Lê Minh Hà
Bà cái Hà có một niềm hãnh diện không giấu diếm trước các bà ở làng. Không bà nào tậu được cỗ áo quan như bà ở tuổi ấy, lúc tuổi mới chạm sáu mươi. Bốn tấm dài hai tấm ngắn, bào phẳng lì, gỗ vàng tâm nổi vân nâu sáng, nhìn như soi gương được, sờ tay vào thì mát rười rượi.Nhà bà cháu cái Hà khác nhiều nhà, gian giữa không có bàn thờ xây bệ vệ, rỗng gầm, để đồ hay đựng thóc, quét vôi trắng lốp. Đi sơ tán dọc ngang làng trên xóm dưới về, bà nhờ người đan một tấm vạt đóng đinh cố định vào bức tường hậu, giữa hai cây cột xây to vật hình tròn mà nó vòng tay cũng không ôm hết. Lúc còn bé, Hà rất thích đứng trên giường bám cột nhà để với mấy cuốn sách đặt ngay đầu bàn thờ. Sách không biết của ai ở nhờ nhà lúc bà cháu dạt đi để quên lại. Có sách Bình dân học vụ. Có cả truyện. Cái Hà lần mò tập đọc khi còn chưa được đi học bằng những kiến thức võ vẽ thu lượm được lúc bám cửa lớp học ở chùa làng Khảm Lâm và bằng mấy cuốn sách này. Nó biết chuyện Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Hoàng Trìu, Quan m Thị Kính, Nhị độ mai và vô khối chuyện khác đầu tiên là do bà kể, sau đó là tự đọc rồi kể lại cho bà cũng bắt đầu từ mấy cuốn sách bà không đọc được đặt trang trọng ở góc bàn thờ.
Ngoài mấy cuốn sách, bàn thờ chả có gì ngoài bát hương và bằng Tổ Quốc Ghi Công. Tên ông nó trên cái bằng đó ghi sai, thiếu dấu huyền, nhưng bà bảo thôi, ông chịu mất tên để con cháu được là con cháu liệt sĩ, chứ bới ra lần nữa thì không biết đến bao giờ mới được trên giải quyết, mà chắc gì đã xong, chưa xong thì có khi lại bị tiếp tục coi là nhà việt gian, thì chết, thì chết. Cái Hà đã nhiều lần đứng dưới ngửa cổ lần đọc từng chữ trên tấm bằng bùa hộ mệnh cho cả nhà đó, tự thắc mắc một mình ở dưới đất thì người ta gọi ông nó là gì, theo tên cụ đặt cho ông hay theo tên trên bàn thờ? Bát hương và tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công không thể nào với tới được lúc nào cũng bồng bềnh, cao vời trong trí nó.
Dưới bàn thờ, kê trên hai cái chân mễ là bộ quan tài chưa ghép mộng của bà, sáu tấm, bốn tấm dài, hai tấm ngắn, gỗ vàng tâm, kể có thêm cái bàn uống nước kê luôn đó thì ngồi sẽ rất tiện. Nhưng đến sờ vào đó thì chị em nó cũng phải rất rón rén, sợ bà mắng. Vài ba hôm bà lại cầm cái phất trần phẩy ngang phẩy dọc trên mặt gỗ, vừa phẩy bà vừa bảo có cỗ áo này rồi bà có chết đi thì bố mẹ cô chú chúng mày cũng không phải lo gì, còn giỗ bà thì cũng không phải bày vẽ gì, chỉ cần một bát nước chè xanh, quả dứa với lại mấy củ khoai lang. Bà nói, vừa tư lự vừa say mê, làm cái Hà lo lo. Tại có những ngày tháng hơi hơi yên hàn, như cái hồi mẹ nó cho nó bỏ học, đưa phắt nó về bà, chị nó với lũ em con bà cô ông chú chưa phải đi sơ tán lại, nhà chỉ có hai bà cháu nó. Bà là chỗ dựa duy nhất của nó ở làng, nơi lúc nào cũng làm nó hơi chờn chợn vì chẳng biết ai với ai, lại còn không có bạn. Nó lo bà chết. Còn con em họ nó thì lại sợ bà chết mà giỗ bà như bà bảo thì chán, chả được ăn giỗ to.
