Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982-1985) – kỳ 2

Hoàng Hưng

Chuyên án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học Laval, Quebec, Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước làm việc theo lời mời của các Viện chuyên môn. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.

Việc Hoàng Cầm cho Nguyễn Mạnh Hùng một bản chép tay VKB chẳng có gì cần bí mật, khi chưa hề có văn bản hay chỉ thị miệng của cấp thẩm quyền nói rằng tập thơ bị cấm lưu hành. Vả lại, ở cái quán rượu 43 Lý Quốc Sư mà Hoàng Cầm sống nhờ vào đó từ nhiều năm, lúc nào cũng chật khách trầm ngâm say và âm u khói thuốc, trong đó hầu hết là những người yêu văn nghệ “ngoài luồng”, và không ít “đặc tình” (cộng tác viên, nói nôm na là chỉ điểm của CA), “cá chìm” (tiếng lóng để chỉ trinh sát công an thường phục), thì có gì liên quan đến ông Hoàng “thơ chui” này mà giữ kín được! Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKB bắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi”(thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ trí thức/ rộng ra là người dân) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Theo Hoàng Cầm kể, thì năm 1973, CA Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phải ngưng, nhưng sau 1975, với không khí hào hứng của những ngày “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”, VKB lại có thêm độc giả ở miền Nam; và đến 1979, sự giao lưu với nước ngoài bắt đầu được cởi mở hơn, một số Việt kiều đã có được một số bài thơ chép tay của nhà thơ, trong đó dĩ nhiên “bộ ba cây-lá-quả” vẫn đứng đầu bảng. Hoàng Cầm có kể đích danh một “nữ bác sĩ” xưng tên là Cần Thơ ở Pháp đã xin ông gửi cho một số bài thơ; sau này bà cho biết bà là đệ tử của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Làng Mai (bà tên thật là Cao Thị Phượng, Cử nhân Sinh học, đệ tử ruột của thầy Nhất Hạnh từ những năm 1960 ở Sài Gòn, sau này là Sư cô Chân Không). Thầy Nhất Hạnh yêu thơ Hoàng Cầm từ thời kháng chiến chống Pháp và Nhân Văn Giai Phẩm, nên thông qua bà để liên lạc với nhà thơ. Bà thường xuyên gửi quà (chủ yếu là thuốc Tây để Hoàng Cầm dùng và bán lấy tiền sinh sống) và thư từ với ông. Bà lấy tên “Cần Thơ” có nghĩa là… cần có thơ! Chính Nam Dao là người đem một đĩa ghi âm Hoàng Cầm đọc thơ gửi sang Pháp cho bà. Trong khi xét hỏi bản thân tôi, một sĩ quan CA cho biết: VKB bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ “Cây-Lá-Quả” được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị. Theo Hoàng Cầm thì CA có đọc cho ông nghe bài viết ấy trên báo Quê Mẹ. Gần đây tôi mới được biết tờ báo này là của nhà thơ và người hoạt động xã hội Thi Vũ Võ Văn Ái.

Có lẽ khi Nam Dao đem bản VKB mà Hoàng Cầm chép tặng anh vào Sài Gòn thì chưa có quyết định mở “chuyên án”. Nhưng sau đó ít lâu, anh nhận được thư của Hoàng Cầm và nhạc sĩ Hồng Đăng vào Sài Gòn chơi cũng kịp nhắc anh cẩn thận. Vậy là anh không dám mang theo, mà gửi nó cho nhà ngữ học Cao Xuân Hạo cất giữ, nên khi ra sân bay bay về Canada, an ninh khám xét hành lý không thấy! Tuy nhiên, trong “tang vật” bắt được trong túi xách của tôi có một lá thư của Hoàng Cầm nhờ đem vào Sài Gòn gửi cho anh, thư dán kín nên tôi không biết nội dung! Vì thế, Nam Dao bị cấm về nước trong suốt 6 năm sau đó. Mãi đến năm 2002, lần đầu tiên hai người “đồng phạm” bất đắc dĩ chúng tôi mới gặp nhau ở Hà Nội khi anh nhờ tôi đưa đến chơi nhà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

Năm 2015, khi tôi công bố bài viết “Vụ án “Về Kinh Bắc” – một sự kiện hậu Nhân Văn” trên website talawas.org của nhà văn Phạm Thị Hoài ở Berlin (Đức), Nam Dao có gửi mấy lời “cước chú”:

