hệ 4.0 của mẹ trường ca Việt Nam chỉ “là (một) lối thoát để thể loại này tiếp tục tồn tại và phát triển”. Nhưng chẳng thể là tất yếu. Nó có thể đã theo hướng khác, nếu… Ai mà có thể nói ngược lại với văn học sử thi ca? (Ấy thế với lịch sử chính trị, lại có thể đấy nhỉ?!)
Nói cho cùng và ai ai đều rõ: lối thoát tất yếu cho bất kỳ thể loại văn học nào luôn là… viết hay. Mỗi nhà thơ viết hay, cả dòng thơ sẽ hay. Thế thôi. Các phương pháp cách tân thơ Việt sau thời kỳ 1986 mà nhánh trường ca dự phần đáng kể đúng là cứu nguy cho một thời kỳ văn học.
Xét cho ngay và người người cũng tỏ: trong lịch sử văn chương thế giới và Việt Nam những trường phái này phong cách nọ thường có ý nghĩa văn học sử hơn là cứu cánh cho các kiệt tác với mọi thời đại. Truyện Kiều là ví dụ “khủng”, bất khả tư nghị – không thể bàn luận, vượt ngoài lí luận. Chiến tranh và hòa bình đấy thôi, rồi Cuốn theo chiều gió nữa chứ…
6. Đổi mới từ gốc rễ: Từ kinh nghiệm của bản thân, theo ông, sự đổi mới thơ ca cần bắt đầu từ đâu? Từ ngôn ngữ, cấu trúc, tư duy hình ảnh, hay từ chính tư tưởng và cách nhìn nhận thế giới của nhà thơ? Ông có lo ngại về sự đứt gãy với truyền thống trong các thử nghiệm của mình không?
Một câu hỏi mang tính tiên quyết cho lịch sử sáng tạo thi ca nói chung, cho từng người thơ nói riêng. Lời đáp không kềnh càng, mà lai rai, lằng nhằng. Lâu lâu, giới báo chí và giới lí luận lại đào bới lên, thi đàn thêm một lần nổi sóng, để rồi thi trường “vũ văn cẩn” hoặc sinh ra một thi trào mới, tùy duyên!
Nhiều thi sĩ ngơ ngác khó hiểu, mỉm cười rồi trở về câu thơ dang dở… Cũng không ít thi sĩ dẹp sang bên bài thơ vừa hạ chữ chót và lắng nghe, tranh biện, để rồi hoặc trở lại bản thảo cũ hoặc mở trang viết mới toanh.
Thiển ý tôi, câu hỏi “Đổi mới, cách tân thơ cần bắt đầu từ đâu?” không thể có lời đáp chung chung phủ sóng cho một tập thể lớn, một cộng đồng, một dân tộc ở mọi thời kỳ thi ca hay mọi xã hội, thể chế. Nhưng lại có thể với một tác giả (ở độ tuổi, tâm tính, đoạn đời nào đó – thất tình vợ mới bỏ bồ cũ đá tỷ dụ thế he he tha hồ thơ hay-mới-lạ à nha); một nhóm tác giả chung quan niệm sáng tạo (thi phái chẳng hạn), một nhóm cộng đồng trong thời điểm nhất định và thời thế nào đó (chiến tranh, di dân…).
Và quan trọng, khó có một “gốc rễ” chính, cho thơ.
Xin “trữ tình ngoại đề” chút chút. Tháng trước, lần đầu tiên, tôi đã đến được địa chỉ mà hẳn ai cũng mong đến ít nhất một lần trong đời con dân đất Việt trời Nam của mình: Mũi Cà Mau!
Xứ Năm Căn – Đất Mũi tận cùng cực nam giang sơn là rừng ngập mặn, bạt ngàn cây đước (có rễ chùm bám sâu) như một biểu tượng Năm Căn; ít hơn là cây mắm (tiên phong bồi đắp đất), và thưa hơn là tràm. Theo lời em hướng dẫn viên du lịch người gốc Hoa xinh xẻo, mỗi người chúng tôi trong đoàn nhìn chăm chăm vào chùm rất nhiều rễ của cây đước. Trong khi chụp hình, kẻ luôn ngạc nhiên là tôi cứ thầm nghĩ: Một cây đước có cả tá, hai tá rễ không chừng? Mỗi gốc cây tá rễ đó như một cột mốc nhỏ đóng chặt giữ sâu sông nước Mũi Cà Mau, hình thành, cố định và bảo vệ mặt cuối cùng phía nam Tổ quốc Việt Nam.
