Doãn Quốc Sỹ – Doãn Nho: chia cắt và di sản

Tino Cao

Sắp tới ngày giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Ông qua đời ngày 14 tháng Mười năm 2025 tại California, hưởng thọ 102 tuổi. Ở Hà Nội, người em ruột của ông, nhạc sĩ Doãn Nho, 93 tuổi, sống gần hồ Ba Mẫu, vẫn chơi dương cầm và tiếp tục sáng tác. Hai anh em sinh cách nhau mười năm, trưởng thành từ cùng một gia đình ở làng Cót, từng cùng tham gia hoạt động Việt Minh từ rất sớm, nhưng sau năm 1954 lại thuộc về hai môi trường thể chế chính trị và văn hóa khác nhau. Tiểu sử của họ cung cấp một trường hợp đặc biệt để khảo sát sự phân li của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỉ 20, khi những lựa chọn chính trị, chiến tranh và sự phân chia lãnh thổ can dự trực tiếp vào đời sống gia đình, đồng thời tạo nên hai hệ thống văn hóa với những chuẩn mực, thiết chế và diễn ngôn riêng.

Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923, Doãn Nho sinh năm 1933, trong một gia đình nhà nho ở làng Cót, tức Hạ Yên Quyết, một làng khoa bảng lâu đời phía tây Hà Nội. Nếp học truyền thống của gia đình đồng thời tiếp nhận khá sớm một số yếu tố của giáo dục phương Tây, đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc. Gia đình có cây đàn piano, và Doãn Quốc Sỹ là người trực tiếp hướng dẫn em trai những bài học đàn đầu tiên. Môi trường giáo dục ấy tạo cho cả hai một nền tảng văn hóa chung trước khi mỗi người hình thành con đường nghệ thuật riêng. Doãn Quốc Sỹ về sau chuyên tâm vào văn chương, trong khi Doãn Nho theo đuổi âm nhạc chuyên nghiệp. Sự phân hóa nghề nghiệp này diễn ra trước khi những biến động chính trị sau năm 1954 đưa hai anh em vào hai con đường và thành danh trong hai hệ thống văn hóa – chính trị khác nhau, một người gắn với đời sống văn học miền Nam, người kia gắn với quân đội và nền âm nhạc miền Bắc.

Hai anh em cũng khởi đầu từ một môi trường chính trị tương đồng. Gia đình họ Doãn từng là cơ sở của Việt Minh tại làng Cót. Năm 1944, khi Doãn Nho mới 11 tuổi, cả hai đã tham gia những công việc liên lạc, chuyển thư và canh gác cho cán bộ hoạt động bí mật. Doãn Quốc Sỹ sau đó tham gia Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu và bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, trong khi Doãn Nho nhập ngũ năm 1950. Ở giai đoạn này, tiểu sử của hai người cùng thuộc một bối cảnh chính trị khá điển hình của lớp thanh niên Việt Nam trưởng thành vào những năm cuối thời thuộc địa, gắn việc tham gia phong trào dân tộc với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự phân hóa giữa hai con đường chỉ trở nên rõ rệt sau năm 1954, khi việc phân chia đất nước đồng thời tạo ra hai không gian chính trị và văn hóa khác nhau, từ đó xác lập những điều kiện phát triển riêng cho sự nghiệp của mỗi người.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Doãn Quốc Sỹ vào miền Nam, tiếp tục dạy học và bắt đầu tham gia tích cực vào sinh hoạt văn chương tại Sài Gòn. Đây là thời điểm văn học miền Nam bước vào một giai đoạn chuyển biến quan trọng. Làn sóng di cư từ miền Bắc vào miền Nam làm thay đổi cơ cấu xã hội và thành phần trí thức tại đô thị; báo chí, xuất bản và đại học phát triển nhanh; chiến tranh ngày càng tác động trực tiếp đến đời sống; đồng thời, việc tiếp xúc với văn học và triết học phương Tây diễn ra thường xuyên qua dịch thuật, giảng dạy và các tạp chí văn nghệ. Những điều kiện ấy làm xuất hiện một thế hệ tác giả không còn thỏa mãn với hệ thống thi pháp đã định hình từ thời tiền chiến, đặc biệt trong cách quan niệm về con người, tự do cá nhân, kinh nghiệm đô thị và hình thức biểu đạt văn chương.

