Thế nào là “khép lại quá khứ”?

Nguyễn Văn Tuấn

Mấy ngày qua, trong chuyến đi Mĩ, TBT Tô Lâm một lần nữa kêu gọi cộng đồng người Việt ở nước ngoài “khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc”.

Rất khó để không đồng tình với thông điệp đó.

Một dân tộc không thể sống mãi trong chiến tranh. Sau hơn nửa thế kỉ, người Việt ở trong nước cũng như ngoài nước cần tìm cách sống với nhau mà không để những chia rẽ của một cuộc chiến đã kết thúc năm 1975 tiếp tục truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Thế nào là “Khép lại quá khứ”

Nhưng có một câu hỏi mà tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng: Thế nào là “khép lại quá khứ”? Các vị lãnh đạo nói câu này rất nhiều lần nhưng họ chưa giải thích nó có nghĩa là gì.

Các văn bản và văn kiện cũng nói đến ‘Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai’, đọc lên nghe vần điệu thanh thanh, nhưng không biết nó có nghĩa gì trong thực tế.

Khép lại không có nghĩa là quên. Cái này thì dễ hiểu.

Không ai có thể ra lệnh cho một dân tộc quên lịch sử của mình. Nhà nước Việt Nam vẫn tưởng niệm những người đã hi sinh trong chiến tranh, vẫn xây dựng nghĩa trang, bảo tàng, tượng đài, vẫn tổ chức những lễ kỉ niệm lớn về ngày 30/4. Đó là một phần kí ức lịch sử của bên thắng cuộc.

Những người ở phía bên kia cũng có kí ức của họ. Có gia đình nhớ một người cha từng là sĩ quan VNCH đã hi sinh. Có người nhớ những năm tháng trong trại tù cải tạo. Có gia đình mất người trên đường vượt biển. Có những người rời Việt Nam khi còn nhỏ nhưng những biến cố ấy trở thành một phần lịch sử gia đình họ.

Không thể nói với nhóm này rằng họ được quyền nhớ, còn nhóm kia phải quên.

Do đó, “khép lại quá khứ”, nếu khái niệm này có ý nghĩa, không thể đồng nghĩa với xóa kí ức. Nó phải cho phép nhiều kí ức cùng tồn tại. Hai người Việt có thể nhìn cuộc chiến bằng hai cách khác nhau mà vẫn xem nhau là đồng bào, chớ không phải … ‘phản động’.

Ngay chính câu nói của ông TBT tại Đại học Columbia năm 2014 cũng thừa nhận điều đó: “chúng tôi không quên quá khứ”.

Vậy, vấn đề không nằm ở chuyện nhớ hay quên; vấn đề là quá khứ còn ảnh hưởng đến cách một con người được đối xử trong hiện tại hay không.

Và cũng từ đây tôi bắt đầu có những băn khoăn.

Hãy lấy kinh nghiệm của những nhà khoa học ở nước ngoài về Việt Nam làm một “case study”.

Có nhiều người sống và làm việc ở nước ngoài nhiều năm, nhưng vẫn muốn giúp cho Việt Nam phát triển, bằng cách này hay cách khác. Họ có thể hợp tác khoa học, giảng dạy, nghiên cứu với các đồng nghiệp trong nước. Họ không về để hoạt động chánh trị — và điều này chắc chắn. Họ về hợp tác trong các lãnh vực chuyên môn vừa đem lại lợi ích cho Việt Nam vừa giúp làm cầu nối với nước họ làm việc.

Ấy vậy mà có những thủ tục mà người ngoài và cả người được mời có thể chẳng bao giờ nhìn thấy. Đại học hay cơ quan chủ quản phải lo đủ thứ. Người mời phải cung cấp thông tin: chương trình, lí lịch, nội dung giảng dạy và nhiều chi tiết khác có thể phải được báo cáo hoặc xin ý kiến. Yếu tố an ninh hiện diện khá rõ trong quá trình đó.

Tại sao lại phiền phức như vậy? Lí do rất đơn giản: họ được xem là “yếu tố nước ngoài”.

Thử nghĩ: sanh ra ở trong nước, lớn lên ở trong nước, làm cho nước nhà, nhưng chỉ vì sống ở nước ngoài nên bị gọi là “Việt kiều”, là “yếu tố nước ngoài” cần phải được quản lí. Có gì đó không phải trong suy nghĩ. Như vậy đâu phải là “khép lại quá khứ”?

Một định nghĩa thực tế hơn

Bỏ qua khẩu hiệu mù mờ, tôi muốn đề nghị một cách hiểu rất đơn giản (nhưng hơi dài):

“Khép lại quá khứ có nghĩa là không còn duy trì những đường ranh của quá khứ bằng các hành động trong hiện tại. Nói cách khác, những phân chia do chiến tranh, lí lịch hay khác biệt chánh trị tạo ra không còn được dùng để quyết định cách một con người được nhìn nhận, đối xử hay giới hạn cơ hội của họ hôm nay.”

Định nghĩa này nó cụ thể hơn những gì các lãnh đạo nói hay viết. Nó đòi hỏi Nhà nước không dùng lí lịch chánh trị, nguồn gốc gia đình, quá khứ của cha mẹ, nơi cư trú ở nước ngoài hay quan điểm khác biệt để quyết định ai được trở về, ai được tin cậy, ai được giảng dạy và nghiên cứu, ai phải chịu sự giám sát đặc biệt, hoặc ai bị đối xử như một đối tượng cần đề phòng. Quá khứ vẫn có thể được nhớ (dĩ nhiên), nghiên cứu, tranh luận và tưởng niệm, nhưng nó không còn tạo ra những hệ quả bất lợi đối với quyền, cơ hội và cách một con người được đối xử trong hiện tại.