Về hỏi cụ Gúc-gồ mợ AI: Một cây đước thường có hệ thống rễ chống rất phát triển, mọc tua tủa quanh gốc để bám sâu vào đất lầy, với số lượng 8 đến 12 rễ chính bám vững chắc. Ngoài ra, cây còn có rễ cọc nhỏ cắm sâu và rễ thở mọc từ thân hoặc cành để hô hấp. Rễ đước thuộc loại rễ chân nôm, phát triển mạnh chống lại sóng, thủy triều, giúp cây đứng vững đất bùn. Đước là loài thực vật đặc trưng rừng ngập mặn, có vai trò to lớn bảo vệ bờ biển.
Nay liên hệ với câu hỏi của “Trò chuyện với nhà văn” càng thấy trúng với thơ. Thì đấy: âm vần, nhịp điệu, ngôn ngữ, cấu trúc, hình ảnh rồi tư tưởng, nhân sinh quan, thế giới quan, cảm hứng nhà thơ… đều là một rễ–chính của cây Thơ. Tùy từng Cây thơ Lermontov hay Thanh Tâm Tuyền, Apollinaire hay Auden, Chế Lan Viên hay Brecht… mà rễ nào là chính giữa các rễ-chính đó!
“Có lo ngại về sự đứt gãy với truyền thống trong các thử nghiệm của mình không?” Lo quá chứ! Ngại lắm chứ! Ai dám tuyên không lo, không ngại chết liền!
PHẦN III: NGHỀ VIẾT & ĐỜI VĂN
7. Kỷ luật và tự do: Làm thơ, đặc biệt là trường ca, đòi hỏi một sự kiên tâm lớn. Ông có thể chia sẻ về kỷ luật lao động chữ nghĩa của riêng mình? Làm thế nào để dung hòa giữa sự kỷ luật khắt khe ấy với sự tự do phóng túng vốn cần thiết cho sáng tạo?
Lu bù quá, không thể lục tìm lại trong các kho bản thảo, đành hỏi mợ AI:
“Cụm từ “toát mồ hôi mông” xuất hiện trong một đoạn văn xuôi hoặc câu văn tự sự miêu tả quá trình làm thơ vất vả của Đỗ Quyên, được nhắc đến trong bài viết Bốn mươi năm thơ Việt hải ngoại. Câu văn cụ thể là: “…Ngay anh đây làm thơ có những trận toát mồ hôi mông. Em ơi. Đó chính là những trang bài em từng đẫm lệ…”.
AI nói gần đúng phết. Đúng ra đó là một câu thơ trong trường ca Bài thơ không thuộc về ai (một trong bốn trường ca đã in trong tập sách Lòng Hải Lý hồi 2011).
Vâng, mần trường ca “vất vả” như rứa thì phải có kỷ luật thế nào chứ nhỉ! Quan sát kỹ sẽ thấy các nhà thơ trường ca có “kỷ luật lao động nhà văn” theo cách riêng, khác hẳn các tác giả thơ không–trường–ca.
Trước nhất, phải làm đến cùng về dàn bài cho một phác thảo bản trường ca, rồi muốn ra hổ ra voi hay cóc nhái cũng phải viết xong hòm hòm chừng một nửa đến già nửa bản thảo. (Lại ngoại đề trữ tình: tuần trước, ĐQ tôi may mắn được “làm VIP” trong cuộc vui bên vại bia Hà Nội lẩu cá Bắc Ninh trà Thái Nguyên; giữa 7 văn thi hữu mà 4 vị là trường ca gia, có một nhà trường ca nổi tiếng, chàng không ăn nhậu gì nhiều mà chỉ muốn đọc thử trích chương đầu bản trường ca Hàng quán ung thư đang mần kể từ khi phải chạy xạ trị. Hỏi đã làm đến đâu. Đáp: hơn nửa! Cả bàn bia nâng cốc lốp bốp ăn mừng thi sĩ dũng sĩ quên đau nhức thân còm bên trang bản thảo với những vần thơ quặn thắt mà tưng tửng, dồn dập mà dịu dàng về nỗi buồn tiếc của một thị dân Kẻ Chợ thời 3.0 trước phố phường Hà Thành 4.0.).
