Trần Văn Cẩn viết (khoảng 1958-1962) (giữ nguyên chính tả trong nguyên bản)
Tư liệu của Quang Việt
Hóa ra tôi (Quang Việt) lại có trong tay ảnh chụp hai trang đầu bản viết tay tập nghiên cứu này của chính tác giả Trần Văn Cẩn, do một người bạn sưu tập nghệ thuật gửi tặng từ 2020 nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Trần Văn Cẩn. Vì vậy tôi mới biết được nhan đề của tập nghiên cứu mà ở bản đánh máy tôi vốn có đã bị mất trang đầu tiên.
——————-
Cách đây 1/2 thế kỷ, những người làm nghề sơn, giữa 36 phố phường của Hà Nội xưa, vẫn còn đi mua sơn, nhựa ở phố Hàng Dầu, Cầu Gỗ, mua son ở Hàng Gai… Qua Hàng Quạt, còn nghe lách cách vui tai tiếng chàng chạm gỗ, hòa với nhịp chí chát nhặt khoan tiếng búa giọt quỳ vàng của những người thợ quê làng Kiêu Kỵ ra ngụ ở phố Hàng Hòm, chuyên nghề làm bạc quỳ, vàng quỳ…
Trong xã hội Việt Nam, khoảng 1 thế kỷ trở về trước, người ta đã gặp vô vàn mặt hàng sơn ở khắp nơi. Từ cháp trầu, chiếc khay, cái rỏ ấm, chiếc thúng khảo, v.v. đến những đồ thờ mà phần lớn nhà đều có (ống hương, mâm bồng, chiếc bài vị…) đến những trang trí kiến trúc nơi đình, chùa, những tượng thần, tượng Phật, những cửa võng, án thư, hoành phi, câu đối, cho đến huy hoàng, lộng lẫy vàng son những nơi cung điện, lầu tạ nguy nga của vua quan phong kiến.
Vậy thì, Mỹ nghệ hàng sơn đã xuất hiện từ thời nào? Cho đến nay, cũng chưa có tài liệu nào có cơ sở xác đáng để mà tìm biết! Nhưng, căn cứ vào số hiện vật (dụng cụ) của nghề sơn phát hiện được như đã nói ở trên, thì có thể nó có hàng hai ngàn năm hơn vì với những dụng cụ tìm được ấy, những công cụ gần giống như công cụ của nghệ nhân ta dùng ngày nay, tức là đã đến độ không còn thô sơ nữa thì hẳn đã phải hành nghề nhiều đời, người thợ cổ xưa mới chế ra được. Và rõ ràng là đến thời Lý Trần (thế kỷ XI-XIV) thì hàng sơn đã đến độ tinh tế và phong phú.
Hiện vật thuộc triều Lý thì hiếm, có còn lại đôi bức chạm gỗ nào thì lớp sơn (nếu có) cũng không còn…! Nhưng ở triều Trần thì số hiện vật sơn thấy được nhiều hơn. Chẳng hạn như bộ cánh cửa chùa Phổ Minh (chùa Tháp) Nam Hà, v.v. và đặc biệt rõ là những đồ thờ, những trang trí kiến trúc của đền Đô (đền Lý Bát Đế), ngôi đền được dựng vào đời Trần Thái Tông, tại làng Báng (Đình Bảng) Tiên Sơn, Hà Bắc quê quán của Lý Công Uẩn vua Thái Tổ nhà Lý.
Ngôi đền có rất nhiều đồ sơn: hương án, ngũ sự, ngai, cửa chạm rồng… và đáng chú ý là 8 cỗ Kiệu bát cống thờ 8 vua nhà Lý. Tiếc thay! Ngày nay, không còn dấu vết gì nữa! Ngôi đền với toàn bộ đồ thờ đã bị giặc Pháp đốt cháy hết vào những năm đầu cuộc kháng chiến (1948-1950)…
Anh em chúng tôi, lớp người học Trường Mỹ thuật Đông Dương vào những năm 1925-1935, đã nhiều lần vẽ và dập thác bản ở Đền Đô, nên rất nhớ! Riêng đối với tôi thì ký ức về thắng tích này càng sâu sắc về ngôi đền và đặc biệt cỗ kiệu quý giá ở đó lại có quan hệ đến chuyện bước đầu thể nghiệm về nghề sơn của tôi, đến bước chuyển biến đầu tiên của sơn mài từ địa hạt trang trí sang địa hạt Hội họa.
