Lê Minh Hà
Bà cái Hà có một niềm hãnh diện không giấu diếm trước các bà ở làng. Không bà nào tậu được cỗ áo quan như bà ở tuổi ấy, lúc tuổi mới chạm sáu mươi. Bốn tấm dài hai tấm ngắn, bào phẳng lì, gỗ vàng tâm nổi vân nâu sáng, nhìn như soi gương được, sờ tay vào thì mát rười rượi.Nhà bà cháu cái Hà khác nhiều nhà, gian giữa không có bàn thờ xây bệ vệ, rỗng gầm, để đồ hay đựng thóc, quét vôi trắng lốp. Đi sơ tán dọc ngang làng trên xóm dưới về, bà nhờ người đan một tấm vạt đóng đinh cố định vào bức tường hậu, giữa hai cây cột xây to vật hình tròn mà nó vòng tay cũng không ôm hết. Lúc còn bé, Hà rất thích đứng trên giường bám cột nhà để với mấy cuốn sách đặt ngay đầu bàn thờ. Sách không biết của ai ở nhờ nhà lúc bà cháu dạt đi để quên lại. Có sách Bình dân học vụ. Có cả truyện. Cái Hà lần mò tập đọc khi còn chưa được đi học bằng những kiến thức võ vẽ thu lượm được lúc bám cửa lớp học ở chùa làng Khảm Lâm và bằng mấy cuốn sách này. Nó biết chuyện Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Hoàng Trìu, Quan m Thị Kính, Nhị độ mai và vô khối chuyện khác đầu tiên là do bà kể, sau đó là tự đọc rồi kể lại cho bà cũng bắt đầu từ mấy cuốn sách bà không đọc được đặt trang trọng ở góc bàn thờ.
Ngoài mấy cuốn sách, bàn thờ chả có gì ngoài bát hương và bằng Tổ Quốc Ghi Công. Tên ông nó trên cái bằng đó ghi sai, thiếu dấu huyền, nhưng bà bảo thôi, ông chịu mất tên để con cháu được là con cháu liệt sĩ, chứ bới ra lần nữa thì không biết đến bao giờ mới được trên giải quyết, mà chắc gì đã xong, chưa xong thì có khi lại bị tiếp tục coi là nhà việt gian, thì chết, thì chết. Cái Hà đã nhiều lần đứng dưới ngửa cổ lần đọc từng chữ trên tấm bằng bùa hộ mệnh cho cả nhà đó, tự thắc mắc một mình ở dưới đất thì người ta gọi ông nó là gì, theo tên cụ đặt cho ông hay theo tên trên bàn thờ? Bát hương và tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công không thể nào với tới được lúc nào cũng bồng bềnh, cao vời trong trí nó.
Dưới bàn thờ, kê trên hai cái chân mễ là bộ quan tài chưa ghép mộng của bà, sáu tấm, bốn tấm dài, hai tấm ngắn, gỗ vàng tâm, kể có thêm cái bàn uống nước kê luôn đó thì ngồi sẽ rất tiện. Nhưng đến sờ vào đó thì chị em nó cũng phải rất rón rén, sợ bà mắng. Vài ba hôm bà lại cầm cái phất trần phẩy ngang phẩy dọc trên mặt gỗ, vừa phẩy bà vừa bảo có cỗ áo này rồi bà có chết đi thì bố mẹ cô chú chúng mày cũng không phải lo gì, còn giỗ bà thì cũng không phải bày vẽ gì, chỉ cần một bát nước chè xanh, quả dứa với lại mấy củ khoai lang. Bà nói, vừa tư lự vừa say mê, làm cái Hà lo lo. Tại có những ngày tháng hơi hơi yên hàn, như cái hồi mẹ nó cho nó bỏ học, đưa phắt nó về bà, chị nó với lũ em con bà cô ông chú chưa phải đi sơ tán lại, nhà chỉ có hai bà cháu nó. Bà là chỗ dựa duy nhất của nó ở làng, nơi lúc nào cũng làm nó hơi chờn chợn vì chẳng biết ai với ai, lại còn không có bạn. Nó lo bà chết. Còn con em họ nó thì lại sợ bà chết mà giỗ bà như bà bảo thì chán, chả được ăn giỗ to.