Ăn giỗ to là to thế nào? Mấy chị em đều nhất trí là to như giỗ ông. Bà chẳng mời ai, chỉ có mẹ con bà cháu. Mãi sau này cái Hà mới biết ngày đó nhà nào cũng ăn cỗ, không có giỗ vẫn có cỗ. Vì đó là ngày rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân, ngày chiêu hồn những người không được chết ở nhà, không được người nhà chôn cất. Nó hỏi bà nó sao không giỗ ông theo ngày ông hi sinh ghi trên bằng Tổ Quốc Ghi Công. Bà cái Hà chả bảo gì, chỉ thở dài. Hàng xóm bảo bác giỗ bác trai thế này thì coi như mất giỗ, bà vẫn lẳng lặng làm thế. Tận khi bác Mạch gái sang nhà khóc với bà vì nhận tin bác Mạch trai đã hi sinh, hi sinh nhưng chưa báo tử, chẳng biết phải cúng giỗ thế nào, bà mới nhỏ nhẹ bảo thương nhớ để trong lòng, cúng giỗ thì hương hoa cũng là cúng giỗ, anh ấy thật sống khôn chết thiêng thì sẽ về với mấy mẹ con từng ngày chứ chờ gì mâm cao cỗ đầy cháu biện. Đến khi đó cái Hà mới biết ngày ông nó hi sinh ghi trên bằng Tổ Quốc Ghi Công không thể là ngày giỗ ông được. Bà chỉ biết ang áng ông hi sinh đận chiến dịch Thu Đông năm một chín bốn bảy, trên Việt Bắc. Vậy là bà làm giỗ ông vào rằm tháng bảy. Bà rì rầm với bác Mạch hi sinh cũng là chết, chết vì gì thì cũng là chết, báu gì cái chuyện được công nhận nọ kia, chẳng qua chú nhà thím chết đi mang cái danh Việt gian thì con cháu không ngẩng đầu lên mà sống được nên là cứ phải đòi, cứ phải kiện đòi minh oan đến cùng để chú được công nhận là liệt sĩ. Hy sinh đời bố thì phải củng cố được đời con. May mà nhà thím bố mẹ bọn trẻ con là người nhà nước, còn biết đường kêu. Thím giỗ chú ngày này là để chú với anh em đồng chí tiếp tục bầu bạn dưới kia được ấm áp cùng nhau. Cùng cảnh ra đi, mất xương mất cốt, sông núi thì mênh mông mà mả riêng chưa chắc có, khấn vái riêng một người thì tội với nhiều người. Bác Mạch gái nghẹn ngào: “Hay là cháu về bảo với ông nhà cháu cứ làm như thím?!” Cái Hà nghe hóng, tự gật gù à biết rồi, biết vì sao trên bàn thờ chỉ có nải chuối bát hương mà mâm cỗ giỗ đầy phè kia bà lại đặt trên cái giường không ai nằm, không trải chiếu, kê sát khung cửa sổ mở ra vườn. Đấy là hai lần giỗ, giỗ ông mình với lại giỗ nhiều người làm ma ở ngoài đường ở chiến chường – Cái Hà ti toe giảng giải cho bà chị bé và mấy đứa em nhưng lớn hơn mình, thích chí vì mắt đứa nào cũng trố ra khi nghe.