Bước ngoặt đầu tiên và sự phát triển nhanh của sơn mài.
Như đã trình bày tóm tắt ở đoạn trên về nguồn gốc của chất liệu, về kỹ thuật từ đó đã hình thành nghề sơn. Qua nhiều thế kỷ, nghề đó đã được lưu truyền, và đời sau, hơn đời trước, với kinh nghiệm thu được, kỹ thuật làm sơn điêu luyện hơn, cách chế hóa được nâng cao hơn. Mỹ nghệ hàng sơn được hình thành và ở thời nhà Trần, đã đạt đến trình độ khá cao về kỹ xảo và về nghệ thuật trang trí. Đến thời Hậu Lê sang thời nhà Nguyễn hàng sơn càng đi vào đời sống người dân, rộng rãi trong cả nước! Hàng sơn phát triển, mặt hàng càng phong phú về kiểu dáng, về loại hình. Ngoài những loại hàng sơn đen, sơn son, trơn, hoặc có trang trí họa tiết thếp vàng thếp bạc, v.v. còn có mặt hàng sơn quang dầu, hàng sơn khắc nổi, hàng sơn có khảm trai, khảm ngà…
Tuy nhiên, cho đến đầu thế kỷ XX, có thể nói là sơn vẫn chỉ ở trong địa hạt mỹ nghệ trang trí. Mặc dầu ở một vài địa phương, trong một ngôi đình, ngôi đền, thảng hoặc có một đôi bức ván gỗ có vẽ mô-típ người, ví dụ như tấm sơn ở đình Lỗ Hạnh (thế kỷ 19), Hiệp Hòa, Hà Bắc, thì thể vẽ vẫn theo thể trang trí!
Khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương mở (1925-1926) thì bên cạnh phần chính là hội họa sơn dầu, dạy theo phương pháp tạo hình Âu châu, nhà trường đã có một bộ phận nhỏ do một nghệ nhân nghề sơn phụ trách, để sinh viên tập thể hiện bằng sơn ta một số bài sáng tác trang trí. Đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật đầu tiên cho việc thể nghiệm về môn mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc.
Một số anh em khóa đầu và khóa hai, thể hiện một vài bài, vẫn theo kỹ thuật xưa được truyền lại. Tiếp đó hai họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ có thử làm tranh bằng chất liệu sơn ta. Hai bức vẽ của hai anh là hai tranh phong cảnh: có hàng cau vươn lên tỏa lá trên nền trời nâu đỏ, sau hàng cau là vài mái nhà tranh. Cau, nhà khắc lằn trên nền như kiểu làm hoành phi câu đối, và được sơn đen có gia thêm ít nét thếp vàng. Kết quả không thỏa sướng. Vì thiếu sự hài hòa ăn khớp giữa một bên là hình họa vẽ lối tả chân và một bên là màu sắc phẳng và có tính tượng trưng: đen, đỏ, vàng. Mặt sơn cũng không phẳng và còn đục.