Ăn giỗ to là to thế nào? Mấy chị em đều nhất trí là to như giỗ ông. Bà chẳng mời ai, chỉ có mẹ con bà cháu. Mãi sau này cái Hà mới biết ngày đó nhà nào cũng ăn cỗ, không có giỗ vẫn có cỗ. Vì đó là ngày rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân, ngày chiêu hồn những người không được chết ở nhà, không được người nhà chôn cất. Nó hỏi bà nó sao không giỗ ông theo ngày ông hi sinh ghi trên bằng Tổ Quốc Ghi Công. Bà cái Hà chả bảo gì, chỉ thở dài. Hàng xóm bảo bác giỗ bác trai thế này thì coi như mất giỗ, bà vẫn lẳng lặng làm thế. Tận khi bác Mạch gái sang nhà khóc với bà vì nhận tin bác Mạch trai đã hi sinh, hi sinh nhưng chưa báo tử, chẳng biết phải cúng giỗ thế nào, bà mới nhỏ nhẹ bảo thương nhớ để trong lòng, cúng giỗ thì hương hoa cũng là cúng giỗ, anh ấy thật sống khôn chết thiêng thì sẽ về với mấy mẹ con từng ngày chứ chờ gì mâm cao cỗ đầy cháu biện. Đến khi đó cái Hà mới biết ngày ông nó hi sinh ghi trên bằng Tổ Quốc Ghi Công không thể là ngày giỗ ông được. Bà chỉ biết ang áng ông hi sinh đận chiến dịch Thu Đông năm một chín bốn bảy, trên Việt Bắc. Vậy là bà làm giỗ ông vào rằm tháng bảy. Bà rì rầm với bác Mạch hi sinh cũng là chết, chết vì gì thì cũng là chết, báu gì cái chuyện được công nhận nọ kia, chẳng qua chú nhà thím chết đi mang cái danh Việt gian thì con cháu không ngẩng đầu lên mà sống được nên là cứ phải đòi, cứ phải kiện đòi minh oan đến cùng để chú được công nhận là liệt sĩ. Hy sinh đời bố thì phải củng cố được đời con. May mà nhà thím bố mẹ bọn trẻ con là người nhà nước, còn biết đường kêu. Thím giỗ chú ngày này là để chú với anh em đồng chí tiếp tục bầu bạn dưới kia được ấm áp cùng nhau. Cùng cảnh ra đi, mất xương mất cốt, sông núi thì mênh mông mà mả riêng chưa chắc có, khấn vái riêng một người thì tội với nhiều người. Bác Mạch gái nghẹn ngào: “Hay là cháu về bảo với ông nhà cháu cứ làm như thím?!” Cái Hà nghe hóng, tự gật gù à biết rồi, biết vì sao trên bàn thờ chỉ có nải chuối bát hương mà mâm cỗ giỗ đầy phè kia bà lại đặt trên cái giường không ai nằm, không trải chiếu, kê sát khung cửa sổ mở ra vườn. Đấy là hai lần giỗ, giỗ ông mình với lại giỗ nhiều người làm ma ở ngoài đường ở chiến chường – Cái Hà ti toe giảng giải cho bà chị bé và mấy đứa em nhưng lớn hơn mình, thích chí vì mắt đứa nào cũng trố ra khi nghe.
Bà sợ cảnh người chết chỉ có tấm chiếu hay mùng màn đậy điệm khi chôn làm người sống áy náy hay gì mà tự tậu cỗ quan tài sớm thế chị em cái Hà không biết. Cỗ quan tài chưa ghép mộng oai vệ dưới bàn thờ ông một hôm bị hạ xuống. Máy bay Mỹ đánh phá ác liệt hơn. Có đêm bà phải đánh thức bầy cháu nằm đầy hai cái giường ở hai gian, giục chạy ra vườn, xuống hầm. Tối om, bọn trẻ lồm cồm lần mấy bậc đất tụt xuống, có hôm ngã chồng đống cá khê lên nhau, có hôm ướt như chuột lột vì ngập nước mưa chưa nhờ bên nhà ông Lúa tát đi được. Thế là bà gọi mấy chú hàng xóm tới nhờ đào hầm dưới gầm giường. Bốn tấm dài của cỗ quan tài chia đôi, kê lên làm nắp hầm, thò một đầu ra khỏi cái gầm giường thước sáu và thành nơi bà đặt âu trầu. Cái Hà rất thích ngồi ở đó lục lọi âu trầu của bà, gạ xin têm giầu cho bà. Nó cũng biết tiện miếng vỏ quạch bằng con dao bài nhỏ, bổ quả cau tươi hay chẻ hạt cau khô, xé lá giầu không quệt vôi, nhúm tí thuốc lào rồi cuộn lại đưa lên miệng bà. Nó không dám thử món đó bao giờ vì tận mắt thấy bà chị bé say trầu, lử lả ngã vật ra thềm vào phiên chợ trước đó lúc bà đi vắng, chỉ vì dám thử ăn trầu, lại còn nuốt cả nước cốt. Đánh đu chơi nhởn với lũ trẻ con trong xóm cả buổi mồ hôi mồ kê, về nhà, cái Hà thích khoanh chân chân ngồi ở đầu mấy tấm gỗ của cỗ áo quan chưa dùng nhìn ra vườn chuối. Cứ ngửi mùi trầu bà vừa nhai dập là không hiểu sao con bé rất yên tâm.