Nhưng ai cần khép lại quá khứ? Có lẽ đây là câu hỏi quan trọng nhứt. Trong nhiều năm, lời kêu gọi “khép lại quá khứ” thường hướng về cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Cách đặt vấn đề đó dễ tạo cảm giác rằng quá khứ là một hành lí mà kiều bào đang mang theo, và muốn hòa hợp thì họ cần đặt hành lí đó xuống.

Nhưng hòa giải, nếu có, khó có thể chỉ là một yêu cầu dành cho một phía. Nếu người Việt ở nước ngoài được yêu cầu không để quá khứ chi phối thái độ của mình đối với Nhà nước hiện nay, thì một nguyên tắc tương ứng cũng có thể được đặt ra đối với Nhà nước: đừng để quá khứ, lí lịch gia đình hay sự khác biệt về quan điểm trở thành căn cứ để đánh giá một con người trong hiện tại.

Đến đây, “khép lại quá khứ” có hai chiều. Một chiều thuộc về cá nhân. Người Việt ở cả hai phía có thể từ bỏ hận thù, chấp nhận rằng người khác có một kí ức khác mình và cùng làm việc cho những mục tiêu chung. Chiều kia thuộc về thể chế. Những đường ranh phân chia hình thành từ chiến tranh phải dần mất khả năng tạo ra hậu quả trong đời sống hiện tại. Chiều thứ hai khó hơn nhiều, bởi nó đòi hỏi thay đổi cách hệ thống vận hành.

Có thể đo lường “khép lại quá khứ” như thế nào?

Nếu muốn biết quá khứ đã thực sự được khép lại đến đâu, có lẽ không nên đếm số lần lãnh đạo sử dụng cụm từ đó trong diễn văn. Hơn 30 năm qua, đã có hơn 10 lần Nhà nước dùng cụm từ đó, nhưng thực tế thì … ‘vũ như cẩn’. Chẳng có gì thay đổi cả.

Nếu lần này làm thiệt, và với định nghĩa trên, cần có những chỉ dấu cụ thể hơn. Một người từng thuộc phía bên kia, hay con cháu của họ, có còn chịu hậu quả chỉ vì lí lịch lịch sử của gia đình hay không?

Một người Việt sống ở nước ngoài có được trở về đóng góp chuyên môn với những thủ tục minh bạch, đơn giản và có thể dự đoán hay không? Một nhà khoa học về Việt Nam giảng dạy có được nhìn như một đồng nghiệp học thuật bình thường hay hoạt động chuyên môn của họ vẫn được đặt trong một khung quản lí an ninh rộng hơn mức cần thiết?

Một người có quan điểm chánh trị khác với chánh quyền có còn được quyền về thăm quê hương, gặp gia đình và tham gia đời sống học thuật bình thường, miễn là họ tuân thủ pháp luật?

Và có lẽ quan trọng nhứt là một người Việt có được quyền kể kí ức của mình về lịch sử, kể cả khi kí ức đó khác với câu chuyện chánh thức, mà vẫn được xem là một thành viên bình thường của cộng đồng dân tộc hay không?

Những câu hỏi đó cụ thể hơn rất nhiều so với khẩu hiệu.

Khép lại bằng hành động

Tôi không nghĩ Việt Nam cần quên quá khứ. Tôi cũng không muốn quên quá khứ. Lịch sử cần được nhớ bởi vì con người cần biết mình từ đâu đến. Những sai lầm, hi sinh, mất mát và cả những lựa chọn của các thế hệ trước đều là một phần của lịch sử Việt Nam.

Nhưng nhớ quá khứ và sống trong quá khứ là hai chuyện khác nhau.

Theo tôi, một xã hội thực sự khép lại quá khứ khi một người không còn phải trả giá trong hiện tại cho việc thân nhân mình từng đứng ở bên nào của một cuộc chiến cách đây hơn nửa thế kỉ.

Khi một người Việt Nam ở nước ngoài có thể trở về truyền đạt kiến thức mà sự hiện diện của ông hay bà đó được xem trước hết là một cơ hội học thuật. Khi bất đồng quan điểm không tự động trở thành bằng chứng của sự bất trung. Và khi nhiều kí ức lịch sử có thể cùng tồn tại mà không ai phải từ bỏ kí ức của mình để được công nhận là người Việt.

Ngày nay, Nhà nước Việt Nam nói nhiều đến việc thu hút trí thức, chuyên gia và nguồn lực của hơn 6 triệu người Việt ở nước ngoài. Nghị quyết 23 thậm chí yêu cầu xây dựng môi trường “minh bạch”, “cạnh tranh”, “trao quyền”, đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện cho trí thức kiều bào đóng góp. Đây là những mục tiêu có thể kiểm nghiệm trong những năm tới.

Có lẽ đó cũng là cách tốt nhất để hiểu câu “khép lại quá khứ”.

Xin nhắc lại định nghĩa: Khép lại quá khứ là làm cho những đường ranh của quá khứ không quyết định cách con người được đối xử trong hiện tại. Nếu đạt được điều đó, không cần phải kêu gọi nhiều về hòa hợp. Người ta sẽ nhận ra hòa hợp qua chính trải nghiệm của mình. Và có lẽ lúc đó thì quá khứ mới thực sự được khép lại.

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.