Bà sợ cảnh người chết chỉ có tấm chiếu hay mùng màn đậy điệm khi chôn làm người sống áy náy hay gì mà tự tậu cỗ quan tài sớm thế chị em cái Hà không biết. Cỗ quan tài chưa ghép mộng oai vệ dưới bàn thờ ông một hôm bị hạ xuống. Máy bay Mỹ đánh phá ác liệt hơn. Có đêm bà phải đánh thức bầy cháu nằm đầy hai cái giường ở hai gian, giục chạy ra vườn, xuống hầm. Tối om, bọn trẻ lồm cồm lần mấy bậc đất tụt xuống, có hôm ngã chồng đống cá khê lên nhau, có hôm ướt như chuột lột vì ngập nước mưa chưa nhờ bên nhà ông Lúa tát đi được. Thế là bà gọi mấy chú hàng xóm tới nhờ đào hầm dưới gầm giường. Bốn tấm dài của cỗ quan tài chia đôi, kê lên làm nắp hầm, thò một đầu ra khỏi cái gầm giường thước sáu và thành nơi bà đặt âu trầu. Cái Hà rất thích ngồi ở đó lục lọi âu trầu của bà, gạ xin têm giầu cho bà. Nó cũng biết tiện miếng vỏ quạch bằng con dao bài nhỏ, bổ quả cau tươi hay chẻ hạt cau khô, xé lá giầu không quệt vôi, nhúm tí thuốc lào rồi cuộn lại đưa lên miệng bà. Nó không dám thử món đó bao giờ vì tận mắt thấy bà chị bé say trầu, lử lả ngã vật ra thềm vào phiên chợ trước đó lúc bà đi vắng, chỉ vì dám thử ăn trầu, lại còn nuốt cả nước cốt. Đánh đu chơi nhởn với lũ trẻ con trong xóm cả buổi mồ hôi mồ kê, về nhà, cái Hà thích khoanh chân chân ngồi ở đầu mấy tấm gỗ của cỗ áo quan chưa dùng nhìn ra vườn chuối. Cứ ngửi mùi trầu bà vừa nhai dập là không hiểu sao con bé rất yên tâm.
Rồi cũng hết chiến tranh. Bà theo chân mấy đứa cháu trở ra Hà Nội. Ở lại làng chỉ còn bà cô ruột cái Hà cùng mấy đứa con. Ngày ông đi kháng chiến, cô nó theo mẹ đưa em về làng tản cư, rồi thì làng bị Pháp chiếm, thành làng tề. Con gái thị thành da trắng tóc xanh mới mười sáu tuổi bị Tây bắt đi phu xây lô cốt ở đầu cầu, bà hoảng, đánh tiếng gả cô để cô được yên thân. Thế là kháng chiến thành công cô nó không thể trở ra Hà Nội được nữa, thành người nhà quê từ ấy. Cô chở bộ quan tài của bà về trên nhà, ngả ra thành bộ phản cho bầy con lăn lóc. Mấy tấm ván gỗ vàng tâm đã được bào bóng loáng, giờ càng bóng nhờ mồ hôi và đít trẻ con. Khi nào bà nằm xuống thì cả nhà sẽ đem mấy tấm ván ghép mộng lại, thế là thành cỗ áo để bà nằm. Rất oách. Cái Hà biết vậy từ lúc bé tí, biết, bà nó rất hãnh diện vì tậu được bộ quan tài để có chết đi thì bố mẹ cô chú nó sẽ không phải lo toan gì.
Hơn hai mươi năm sau bà cái Hà đi theo ông nó. Không biết tại sao mà rồi cỗ áo quan của bà không thấy chở ra Hà Nội. Bà về lại làng trong bộ ván mua theo tiêu chuẩn dành cho người chết tại cửa hàng làm quan tài ở phố 305, gần phố Lò Đúc nhà nó. Áo quan mậu dịch làm bằng gỗ tạp, sơn đỏ loét, không ghép mộng mà đóng đinh, chỗ hở chỗ vênh, phải nhờ vả chọn mãi mới được một cỗ tàm tạm cho bà.
Cỗ áo bà cái Hà dành dụm tự tậu cho mình lúc còn chưa tới tuổi sáu mươi vẫn là cái phản lên nước bóng ngời ở trên nhà bà cô nó.