“… từ vụ án VKB tôi phải đợi 6 năm, đến 1988, mới được về Việt Nam trong một phái đoàn GS Đại Học Canada được Bộ Ngoại Giao tiếp đón. Đến năm 1990, mặc dầu có giấy mời của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương, về đến Nội Bài thì tôi được lịch sự mời ra… với lý do gì đến nay tôi cũng chưa biết, nhưng đoán là sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì phải cấp tốc xây hàng rào bảo vệ Hà Nội. Xin Visa vài lần sau đó mà không được, tôi biết thân mình, nhưng khi Trịnh Công Sơn viết thư nói: “… mình hết thời gian rồi”, tôi có gặp bà Đại Sứ Việt Nam thuở đó, xin và được phép về năm 1998… Cái oái oăm là có những nghịch lý khó chấp nhận: khi Sơn đến Quebec thăm tôi năm 1992, anh biết tôi ấm ức, bảo: “… cứ coi họ là những đứa bé nghịch ngợm lấy chân di một đàn kiến…”. Ngẫm nghĩ, anh an ủi cả anh lẫn tôi, tiếp: “… nhưng rồi đứa bé ấy cũng phải lớn lên chứ”. Lớn lên thế nào không biết, nhưng lớn đủ để chính thức nói một lời xin lỗi những con kiến càng cỡ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… thì chưa!”.

HH thăm Nam Dao tại Quebec Canada năm 2018

Tóm lại, chậm nhất là vào mùa thu 1982, một chuyên án VKB đã được mở ra, với mục đích ngăn chặn việc đưa bản thảo này ra nước ngoài và bắt tội tác giả của nó, hoặc đơn giản chỉ là mượn cớ việc chuyển bản thảo này ra nước ngoài để trừng trị tác giả cho bõ ghét.

Theo Hoàng Cầm thì khả năng 2 là chính, ông nhất định cho rằng chính Tố Hữu là người chủ trương, vì căm ghét Hoàng Cầm đã dám chê thơ ông ta (vụ phê bình tập Việt Bắc năm 1956), chưa kể đã “dám nổi tiếng” hơn ông ta trong kháng chiến! Và cũng theo Hoàng Cầm, để làm việc này, Tố Hữu đã sử dụng một số “CA riêng” của mình (viên trưởng phòng điều tra xét hỏi của Sở CA Hà Nội Nguyễn Doãn Nhạ là người Huế, có lẽ là người như thế).

Tháng 2 năm 2022, dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hoàng Cầm với sự kiện ra mắt cuốn sách “Hoàng Cầm Về Kinh Bắc” ở Viện Pháp (Institut Français) Hà Nội do tôi chủ trì, nhà báo Nguyễn Thành Phong kể trên FB: Hồi đó anh làm việc ở NXB Công an, ông Khổng Minh Dụ trưởng phòng Văn hoá Văn nghệ của Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá (A25) có đến NXB khoe là mới “phá” được vụ trọng án Hoàng Cầm, Hoàng Hưng âm mưu chuyển văn hoá phẩm phản động VKB ra nước ngoài! Anh Phong có ý cho rằng vụ này chẳng qua là do ông họ Khổng bơm lên để “lập công”!

Cũng trong dịp này, trong buổi cùng tôi trò chuyện với đài BBC thì cựu đại tá Thái Kế Toại, nguyên trưởng phòng Văn nghệ Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá (A25) sau thời ông họ Khổng, lại cho rằng vụ VKB nằm trong chủ trương chung của ngành ngăn chặn mọi việc chuyển các tác phẩm bất lợi cho chế độ ra công bố ở nước ngoài. “Trở lại bối cảnh xã hội Việt Nam đầu những năm 80, Phạm Duy làm Ngục Ca phổ nhạc một chục bài thơ viết trong tù của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đang bị giam giữ. Ngục Ca và Cầm Ca của Phạm Duy càng làm cho không khí văn nghệ hải ngoại và phong trào kháng chiến hải ngoại phức tạp thêm. Từ các căn cứ, chiến khu ở Thái Lan những toán quân biệt kích của Hoàng Cơ Minh, của Võ Đại Tôn tìm cách xâm nhập vào Tây Nam Bộ, vào Tây Nguyên. Miền Trung thì có Phong trào Phun rô. Nhiều toán phản động gây bạo loạn. Làn sóng người vượt biển tỵ nạn. Các đài phát thanh tâm lý chiến, sách báo, băng nhạc, băng video hải ngoại chống Việt Nam. Bối cảnh chung đó ít nhiều là lý do cho việc ngăn chặn ý định đưa một tập bản thảo như Về Kinh Bắc ra nước ngoài”.

(Câu hỏi vẫn phải đặt ra: những ai đã quyết định rằng VKB có nội dung nguy hiểm đến mức phải dựng lên thành “chuyên án” điển hình để ngăn chặn việc chuyển ra nước ngoài các tác phẩm không có lợi cho chế độ?)

Thế là trong lúc cái lưới của “chuyên án VKB” đang giăng ra xung quanh quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, thì tôi ở Sài Gòn ra, vô tình chui vào đó, trở thành con cá cuối cùng để CA cất vó!