Rồi cũng hết chiến tranh. Bà theo chân mấy đứa cháu trở ra Hà Nội. Ở lại làng chỉ còn bà cô ruột cái Hà cùng mấy đứa con. Ngày ông đi kháng chiến, cô nó theo mẹ đưa em về làng tản cư, rồi thì làng bị Pháp chiếm, thành làng tề. Con gái thị thành da trắng tóc xanh mới mười sáu tuổi bị Tây bắt đi phu xây lô cốt ở đầu cầu, bà hoảng, đánh tiếng gả cô để cô được yên thân. Thế là kháng chiến thành công cô nó không thể trở ra Hà Nội được nữa, thành người nhà quê từ ấy. Cô chở bộ quan tài của bà về trên nhà, ngả ra thành bộ phản cho bầy con lăn lóc. Mấy tấm ván gỗ vàng tâm đã được bào bóng loáng, giờ càng bóng nhờ mồ hôi và đít trẻ con. Khi nào bà nằm xuống thì cả nhà sẽ đem mấy tấm ván ghép mộng lại, thế là thành cỗ áo để bà nằm. Rất oách. Cái Hà biết vậy từ lúc bé tí, biết, bà nó rất hãnh diện vì tậu được bộ quan tài để có chết đi thì bố mẹ cô chú nó sẽ không phải lo toan gì.
Hơn hai mươi năm sau bà cái Hà đi theo ông nó. Không biết tại sao mà rồi cỗ áo quan của bà không thấy chở ra Hà Nội. Bà về lại làng trong bộ ván mua theo tiêu chuẩn dành cho người chết tại cửa hàng làm quan tài ở phố 305, gần phố Lò Đúc nhà nó. Áo quan mậu dịch làm bằng gỗ tạp, sơn đỏ loét, không ghép mộng mà đóng đinh, chỗ hở chỗ vênh, phải nhờ vả chọn mãi mới được một cỗ tàm tạm cho bà.
Cỗ áo bà cái Hà dành dụm tự tậu cho mình lúc còn chưa tới tuổi sáu mươi vẫn là cái phản lên nước bóng ngời ở trên nhà bà cô nó.
Đám chắt của bà không đứa nào biết thực ra đó là bốn tấm ván của một cỗ quan tài được tậu từ sáu mươi năm về trước, được cụ của chúng tự chuẩn bị, để con cháu không phải khổ, lúc cụ sắp bước qua tuổi sáu mươi.
Cái Hà cứ thắc mắc một mình mãi suốt bao năm, còn hai tấm ván ngắn của cỗ áo mà bà tậu sớm thế nhưng vẫn không được nằm, cũng bằng gỗ vàng tâm, hai tấm gỗ ấy phiêu dạt nơi đâu không biết nữa.
Berlin, 24. 07.2022 – 07. 03. 2024
Rút từ SÔNG CÒN CHƯA CẠN
-
Người phụ trách Văn Việt:
Trịnh Y Thư
Emails:
Văn:
Thơ:
Nghiên cứu – Phê bình:
Vấn đề hôm nay:
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula).