Năm 1932 tôi bắt đầu được thể hiện một mẫu trang trí hộp. Cũng vẫn làm theo kỹ thuật cũ! Sau đó, tôi lại được phân công chép một bức khác. Nguyên bản là một tấm vách hậu của 1 cỗ kiệu cổ đền Đô, có họa tiết hoa cúc dây phối hợp với triện lục lăng. Nguyên mẫu bị phai mờ và long sơn nên tôi không theo hẳn. Tôi định thử làm một tấm trang trí với hoa văn đen có viền nét vàng trên nền đỏ son tươi. Nhưng vấp phải một trở ngại: Màu sơn son, xưa kia chưa và cũng không thể mài được như sơn then. Như vậy, sơn nền đỏ rồi vẽ đen lên thì mô-típ vẽ sẽ bị sạn. Mà mài những chỗ sơn đen thì thế nào cũng làm xây xát nền đỏ. Hiệu quả sẽ không tốt! Chỉ có cách làm thế nào mài được cả sơn đỏ thì mới ổn! Được thế thì chỉ việc cứ vẽ hết những họa tiết bằng sơn đen trên nền trước. Xong rồi sơn nền đỏ phủ kín cả. Ủ cho khô rồi đem mài toàn bộ và đánh bóng tấm tranh. Vì họa tiết sơn đen và 3 lớp chồng lên nhau, nên độ dày của nó cao hơn nền. Mài đến nền thì sơn đen sẽ phải lộ ra hết và cả nền lẫn họa tiết đều phẳng lì như nhau! Với ý nghĩ ấy, tôi mang bàn với bác nghệ nhân Đinh Văn Thành. Để bác thử thí nghiệm ngả sơn cách khác chứ không theo như cổ truyền. Lúc đầu, bác không chịu, bác nói xưa nay chưa ai làm như vậy cả. Nhưng bàn đi bàn lại cuối cùng bác đồng ý thử. Nhưng phải làm giấu giáo sư (tức Joseph Inguimberty-QV) kẻo biết, họ sẽ la vì phí nguyên liệu! Mà mẻ đầu không thành công thật! Bác đã nản nhưng rồi vì ức, vả cũng tò mò, cái máu nghề nghiệp nó như vậy! Bác lại rút kinh nghiệm và làm thử một mẻ khác. Tôi pha son, bôi rồi đem mài thử thấy có vẻ khả quan. Bác mừng! Tôi càng mừng hơn! Và cuối cùng, với sơn pha cách mới ấy, tôi đã thể nghiệm thành công cách vẽ chồng màu lên nhau và mài toàn bộ được.
Với bước ngoặt đầu tiên ấy, thuộc tính của chất sơn đã đổi khác. Cách xử lý không còn bị bó hẹp trong khuôn khổ cũ. Giờ đây, có thể pha trộn màu, để có nhiều sắc độ đậm nhạt và cách vẽ chồng lên nhau nhiều lớp lại mở ra những khả năng mới, cho phép diễn tả hội họa được như những thể nghiệm tiếp theo đã chứng tỏ. Năm 1934 họa sĩ Trần Quang Trân (Ngym) thể hiện lại thành công một tấm bình phong mà nhiều bạn bè còn nhớ: Đấy là một phong cảnh nông thôn có bờ tre soi bóng trên mặt ao với hòa sắc nâu, cánh dán, đỏ vàng. Thành công nhất là mặt nước ao lồng bóng tre lung linh rất trong, đẹp [(chính xác thì Trần Quang Trân đã vẽ tấm bình phong “Bờ ao” này vào năm 1932 – Quang Việt]. Thuật ngữ “sơn mài” cũng bắt đầu có từ đấy! Những tìm tòi mới, thể nghiệm mới lại làm cho kỹ thuật chất liệu tiến thêm với nhiều cách như rây vàng bụi, bạc bụi vào sơn khi ướt, gắn vỏ trứng, v.v. Sơn mài đàng hoàng bước vào địa hạt hội họa và đã…


Hai trang đầu bản thảo viết tay của Trần Văn Cẩn. Sưu tập K., O. & LHNP.

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Hà Nội, khoảng 1960-1964 Trần Văn Cẩn đang trao đổi với nghệ nhân Nguyễn Đăng Sần về tranh dân gian Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Nghệ nhân Đinh Văn Thành đang thao diễn nghề sơn tại Đấu xảo Paris 1937 (người ngồi bên trong là họa sĩ Nguyễn Khang).

Trần Văn Cẩn cuối những năm 1970 đầu 1980. Góc dưới bên phải ảnh là bức tranh sơn mài “Trong lòng đất” (1976) của ông.