Trong bối cảnh đó, nguyệt san Sáng Tạo ra số đầu tiên tại Sài Gòn vào tháng Mười năm 1956, do Mai Thảo chủ trương và biên tập. Tạp chí quy tụ một lực lượng sáng tác và phê bình gồm nhiều nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và trí thức như Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Nguyên Sa, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Quách Thoại cùng nhiều cộng tác viên khác. Khi Sáng Tạo xuất bản bộ mới năm 1960, Doãn Quốc Sỹ là một trong tám người thuộc bộ biên tập, bên cạnh Duy Thanh, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Trần Thanh Hiệp. Vị trí ấy cho thấy ông không chỉ là người cộng tác với tạp chí mà trực tiếp tham dự vào sinh hoạt trí thức và văn nghệ của Sáng Tạo.

Sáng Tạo không phải một trường phái văn học có cương lĩnh lí luận thống nhất và cũng không thể quy tất cả tác giả chung quanh tạp chí vào một khuynh hướng thẩm mĩ duy nhất. Điểm gặp nhau nằm ở ý thức đổi mới văn chương sau 1954 và thái độ phê phán những quy phạm nghệ thuật mà họ cho rằng không còn đủ sức biểu đạt kinh nghiệm của một xã hội đã thay đổi. Thanh Tâm Tuyền mở mạnh thơ và văn xuôi về phía ý thức hiện sinh, tự do cá nhân và những hình thức biểu đạt mới; Mai Thảo tìm một kiểu văn xuôi giàu tính chủ quan, chú trọng cảm giác và cấu trúc câu; Tô Thùy Yên góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ tự do; trong khi các cây bút khác của tạp chí tham dự vào những cuộc thảo luận về tiểu thuyết, hội họa, triết học, sân khấu, dịch thuật và phê bình. Bản thân nội dung các số đầu của Sáng Tạo cho thấy phạm vi quan tâm rất đa dạng, từ Camus, Hemingway, Picasso và triết học hiện đại đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, dân ca, âm nhạc và vấn đề xây dựng một nền văn hóa Việt Nam trong hoàn cảnh mới.

Doãn Quốc Sỹ thuộc môi trường đổi mới của văn học miền Nam sau 1954 nhưng sớm xác lập một hướng đi riêng. Văn xuôi của ông chú trọng trước hết đến đời sống đạo đức của cá nhân trong những hoàn cảnh lịch sử nhiều biến động, khi chiến tranh, chia cắt và xung đột ý thức hệ trực tiếp tác động đến gia đình, tình yêu, bổn phận, niềm tin và trách nhiệm của mỗi con người. Những phương diện ấy liên kết với nhau thành một hệ vấn đề bền bỉ trong sáng tác của ông, bởi đời sống riêng tư luôn gắn chặt với những sức ép đến từ lịch sử và môi trường chính trị. Trong bối cảnh một bộ phận văn chương đô thị cùng thời tập trung vào cô độc, phi lí và khủng hoảng hiện sinh, Doãn Quốc Sỹ theo đuổi một trục tư tưởng khác, xoay quanh phẩm giá con người, trách nhiệm đạo đức và khả năng gìn giữ những quan hệ nhân bản khi các giá trị chung của xã hội bị chiến tranh và ý thức hệ làm tổn thương.

Trong toàn bộ sự nghiệp của Doãn Quốc Sỹ, Khu Rừng Lau là tác phẩm cho thấy tập trung nhất cách ông xử lí quan hệ giữa lịch sử và đời sống cá nhân. Qua Ba Sinh Hương Lửa, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Tình Yêu Thánh Hóa và Những Ngả Sông, sự chia cắt đất nước không chỉ được phản ánh như một biến cố chính trị mà còn được chuyển hóa thành những xung đột trong gia đình, tình yêu, quan hệ huyết thống và ứng xử đạo đức. Chiến tranh trong bộ trường thiên này không tồn tại chủ yếu ở trận địa hay diễn biến quân sự, nó thâm nhập vào những quyết định riêng tư nhất của con người, từ việc ra đi hay ở lại, lựa chọn người mình gắn bó, đến cách mỗi cá nhân xác định bổn phận đối với gia đình và cộng đồng.

Trong Khu Rừng Lau, vĩ tuyến 17 không chỉ chia đôi lãnh thổ mà còn chia cắt những quan hệ thân thuộc và đẩy các nhân vật vào những lựa chọn khó dung hòa giữa tình cảm, bổn phận và lập trường chính trị. Khác biệt về nơi cư trú và kinh nghiệm chiến tranh từ đó tác động trực tiếp đến cấu trúc gia đình, quan hệ tình yêu và cách mỗi người nhìn nhận trách nhiệm của mình. Doãn Quốc Sỹ không dùng lịch sử như một phông nền cho câu chuyện riêng tư; ông đặt chính những biến cố lớn của đất nước vào bên trong số phận nhân vật, để hiệp định, phân tuyến và thay đổi chính thể được cảm nhận qua li tán, nghi kị, mất mát và những quyết định có hậu quả lâu dài đối với đời sống con người. Chính phương thức ấy làm nên chiều sâu của Khu Rừng Lau trong văn xuôi Doãn Quốc Sỹ.