Tôi bị bắt chiều 17/8/1982 thì sáng 20/8/1982 công an đến bắt Hoàng Cầm tại nhà.

*

Chuyến đi “định mệnh” của tôi năm ấy còn có thêm vài chuyện cần kể lại.

Nguyên là mùa hè năm 1982, do lãng trí khi đi đường, tôi đâm xe honda vào một chiếc xe tải đang đậu trên đường, kết quả là gãy cả 7 chiếc răng hàm dưới, phải nằm bệnh viện cả tháng trời! Đến tháng 8 thì bị vào tù! Nhiều người phán rằng: Tam hợp (Dần-Ngọ-Tuất) biến tam tai! Tôi tuổi Nhâm Ngọ (1942), năm 1982 là Nhâm Tuất. Mà gãy răng là điềm xui lắm! Lại còn gãy đến 7 cái!

Chuyến ra Bắc lần này cũng có cái chưa từng có: tôi đi theo chiếc xe tải của Nhà máy xe đạp Hải Phòng! Người rủ tôi đi là Đồng Đức Bốn, nhân viên cung ứng của nhà máy vào SG mua các phụ tùng xe đạp đem ra, nhà máy chỉ có việc lắp ráp! Bốn đang tập làm thơ. Anh vốn mê thơ từ lúc rất trẻ. Bốn mới học xong cấp 2 (phổ thông cơ sở) ở trường làng, suốt thời gian tôi dạy môn Văn ở trường cấp 3 An Dương (Phố Rế, Hải Phòng), gần như chiều nào anh cũng đạp xe đến chỗ tôi ở trọ để nhờ tôi góp ý cho những bài thơ anh viết, và truyền cho những kiến thức chung về thơ, dịch cho nghe một số bài thơ nước ngoài! Về sau, Bốn thành nhà thơ rất nổi tiếng với những bài lục bát “nửa quê nửa giang hồ” độc đáo!

Cũng như mọi chuyến đi “công tác” kết hợp đi buôn, lần này tôi giắt trong túi quần jean 10 chỉ vàng nhẫn để mua hàng ở Hà Nội!

HH trước ngày bị bắt

Lần này, ngoài một số “hàng”, trong đó có chiếc máy rửa ảnh, phim giấy ảnh… tôi tình cờ mua được một món rất quý cho riêng mình: Bộ Báck khoa toàn thư (Larousse Encyclopédique) 20 tập mới nhất của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện! Bộ này do một Việt kiều ở Pháp mới gửi về tặng, bác sĩ không giữ riêng cho mình mà rao bán để “cứu đói” cho anh chị em cơ quan (tạp chí Études Vietnamiennes) nhưng chưa bán được (Viện Bách khoa toàn thư của Nhà nước trả rẻ quá!). Người giới thiệu tôi đến mua là ông Nguyễn Kiến Giang, người anh thân thiết với tôi từ năm 1975. Khi đó, tôi mới sinh con đầu Hoàng Ly, cả nhà đói ăn đói sữa, tôi tìm được mối dịch thuê tư liệu cho Viện Thông tin Khoa học Xã hội (trưởng phòng dịch là vợ của Bác sĩ Trần Hữu Tước, một trí thức ở Pháp đã theo Cụ Hồ về nước năm 1946 sau Hội nghị Fontainebleau). Tôi gặp người cựu tù nhân của vụ án “Xét lại” tại đấy!

Nguyễn Kiến Giang là nhà cách mạng hiếm hoi có tri thức uyên thâm. Từng là Phó Giám đốc NXB Sự Thật của Đảng Lao động, ông bị 6 năm tù, 3 năm quản chế trong vụ “Xét lại”. Sau khi ra tù, ông kiếm sống hoàn toàn bằng việc dịch thuê tư liệu. Anh rất tốt, đã nhường cho tôi dịch cả một cuốn sách về sử học, lần đầu tiên tôi kiếm được món tiền kha khá như thế ở Viện! Từ đó, tôi thường đến chơi với anh ở ngôi nhà tập thể phố Tuệ Tĩnh. Anh thường chia sẻ cho tôi nhiều ý tưởng về chính trị xã hội mang tính “xét lại”! Khi tôi vào Sài Gòn, anh còn gợi ý cho tôi đến Tổng Lãnh sự quán Liên Xô (mà không biết là tôi đã chán ngán mọi lý thuyết xã hội chủ nghĩa, kể cả “Chủ nghĩa Xét lại” hay “CNXH Dân chủ”!). Lần này ra Hà Nội thăm anh, anh cho tôi mang về nhà đọc bản đánh máy “Góp ý về đường lối kinh tế của đồng chí Lê Duẩn” phê phán chủ trương xây dựng “Pháo đài Huyện” của ông Tổng bí thư! May mà trước hôm về Sài Gòn tôi đã đem trả lại anh, nếu không công an bắt được tài liệu ấy trong hành lý của tôi thì “tội phản động” còn nặng đến đâu!