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
-
Bài viết mới
- Nguyễn Khắc Dương – Nguyện lót chân êm khách vỉa hè! 1 Tháng Mười, 2026
- Vĩnh biệt hành giả Stéphane Nguyễn Khắc Dương 30 Tháng Chín, 2026
- Vĩnh biệt Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương 30 Tháng Chín, 2026
- Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên) 30 Tháng Chín, 2026
- Cô Bé Ngón Tay – một thế hệ đột biến 30 Tháng Chín, 2026
- Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 2) 30 Tháng Chín, 2026
- Việt Nam: Thực tiễn giáo dục và vai trò của Phật giáo 29 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền: nghe đâu vọng lại 29 Tháng Chín, 2026
- Doãn Quốc Sỹ – Doãn Nho: chia cắt và di sản 29 Tháng Chín, 2026
- Mở xưởng Họa hoằn Họa xá – Hội họa như một lát cắt của quá trình vẫn đang tiếp diễn 28 Tháng Chín, 2026
- Serenata – Những buổi chiều còn ở lại 28 Tháng Chín, 2026
- Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 1) 28 Tháng Chín, 2026
- Hữu Loan – cây gỗ lim màu tím 27 Tháng Chín, 2026
- Tiếng Việt từ TK 17: các truyền thống tang chế (phần 52) 27 Tháng Chín, 2026
- Hữu Loan – cây gỗ lim màu tím 27 Tháng Chín, 2026
- Những cuộc đấu tố 27 Tháng Chín, 2026
- Sinh tử và những vết chân cát xóa 27 Tháng Chín, 2026
- Chuyện gì đến sẽ đến 26 Tháng Chín, 2026
- Tiệm cầm đồ 26 Tháng Chín, 2026
- Những bức tranh tự giới thiệu mình là ai 26 Tháng Chín, 2026
- Sự trở lại của bóng ma “đọc kiểu xã hội học dung tục” 25 Tháng Chín, 2026
- Đỗ Đức Dục và bi kịch của một trí thức dân chủ trong cách mạng 25 Tháng Chín, 2026
- Đi, đọc và viết – những chuyến đi xa và những cuộc trở về của Phạm Xuân Đài 25 Tháng Chín, 2026
- Thơ Quảng Tánh Trần Cầm 25 Tháng Chín, 2026
- Thế nào là “khép lại quá khứ”? 24 Tháng Chín, 2026
- Nobel Văn chương 2026, ai sẽ bước qua cánh cửa Stockholm? 24 Tháng Chín, 2026
- Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm – Cuộc lữ đi tìm bản thể con người 24 Tháng Chín, 2026
- Vạn sắc hư vô bản tiếng Trung 《万色虚无》 vừa được chọn vào Top 10 tiểu thuyết dịch hay nhất tháng 8/2026 của 探照灯好书. 24 Tháng Chín, 2026
- Quan điểm của Giáo hoàng về AI (một cảm nhận riêng) 23 Tháng Chín, 2026
- Ngọn lửa thiêng 23 Tháng Chín, 2026
- Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to” 23 Tháng Chín, 2026
- Cái đêm hôm ấy… đêm gì? 23 Tháng Chín, 2026
- Cơn sốt The Odyssey ở Hàn Quốc 23 Tháng Chín, 2026
- Thơ Nguyễn Phương Đình 23 Tháng Chín, 2026
- Hợp tác Lancang-Mekong: Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm 22 Tháng Chín, 2026
- Ngựa trên đất Việt – từ con vật ngoại nhập đến người bạn của miền sơn cước 22 Tháng Chín, 2026
- Tiểu thuyết của các nước đồng văn thời phong kiến 22 Tháng Chín, 2026
- Câu chuyện thị trường nghệ thuật: “con nhà giàu” cũng không thể hiểu nổi… 21 Tháng Chín, 2026
- Trí tuệ Phật giáo trước thách thức của trí tuệ nhân tạ 21 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền 21 Tháng Chín, 2026
- Tháng Chín 21 Tháng Chín, 2026
- Nhân Đất trắng tái bản, nhớ và ghi lại vài điều về cha tôi, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh 20 Tháng Chín, 2026
- Hữu Loan – Người thơ bận việc làm người 20 Tháng Chín, 2026
- Thầy Phu 20 Tháng Chín, 2026
- Khi diễn ngôn thay thế cho cái nhìn – Chút lời chia sẻ về hiện tượng “diễn ngôn giả” 20 Tháng Chín, 2026
- Đừng bắt người nghèo phải trở thành anh hùng mới được đi học 19 Tháng Chín, 2026
- Làm sao để AI phục vụ con người trong một tương lai không biết trước 19 Tháng Chín, 2026
- Hãy coi chừng sự già nua, cằn cỗi của chính tâm hồn mình… 19 Tháng Chín, 2026
- Thị trường nghệ thuật không vận hành như một “chợ cá” 19 Tháng Chín, 2026