Tiểu sử Doãn Quốc Sỹ và Doãn Nho sau năm 1954 phản ánh hai hướng phát triển khác nhau của đời sống văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị chia cắt. Doãn Quốc Sỹ gắn với văn học miền Nam, còn Doãn Nho tiếp tục con đường quân đội và âm nhạc tại miền Bắc. Từ thời điểm này, sự nghiệp của người em phát triển trong một hệ thống văn hóa được tổ chức chặt chẽ bởi các thiết chế nhà nước, quân đội và cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.

Doãn Nho nhập ngũ năm 1950, từng làm quản ca tại Trường Sĩ quan Lục quân và sớm được Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận chú ý về năng lực sáng tác. Theo hồi ức của ông, những nhận xét chuyên môn ban đầu từ lớp nhạc sĩ đi trước tập trung vào việc xác lập ngôn ngữ âm nhạc riêng. Một số sáng tác chịu ảnh hưởng khá rõ của phương Tây, số khác gợi âm hưởng dân ca Trung Quốc. Những phê bình ấy thúc đẩy ông nghiên cứu sâu hơn chèo, dân ca và các nguồn nhạc truyền thống, từ đó xây dựng một phương pháp sáng tác kết hợp kĩ thuật âm nhạc chuyên nghiệp với chất liệu bản địa. Đây cũng là hướng đi phù hợp với chủ trương của nền âm nhạc miền Bắc thời ấy, khi việc xây dựng một ngôn ngữ nghệ thuật dân tộc trên cơ sở kĩ thuật hàn lâm được xem là một yêu cầu quan trọng đối với giới sáng tác.

Năm 1956, ở tuổi 23, Doãn Nho viết Chiếc Khăn Piêu từ một làn điệu ông từng nghe trong những chuyến đi Tây Bắc. Ca khúc cho thấy khá rõ cách chất liệu dân gian được tiếp nhận và tái cấu trúc trong sáng tác mới khi giai điệu truyền thống được đưa vào một hình thức ca khúc phù hợp với đời sống biểu diễn đương thời. Thành công của Chiếc Khăn Piêu còn nằm ở sức sống kéo dài qua nhiều thế hệ công chúng. Hơn bảy thập niên sau khi ra đời, tác phẩm vẫn tiếp tục được trình diễn, cho thấy khả năng thích ứng của một ca khúc vốn được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử rất cụ thể nhưng đã tích lũy thêm những lớp nghĩa mới qua quá trình tiếp nhận.

Sự nghiệp Doãn Nho cần được đặt trong phạm vi lớn hơn các ca khúc quen thuộc như Tiến Bước Dưới Quân Kì, Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng hay Người Con Gái Sông La. Trong thập niên 1960, ông được đào tạo chuyên ngành sáng tác tại Nhạc viện Kiev thuộc hệ thống giáo dục âm nhạc hàn lâm của Liên Xô, rồi tiếp tục viết hợp xướng, giao hưởng, thanh xướng kịch và nhiều tác phẩm quy mô lớn. Quá trình đào tạo ấy đưa ông vào thế hệ nhạc sĩ miền Bắc được tiếp cận một cách hệ thống với hòa âm, phối khí, cấu trúc tác phẩm và tư duy sáng tác theo mô hình học viện Đông Âu. Ở Doãn Nho, nền tảng kĩ thuật này kết hợp với việc khai thác chất liệu dân gian và kinh nghiệm lâu năm trong môi trường quân đội, tạo nên một diện mạo sáng tác vừa gắn với chương trình xây dựng nền âm nhạc chuyên nghiệp miền Bắc, vừa phản ánh khá rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật, thể chế văn hóa và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn ấy.

Doãn Quốc Sỹ và Doãn Nho phát triển sự nghiệp trong hai môi trường khác nhau về nền tảng chính trị, cơ chế tổ chức văn hóa và quan niệm về vai trò của nghệ thuật. Ở miền Nam trước 1975, Doãn Quốc Sỹ hoạt động trong một đời sống văn chương dựa vào báo chí tư nhân, nhà xuất bản, các nhóm văn nghệ, đại học và thị trường sách báo, nơi người viết có mức độ tự chủ cao hơn trong lựa chọn đề tài, khuynh hướng thẩm mĩ và quan điểm tư tưởng. Ở miền Bắc, Doãn Nho sáng tác trong hệ thống nghệ thuật gắn chặt với nhà nước, quân đội, các đoàn văn công, hội nghề nghiệp và cơ sở đào tạo chuyên môn, nơi hoạt động văn hóa chịu sự quản lí và định hướng trực tiếp của đường lối chính trị. Hai mô hình ấy tạo ra những điều kiện sáng tác và tiếp nhận khác nhau, tác động đến đề tài, ngôn ngữ nghệ thuật, vị trí xã hội của người nghệ sĩ, phương thức phổ biến tác phẩm và quan hệ giữa sáng tạo với quyền lực.