 HH thăm Nguyễn Kiến Giang tại Hà Nội những năm 1990

Cũng lại may hơn, là tôi đã quyết định không mang theo người vào SG bản thảo cuốn tiểu thuyết “Trư cuồng – Porcinomanie” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh theo đề nghị của anh! Từ thực tế phải sống bằng việc nuôi lợn trong ngôi nhà nát bên con sông Kim Ngưu chảy qua làng Thanh Nhàn thối hoắc vì ô nhiễm, anh Khánh đã viết ra cuốn tiểu thuyết “ngoài luồng” lạ lùng nhất lúc ấy, trong đó phơi bày cuộc sống u tối và cười ra nước mắt của một xã hội đói ăn, tri thức bị rẻ rúng, chiến thắng của lối sống thực dụng, sự theo dõi đầy ám ảnh của an ninh đối với trí thức văn nghệ sĩ! Ghê hơn nữa, cái chuồng lợn của anh đã trở thành hình ảnh một xã hội toàn trị điển hình nơi “tính lợn” hung tàn đã lấn át tính người!

Xin đọc ở đây bài viết về “Trư cuồng” cho bản Ebook mà tôi đã làm năm 2012, tức 30 năm sau đó:

Trư cuồng – lời cảnh báo 30 năm

30 năm, đọc lại Trư cuồng, cảm xúc vẫn như lần đầu. Lần đầu, chuyến đi Hà Nội mùa thu 1982 đầy sự cố, trong căn nhà nhỏ bên dòng Kim Ngưu đen và thối anh trao cho tôi tập bản thảo viết tay mới chỉ lưu truyền trong một nhúm bạn chí cốt. Cuốn truyện đã làm tôi mất ngủ.

Chỉ riêng những trang tả thực cảnh sống thảm thương của một gia đình nhà văn – nhà báo nháo nhác xoay quanh cái chuồng lợn, khi sức khỏe và sự tăng trọng từng ngày của lợn là mục tiêu sống của cả nhà, lũ lợn “nhai gau gáu” hết xương ông Tchekhov đến sọ ông Dos, “nỗi lợn” làm người chồng thành bất lực trên giường… đã đủ sức đánh gục người đọc bởi sự chân thực đầy cảm xúc những trải nghiệm sống của cây bút già dặn. Những trang sử – văn một thời cười ra nước mắt khi cả Hà Nội lao vào nuôi lợn như con đường duy nhất thoát đói nghèo (không chỉ Hà Nội, ở Sài Gòn lúc ấy nhiều hộ ở chung cư nuôi lợn đến nỗi làm tắc hết đường thoát nước!). Xung quanh đó là những câu chuyện bi thương của người lính “B quay” bị dồn đến bước đường cùng, là nỗi chua chát của những trí thức vỡ mộng sau cả tuổi thanh xuân hy sinh cho một lý tưởng cao vời giờ mới thấy không phải dành cho con người sống thực, là nỗi ám ảnh “hình ngục nan đào” với những thẩm vấn, theo dõi, gài bẫy, phản bội… mà ngành an ninh dùng để khủng bố những người viết có tư tưởng “chống đối”. (Tôi nhớ từ lâu mình đã đùa bảo các ông anh Dương Tường, Xuân Khánh, Châu Diên… ở Hà Nội bị cái “flicisme” nó ám – thấy chỗ nào cũng “flic”, thấy ai cũng “flic” (cớm chìm). Trong bài thơ Người đi tìm mặt năm 1973 của tôi có hình ảnh “Mặt ga đêm/miệng mở ngủ/ Giật thức/ mắt kinh hoàng” chính là ám ảnh “flic” ở mọi nơi. Đến khi bị bắt trong vụ Về Kinh Bắc, tôi mới biết các anh không hề tưởng tượng).

Riêng sức mạnh tả thực xã hội ấy của Trư cuồng đã vượt hẳn tầm “hiện thực phải đạo” chung của văn chương chính thống mấy thập kỷ. Nhưng chưa đâu! Cái chưa từng thấy trong rừng văn làng nhàng kia, chính là nỗi suy tư đau đáu về xã hội, về lý tưởng, về cuộc đời… Từ hiện thực của “lợn và người”, anh Khánh suy tư, những suy tư không chút tư biện mặc dù nhiều chỗ “nghĩ thành lời”, độc thoại, đối thoại (kể cả trong những cuộc thẩm vấn).

(Còn tiếp…)

This entry was posted in Tư liệu and tagged , . Bookmark the permalink.