Bật tí mí trong kỷ luật này: Riêng tôi thì thường làm chương kết sau khi được non nửa, thậm chí một phần tư bản thảo theo dàn bài.
Các kỷ luật tiếp theo thường không róng riết lắm. Nhưng vẫn là kỷ luật.
Như là biết – có ý thức hay vô thức – dành dụm, tích góp từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, ngữ cảnh, nhất là ý tưởng dù to dẫu bé. Để rồi đến một giờ G ngày N, mở bàn tay ra là như mở vòi nước. Chứ ông bà nào viết trường ca mà “vòi ngôn từ” (cho dù hay lạ đến mấy) tong tong như vòi nước khu tập thể thời bao cấp thì có mà… sạt nghiệp. Cái nghiệp trường ca!
Cũng thế về hình ảnh. Hình ảnh nơi trí tưởng tượng của quý vị phải “đông như quân Nguyên”. Nhá! Sự biến báo các hình ảnh là một chỉ dấu cho bản trường ca “sạch nước cản”. Chứ như quan anh quan cô cứ cắc củm chầm bập một dúm hình tượng thi ảnh giáo điều, nhẵn chữ thi đàn thì mời chạy qua sân tứ tuyệt, đoản thi cho sớm chợ trường ca nhà chúng em ạ.
Còn sự kiên tâm: với trường ca chỉ là “muỗi” so với tiểu thuyết. Nhưng ở nó có cái kiên tâm trong sự bay. Bay, và đập cánh không ngưng nghỉ. “Xưa Thơ ngắn đi và nay Trường ca bắt đầu bay” (Xin nhại ngài tí, thưa Chế đại sư – người có thơ ngắn đã tạo bao vị nể mà trường ca từng gây nhiều bái phục). Quả thế, trong thơ trường ca không được phép có chiếu nghỉ, cho cả người viết lẫn người đọc.
Còn nữa, tác giả trường ca cần mang trong mình một khả năng tự biên tập đáng kể. Phải biết đọc lại bản thảo của mình như một người biên tập nhà nghề, về số lượng đọc lại bản thảo và chất lượng từng lần biên tập. Để điều chỉnh, tu sửa các thiếu sót, lỗi lầm, thậm chí sai trái khi phải phân thân theo dòng chảy mạnh mẽ, đa hướng của cảm xúc và ngôn từ. Không có thể loại con tự nào mà cảm xúc và ngôn từ lại “chạy ra như điên” giống ở trường ca. Với trường ca Maia là thế!
Kỷ luật nghiêm ngặt trong khi viết với sự tự do phóng túng của nghệ thuật trường ca có mâu thuẫn không? Tôi cả nghĩ từng tác giả có cách dung hòa riêng. Còn nếu không thì “đào ngũ” thành “trường ca quay”! Với tôi, có lẽ không bị khó ở vụ này do rất tự nhiên may mà có thói quen viết lách văn chương: Phóng túng trong chuẩn mực và chuẩn mực trong phóng túng, như đã nói rõ trong một bài nhiều năm trước. Không chỉ coi đó như kim chỉ nam cho bản thân, tôi cũng soi săm “các tay chơi” đồng nghiệp trường ca. Cao Đông Khánh là một kỳ nhân trường ca gia. Phóng túng tư duy nhân loại đã đời mà chuẩn mực dân Nam tộc Việt thì thôi rồi, (Lê Huy) Hòa ơi! Trần Anh Thái phóng túng dàn bài, cấu trúc và chuẩn mực ở suy tư. Thanh Thảo thì sao nhỉ? Cực chuẩn mực và rất phóng túng. Đố bạn đọc biết ảnh cực chuẩn mực ở các điểm nào và rất phóng túng theo những gì? (“Ba mươi giây bắt đầu, bạn có quyền trợ giúp từ người thân” ạ).