Sau năm 1975, khác biệt giữa hai tiểu sử biểu hiện rõ nhất trong quan hệ của mỗi người với nhà nước và các thiết chế văn hóa chính thức. Doãn Quốc Sỹ bị bắt giam lần thứ nhất từ năm 1976 đến năm 1980; năm 1984, ông bị bắt lần thứ hai cùng một số văn nghệ sĩ, sau đó bị xét xử vì những hoạt động và tác phẩm mà chính quyền quy là chống chế độ. Ông được trả tự do năm 1991, sang Mĩ năm 1995 và sống tại California cho đến cuối đời. Cùng thời gian ấy, Doãn Nho tiếp tục công tác trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, sáng tác và được ghi nhận trong hệ thống văn hóa nhà nước. Sự đối lập ấy mang một ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Người anh là nhà văn từng chịu đựng nhiều năm tù đày bởi chính quyền cộng sản sau 1975; người em là đại tá quân đội, đồng thời là nhạc sĩ được trao các danh hiệu và giải thưởng Hồ Chí Minh của chính nhà nước cộng sản ấy. Trong cùng một gia đình, hai cuộc đời đã đi đến hai quan hệ gần như đối cực với quyền lực chính trị sau chiến tranh.

Sự phân đôi còn kéo dài trong kí ức văn hóa và lịch sử nghệ thuật. Suốt nhiều thập niên sau 1975, Doãn Quốc Sỹ hầu như vắng mặt trong các công trình lịch sử văn học xuất bản trong nước, trong khi Doãn Nho được ghi nhận ổn định trong lịch sử âm nhạc cách mạng và hệ thống giáo dục nghệ thuật chính thức. Ở cộng đồng người Việt hải ngoại, Doãn Quốc Sỹ được nhìn nhận như một trong những tác giả quan trọng của văn học miền Nam trước 1975. Cách hai tên tuổi được lưu giữ, nghiên cứu, xuất bản và giảng dạy cho thấy kí ức văn hóa Việt Nam sau chiến tranh chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những kinh nghiệm lịch sử khác nhau giữa trong nước và hải ngoại. Lịch sử chính trị ở đây không chỉ quyết định số phận của người nghệ sĩ trong một thời điểm nhất định mà còn tiếp tục tác động đến cách tác phẩm và tác giả được ghi nhận trong những thập niên về sau.

Nhìn lại hai cuộc đời trải qua gần trọn những biến động lớn của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 và những thập niên đầu thế kỉ 21, Doãn Quốc Sỹ và Doãn Nho hiện diện như hai gương mặt lớn của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Doãn Quốc Sỹ tiếp tục cầm bút sau những năm tù đày và trong quãng đời li hương; Doãn Nho vẫn ngồi bên âm nhạc và tiếp tục sáng tác khi đã ở tuổi đại thọ. Một người để lại một thế giới tiểu thuyết gắn liền với chiến tranh, chia cắt, gia đình và những giằng co giữa trách nhiệm, tình cảm cùng hoàn cảnh lịch sử; người kia xây dựng một sự nghiệp âm nhạc trải từ ca khúc đến hợp xướng, giao hưởng và thanh xướng kịch. Bi kịch lịch sử nằm ở chỗ hai anh em ruột đã đi về hai phía đối đầu trong một đất nước bị chia cắt, để từ cùng một mái nhà mà hình thành hai hành trình văn hóa trái ngược nhau. Những gì họ để lại sau cùng không thuộc riêng về một phía. Văn chương của Doãn Quốc Sỹ và âm nhạc của Doãn Nho, với tất cả khác biệt về môi trường chính trị và kinh nghiệm đau thương của lịch sử, đều đã đi vào gia tài chung của văn hóa Việt Nam. Nhìn lại hai cuộc đời ấy hôm nay cũng là nhìn lại một phần lịch sử từng bị chia cắt, nơi bi kịch của quá khứ và giá trị của sáng tạo vẫn tiếp tục một cuộc đối thoại miên trường với hậu thế; bởi sau mọi đối đầu của thế kỉ 20, di sản họ để lại vẫn thuộc về đất nước này.

                                                                                                                            – tino

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.