Đám chắt của bà không đứa nào biết thực ra đó là bốn tấm ván của một cỗ quan tài được tậu từ sáu mươi năm về trước, được cụ của chúng tự chuẩn bị, để con cháu không phải khổ, lúc cụ sắp bước qua tuổi sáu mươi.
Cái Hà cứ thắc mắc một mình mãi suốt bao năm, còn hai tấm ván ngắn của cỗ áo mà bà tậu sớm thế nhưng vẫn không được nằm, cũng bằng gỗ vàng tâm, hai tấm gỗ ấy phiêu dạt nơi đâu không biết nữa.
Berlin, 24. 07.2022 – 07. 03. 2024
Rút từ SÔNG CÒN CHƯA CẠN
-
Người phụ trách Văn Việt:
Trịnh Y Thư
Emails:
Văn:
Thơ:
Nghiên cứu – Phê bình:
Vấn đề hôm nay:
-
DANH NGÔN
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt
trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ
nhưng không phải của thế giới này.”“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du
bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui
ne soit pas de ce monde.”(Albert Camus, Caligula).
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong
mình đôi chút điên rồ.”“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous
quelques petites folies.”(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự
thật.”“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” Friedrich
(Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước
đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng
đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn
như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al
bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a
tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione
degli imbecilli.”(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6
năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và
Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa
11.06.2015)-
Bài viết mới
- “Quốc mẫu”? 11 Tháng Hai, 2026
- Để “đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp”, cần một nền kinh tế đủ sức hấp thu 11 Tháng Hai, 2026
- René Magritte và triết học của cái phi lý (1) 11 Tháng Hai, 2026
- Hauntology và vấn đề “bóng ma” trong “Spectres de Marx” theo Colin Davis 11 Tháng Hai, 2026
- Thơ Quảng Tánh Trần Cầm 11 Tháng Hai, 2026
- “Xuyên qua mọi chiến tuyến” – khi lịch sử trở thành văn chương đương đại 10 Tháng Hai, 2026
- Phá Tam Giang, nơi hẹn với tử thần 10 Tháng Hai, 2026
- “Nơi trăng không hắt bóng” là một thế giới người tù khác lạ 10 Tháng Hai, 2026
- Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 11) 10 Tháng Hai, 2026
- Thơ Ngô Nguyên Dũng 10 Tháng Hai, 2026
- Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 5) 10 Tháng Hai, 2026
- “Thư gởi con trai” bản tiếng Anh vừa ra mắt ở Luân Đôn 10 Tháng Hai, 2026
- Thế giới thơ mộng Đinh Cường: “Đi vào cõi tạo hình II” 9 Tháng Hai, 2026
- Panorama đô thị mất tên SG, 08-2001 9 Tháng Hai, 2026
- Công lý và cứu rỗi trong một truyện ngắn của Lev Tolstoi 9 Tháng Hai, 2026
- Tập san Khoa học Kỹ thuật (1957-1973) 9 Tháng Hai, 2026
- Thơ Lê Huỳnh Lâm 9 Tháng Hai, 2026