- Thử nghĩ về câu hỏi của Võ Tấn Cường: “Bùi Chát đã đem đến cho hội họa đương đại Việt Nam điều gì?” 19 Tháng Chín, 2026
- Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tibet 18 Tháng Chín, 2026
- Cuộc đời vô nghĩa? 18 Tháng Chín, 2026
- Giới thiệu Tuyển tập thơ Ngu Yên 1978-2026, ấn bản đặc biệt 18 Tháng Chín, 2026
- Thơ Trần Mộng Tú 18 Tháng Chín, 2026
- Đất nước tràng hạt (kỳ 5 – hết) 18 Tháng Chín, 2026
- Đoàn Huy Giao: Người đi tìm những miền ký ức 17 Tháng Chín, 2026
- Boris Pasternak 17 Tháng Chín, 2026
- Tưởng niệm “Tảng Đá” Hữu Loan 17 Tháng Chín, 2026
- Bữa cơm chiều 17 Tháng Chín, 2026
- Mãi nợ một lời tạm biệt – Trở về với một tuổi thơ đã mất 17 Tháng Chín, 2026
- Sự nguy hiểm của trí tuệ nhân tạo AI càng nguy hiểm hơn với người Việt… 16 Tháng Chín, 2026
- Trái tim quả lắc 16 Tháng Chín, 2026
- Tuyên ngôn thi 16 Tháng Chín, 2026
- Đất nước tràng hạt (kỳ 4) 16 Tháng Chín, 2026
- Thơ Trần Ngọc Cư 16 Tháng Chín, 2026
- Khúc quân hành lặng lẽ 15 Tháng Chín, 2026
- Chuyện ở trong Xứ động vật 15 Tháng Chín, 2026
- Phân thân và Đối thoại trong Bài thơ Không của hoàng hôn của Đoàn Huy Giao 15 Tháng Chín, 2026
- Đánh mất tuổi thơ ngây 15 Tháng Chín, 2026
- Ba mươi năm Tạp chí TRIẾT HỌC VÀ TƯ TƯỞNG: Giới thiệu phiên bản mới (new.tapchitriet.com) 15 Tháng Chín, 2026
- Tưởng niệm Cung Tích Biền 14 Tháng Chín, 2026
- Tưởng nhớ Cung Tích Biền, đọc Đành lòng sống trong phòng Đợi của lịch sử 14 Tháng Chín, 2026
- Vài điểm cần minh xác về mối quan hệ giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng 14 Tháng Chín, 2026
- Xã hội cần trả ơn cô giáo 14 Tháng Chín, 2026
- Từ năng lực đọc hiểu đến những khẩu hiệu quốc gia 13 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền và phần tật nguyền của lịch sử 13 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền – một người anh, một người viết 13 Tháng Chín, 2026
- Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp 13 Tháng Chín, 2026
- Ai đang giữ ký ức của mỹ thuật Việt Nam? – Một góc nhìn về nhà sưu tập mỹ thuật Việt Nam 13 Tháng Chín, 2026
- Đất nước tràng hạt (kỳ 3) 13 Tháng Chín, 2026
- Thơ Haiku của Matsunaga Teitoku 13 Tháng Chín, 2026
- Thơ Thiền Zen Paul Vân Thuyết 13 Tháng Chín, 2026
- Nhà văn Cung Tích Biền qua đời 12 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền: Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh… 12 Tháng Chín, 2026
- Cung Tích Biền “Đành lòng sống trong phòng Đợi của lịch sử” 12 Tháng Chín, 2026
- Những hệ lụy từ mô hình tăng trưởng dựa vào đất đai của Việt Nam (The Perils of Vietnam’s Land-led Growth) 12 Tháng Chín, 2026
- Lê Văn Duyệt – Bi kịch của lòng trung 12 Tháng Chín, 2026
- Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 12 Tháng Chín, 2026
- Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ “Nóc Nhà Thế Giới” tới thảm họa Nepal – Tây Tạng 2026 11 Tháng Chín, 2026
- Hồ Gươm có cần một “Khải Hoàn Môn”? 11 Tháng Chín, 2026
- Bờ Hồ – Để giết một nơi chốn 11 Tháng Chín, 2026
- Lễ giỗ lần thứ 194 Đức Tả quân Lê Văn Duyệt 11 Tháng Chín, 2026
- Từ “ngôn ngữ nhỏ” đến văn học thế giới: vài vấn đề cần bàn lại 11 Tháng Chín, 2026
- Xin đừng xâm phạm và xoá bỏ giá trị lịch sử thiêng liêng của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội 10 Tháng Chín, 2026
- Le Cid và Corneille cũng bị đấu tố! 10 Tháng Chín, 2026
- Trao đổi với nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi 10 Tháng Chín, 2026
- Để có một thế giới trưởng thành 10 Tháng Chín, 2026
- Sự khác biệt giữa “tiệm” và “quán” 10 Tháng Chín, 2026
- Uống rượu với thời gian 9 Tháng Chín, 2026
- Nguyễn Viện: Khi tuyệt vọng cũng mang thân xác con người… 9 Tháng Chín, 2026
Danh sách liên kết