8. “Chua ngọt đời văn”: Trên hành trình gần nửa thế kỷ viết lách, ở cả trong và ngoài nước, hẳn ông đã trải qua không ít những khoảnh khắc “chua ngọt”. Ông có thể kể lại một trải nghiệm hoặc một cuộc gặp gỡ nào đó đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất, khiến ông vỡ lẽ về nghề, về thân phận người viết, hoặc về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống?
Câu hỏi kết thúc là đề tài bất tận của sự hậu viết lách ở chúng ta. Dân miền Nam có thành ngữ “chuyện dài nhân dân tự vệ”.
“Chua ngọt đời văn” – lại thêm một bản quyền của pho sách này?
Lẩm cẩm chiết tự chút cho vui màn kết.
“Vỡ lẽ”. Tôi thì nghĩ tại mình “ngu lâu”, mình ngây thơ, vô minh mà ngộ nhận. Chứ cái “lẽ” của một kẻ cầm bút, gần được như một kẻ sĩ – lẽ đó có phải quả trứng trái dưa đâu mà “vỡ” với chả không vỡ, thưa anh Chủ biên.
Như về mối quan hệ giữa văn chương bay bổng thăng thiên và đời sống là là ngọn cỏ? Đã có các siêu tiền bối phán rùi: “Cơm áo không đùa với khách thơ; “Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ. [lại là thi sĩ trường ca ha ha] Nghèo lắm, con ơi! Bạc lắm con” Rồi “chuyện dài nhân dân tự vệ” với Nỗi buồn chiến tranh và Bảo Ninh nhãn tiền.
“Chua ngọt đời văn”: Cho nên, nói thật ạ (phải công nhận trong khẩu ngữ của người Việt Nam ta gần đây trợ từ “ạ” tăng hơi bị mạnh), là tôi thuộc dòng tác giả “chua quên ngọt nhớ”. Mà đã có nhiều cái “ngọt” thì nó cũng sẽ được quên như bị quên nhiều cái “chua”.
9. Lời khuyên cho thế hệ sau: Nếu có một điều tâm huyết nhất ông muốn nhắn gửi đến những người trẻ đang bắt đầu hành trình sáng tác văn chương, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa văn hóa hiện nay, đó sẽ là điều gì? Làm thế nào để họ có thể viết nên những tác phẩm “đàng hoàng và tử tế” như ông từng mong ước?
Khó lắm cơ! Tôi thành thực “bàn ngang” rằng, bao điều tâm huyết nhất muốn nhắn gửi đến những người viết trẻ, nếu mà viết không trúng lách chưa khéo sẽ bị biến thành các sự “Biết rồi, khổ lắm nhắn gửi mãi!”
Chả hiểu sao dăm năm trước ĐQ tôi lại phóng bút mà mong ước các nhà văn trẻ viết nên những tác phẩm đàng hoàng và tử tế?
Nay xin bệ hạ (“những người trẻ đang bắt đầu hành trình sáng tác văn chương”) cho hạ thần được lui triều ạ!
Mong ước, đa số “bệ hạ” của chúng ta sẽ đồng thanh:
(Các) Khanh bình thân ạ!
Hà Nội – 3g20 sáng 30/1 của những tháng ngày hóng xuân Bính Ngọ 2026
Burnaby – 18/2 sửa lỗi & cập nhật
Đỗ Quyên
—–––––––––
(*)
Đặc biệt cảm ơn nhà trường ca Lê Văn Cường (Yên Bái) là độc giả và cũng là tác giả, những năm qua đã có nhiều quan tâm, đóng góp trong khảo cứu Trường ca Việt Nam – Tác giả và tác phẩm. Bản thảo giản lược gần đây nhất từng đăng ba kỳ trên Văn Việt 28-30/4/2015:
https://vandoanviet.blogspot.com/2015/04/truong-ca-viet-nam-tac-gia-va-tac-pham-1.html
https://vandoanviet.blogspot.com/2015/04/truong-ca-viet-nam-2.html
https://vandoanviet.blogspot.com/2015/04/truong-ca-viet-nam-3.html