- Ga xép 8 Tháng Hai, 2026
- Tập san Khoa học Kỹ thuật (1957–1973): một giấc mơ phổ biến khoa học giữa thời chiến 8 Tháng Hai, 2026
- Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 4) 8 Tháng Hai, 2026
- Thơ Lê An Thế 8 Tháng Hai, 2026
- Bộ phim “Sheep in the Box” của Hirokazu Kore-eda 8 Tháng Hai, 2026
- Khi sĩ phu ngoảnh mặt – bi kịch của một dân tộc 7 Tháng Hai, 2026
- Hàn sĩ nghinh xuân phú 7 Tháng Hai, 2026
- Thơ haiku của Miura Chora 7 Tháng Hai, 2026
- “A Châu đã bảo ta giữ đường này cho bộ đội, thì ta giữ đường này cho bộ đội” (“Nhớ” và “quên”, hay là sự tương tác giữa kí ức bản địa và hệ tư tưởng quốc gia) 6 Tháng Hai, 2026
- Kỹ thuật là ngôn ngữ của cảm xúc 6 Tháng Hai, 2026
- Thơ Phan Tấn Hải 6 Tháng Hai, 2026
- Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 3) 6 Tháng Hai, 2026
- Thơ có nhà thơ hay nhà thơ có thơ? 5 Tháng Hai, 2026
- “À la recherche du temps perdu”: tiểu thuyết của thời gian đã sống 5 Tháng Hai, 2026
- Những mới lạ trong “Dấu về gió xóa” của Hồ Anh Thái 5 Tháng Hai, 2026
- Thơ Nguyễn Quốc Chánh 5 Tháng Hai, 2026
- Bảy tám năm 4 Tháng Hai, 2026
- Tôi đọc thơ (1): Ý Nhi và Paul Éluard 4 Tháng Hai, 2026
- “Tư tưởng Phật giáo – Một giới thiệu toàn diện về truyền thống Ấn Độ” – cuốn sách lý tưởng để khám phá triết học Phật giáo 4 Tháng Hai, 2026
- Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 2) 4 Tháng Hai, 2026
- Thơ Nguyễn Thị Thanh Bình 4 Tháng Hai, 2026
- Trong tàn phai khao khát một niềm đau 3 Tháng Hai, 2026
- Phan Tấn Hải, “Bên trời ngồi viết… 3 Tháng Hai, 2026
- Chuyện làng văn: Nhà thơ trẻ bỏ viết… 3 Tháng Hai, 2026
- Người phiêu bạt “xé mặt nạ” 3 Tháng Hai, 2026
- Lý Tiểu Long là người kỳ thị, Đại Hán? 2 Tháng Hai, 2026
- Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 10) 2 Tháng Hai, 2026
- Chiếc “lá tương tư” bay về trời 2 Tháng Hai, 2026
- Đà Nẵng – Ngay lúc này đang khai mạc một triển lãm vô cùng đặc biệt! 2 Tháng Hai, 2026
- Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 1) 2 Tháng Hai, 2026
- Ngựa & Hoa – Lê Bá Đảng: Một cuộc trở về của năng lượng sống 2 Tháng Hai, 2026
- Mường Mán & Cần Thơ – Những ngày xưa thân ái 1 Tháng Hai, 2026
- Nghịch lý của nghệ thuật đương đại Việt Nam: Khi sự hiện diện tại triển lãm quốc tế không đồng nghĩa với được ghi chép lịch sử nghệ thuật 1 Tháng Hai, 2026
- Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên) 1 Tháng Hai, 2026
- Hiện hữu và tự do: Từ hữu thể học hiện sinh đến đạo đức học hiện sinh trong triết học Jean-Paul Sartre 31 Tháng Một, 2026
- Thơ Joyce Mansour 31 Tháng Một, 2026
- Tưởng nhớ Mường Mán: Qua Mấy Ngõ Hoa 31 Tháng Một, 2026
- Thơ Trịnh Y Thư 31 Tháng Một, 2026
- “Lục Địa Rồng” tạo thêm một mảnh ghép quan trọng trong vũ trụ fantasy/ sci-fi của tiểu thuyết gia trẻ tuổi Cao Việt Quỳnh 31 Tháng Một, 2026
- Cuốn sách nghệ thuật nặng 2,5 kg 30 Tháng Một, 2026
- Thơ thời AI – giải thưởng và sự trống rỗng 30 Tháng Một, 2026
- Oscar Wilde bàn về phê bình nghệ thuật 30 Tháng Một, 2026
- Nhà văn Mường Mán từ trần 29 Tháng Một, 2026
- Thơ văn rởm và trò hài nhảm trong thời loạn giá trị 29 Tháng Một, 2026
- Mại dâm và điếm bút 29 Tháng Một, 2026
- Nhà văn hóa kỳ vĩ Trương Vĩnh Ký 29 Tháng Một, 2026
- Cơn cớ GIA ĐÌNH của PHAN THÚY HÀ – cuốn sách đứng đầu top ten 5 năm 2020-2025 do Tuổi Trẻ Cuối Tuần bình chọn 28 Tháng Một, 2026
- Yến Năng – và triển lãm một mình… 28 Tháng Một, 2026
- Maiakovski: Tài năng rực cháy và bi kịch của kẻ “đi trước thời đại” 28 Tháng Một, 2026
- Thơ Huỳnh Liễu Ngạn 28 Tháng Một, 2026
- “Sentimental Value” – bộ phim nhận được nhiều đề cử Oscar 28 Tháng Một, 2026
- “Visibility is a trap” (Tản mạn sau khi đọc đôi cuốn sách) 27 Tháng Một, 2026
- Tư cách người cầm bút 27 Tháng Một, 2026
- Karl Jaspers: 50 năm sau. “Triết học vĩnh cửu” (philosophia perennis) trong tầm nhìn thời đại 27 Tháng Một, 2026
- Ly Hoàng Ly (1975 – Hà Nội, Việt Nam): Nghệ sĩ đa ngành và nhà thơ Việt Nam 27 Tháng Một, 2026
- Hậu Goulag và Alexandre Soljénitsyne 26 Tháng Một, 2026
- Mỹ học trong viễn tượng thông diễn học phổ quát (Gadamer và thuyết giải cấu trúc của Derrida) 26 Tháng Một, 2026
- Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 9) 25 Tháng Một, 2026
- Hiện Hữu, như một sự bừng nhuỵ đơm hoa (*) 25 Tháng Một, 2026
- Sở hữu Hư Vô 25 Tháng Một, 2026
- Tháng Một 25 Tháng Một, 2026
- Trông người lại ngẫm đến ta, trái banh đâu phải chỉ là trái banh 24 Tháng Một, 2026
- Thú tính trỗi dậy khi luật rừng thống trị xã hội 24 Tháng Một, 2026
- Sartre trong tôi: Một hoài niệm triết học và sự dấn thân 23 Tháng Một, 2026
- Thú nhận dục vọng và đạo đức nội tâm trong Kitô giáo: Đọc Michel Foucault 23 Tháng Một, 2026
- Nhớ cô họa sĩ bán tranh dạo nổi tiếng 23 Tháng Một, 2026
- Thơ Lê An Thế 23 Tháng Một, 2026
- Sách mới: Tuyển tập của Phan Tấn Hải ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG 23 Tháng Một, 2026
- Bay trên bốn mươi lăm ngọn gió bấc 22 Tháng Một, 2026
- Những sai lầm cốt lõi của giám tuyển đương đại 22 Tháng Một, 2026
- Văn chương bả 22 Tháng Một, 2026
- Thơ Nguyễn Hàn Chung 21 Tháng Một, 2026
- Cuộc chiến mà chúng ta không thể thua 21 Tháng Một, 2026
- Paul Gauguin – Chân dung tự họa 21 Tháng Một, 2026
- Hẹn ngày mai gặp lại Hoàng Sa! 20 Tháng Một, 2026
- Không có thịnh vượng nếu dân còn chật vật 20 Tháng Một, 2026
- “Phiên chợ Ba Tư” một ký ức âm nhạc đến muộn 20 Tháng Một, 2026
- Ký sự – Về thăm quê hương (3) 20 Tháng Một, 2026
- Giới thiệu sách “Trên cả hận thù” của Tiêu Dao Bảo Cự do ChatKP dịch sang tiếng Anh 20 Tháng Một, 2026
- Không thể để mất sông Hậu trong im lặng 19 Tháng Một, 2026
- Hoàng Sa: Luôn nhớ để giữ vững lịch sử, pháp lý và đạo lý 19 Tháng Một, 2026
- Thông cáo báo chí của tui: “Nỗi buồn chiến tranh” đã kết thúc, bây giờ là chiến dịch “dọn dẹp nhà cửa”! 19 Tháng Một, 2026
- Hiện tượng Nguyễn Ngọc Thuần 19 Tháng Một, 2026
Danh sách liên kết