Tino Cao
Mỗi mùa tuyển sinh đại học, báo chí trong nước lại mang đến những câu chuyện khiến người đọc xúc động, trong đó có tôi. Một học sinh lớn lên trong gia đình nghèo, cha mẹ đau yếu hoặc mất sớm, ngày đi học, tối làm thêm, có em vừa học vừa chăm người thân, thiếu thốn từ chiếc máy tính đến tiền học thêm, cuối cùng vẫn đạt điểm rất cao và trúng tuyển vào một trường đại học danh tiếng. Sự cảm phục dành cho các em là hoàn toàn xứng đáng. Trong một hoàn cảnh mà việc học mỗi ngày đã đòi hỏi nhiều sức lực hơn người khác, các em vẫn giữ được ý chí, khả năng học tập và niềm tin vào con đường phía trước, thì nghị lực ấy là hết sức đáng trân trọng, cũng như mọi sự giúp đỡ của cộng đồng dành cho các em là điều đáng quý. Nhưng sau những lời khen, những bó hoa, học bổng và bài báo kể lại hành trình vượt khó, còn một câu hỏi khác cũng nên được đặt ra. Tại sao một học sinh nghèo khó lại thường phải chứng minh một nghị lực gần như phi thường mới có thể tiếp tục đi học? Và nếu xã hội cứ lấy những trường hợp thành công ấy làm bằng chứng rằng khó khăn nào cũng có thể vượt qua bằng ý chí, chúng ta liệu có thể đang lẫn lộn giữa phẩm chất của một con người với trách nhiệm của một hệ thống giáo dục?
Một học sinh nghèo đạt 28 hay 29 điểm đã chứng minh năng lực và nghị lực của chính em ấy. Thành tích đó chưa thể là ví dụ để bảo đảm rằng mọi học sinh có năng lực đều đang được trao cơ hội tương tự. Ta biết rất rõ tên tuổi những em vượt qua nghịch cảnh vì các em trở thành nhân vật của báo chí. Ta ít khi biết đến những người còn lại, những học sinh học khá hoặc học giỏi nhưng quyết định phải đi làm kiếm tiền mưu sinh sau khi học xong trung học vì gia đình không đủ tiền, những sinh viên đậu đại học rồi bỏ dở sau một hoặc hai năm, những người phải chọn một ngành học gần nhà thay vì ngành mình có khả năng theo đuổi, hay những người dành quá nhiều thời gian đi làm đến mức kiệt sức và kết quả học tập sa sút. Trong nghiên cứu xã hội, cách nhìn chỉ tập trung vào những người đã vượt qua được thử thách thường được gọi là thiên lệch kẻ sống sót, survivorship bias. Người thành công được nhìn thấy, được báo chí kể lại câu chuyện của họ và trở thành bằng chứng cho khả năng chiến thắng nghịch cảnh. Những người có năng lực nhưng bị hoàn cảnh chặn lại con đường phía trước thường biến mất khỏi khung hình. Nếu chỉ nhìn vào người chiến thắng, người ta dễ tin rằng cánh cửa đã mở cho tất cả, trong khi điều cần xem xét chính là bao nhiêu người đã phải dừng lại trước cánh cửa ấy.
Chính ở đây, tôi nghĩ rằng lời ca ngợi “vượt khó” cần được sử dụng cẩn trọng. Trong đời sống cá nhân, đó là một phẩm chất đẹp, rất đẹp nữa là khác. Nhưng trong chính sách công, nó không thể trở thành lời giải thích cho những thiếu hụt của cơ chế hỗ trợ. Nếu một sinh viên phải làm hai việc mỗi ngày để đóng học phí, thành công của em đáng khâm phục, nhưng việc em chịu được sức ép ấy không chứng minh rằng mức học phí đã phù hợp với khả năng của gia đình. Nếu một học sinh miền núi đi hàng chục cây số để đến trường rồi thi đậu đại học, nghị lực của em rất đáng quý, nhưng quãng đường ấy vẫn đặt ra vấn đề về điều kiện giáo dục. Nếu một người trẻ sống nhiều năm trong thiếu thốn mà vẫn tốt nghiệp, ta có quyền vui với thành quả của họ và đồng thời hỏi một xã hội có thể giảm bớt được bao nhiêu trở ngại như thế cho người đến sau. Khi câu chuyện vượt khó được kể quá nhiều như một khuôn mẫu đạo đức, một hệ quả khác cũng sẽ xuất hiện. Thành công được quy về ý chí, rồi thất bại cũng có nguy cơ bị quy về sự thiếu ý chí. Người nghèo khi ấy phải chứng minh rằng mình đã cố gắng đủ nhiều chưa trước khi được nhìn nhận là xứng đáng nhận sự trợ giúp. Những yếu tố thuộc về gia đình, địa phương, học phí, chi phí sinh hoạt, nhà ở, phương tiện học tập và chất lượng trường phổ thông bị đẩy bật ra khỏi cuộc thảo luận.
Nói một cách công bằng, Việt Nam hiện có các chính sách dành cho người học có hoàn cảnh khó khăn. Nhà nước không hoàn toàn bỏ trống lĩnh vực này. Tôi lục tìm trong thư viện pháp luật trực tuyến, tìm thấy Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3.9.2025 quy định nhiều nhóm được miễn hoặc giảm học phí, trong đó có sinh viên khuyết tật, một số sinh viên dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo và những nhóm người học thuộc diện bảo trợ xã hội. Chính phủ cũng đã ban hành chương trình tín dụng riêng cho người học các ngành khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán. Theo Quyết định 29/2025/QĐ-TTg ngày 28.8.2025, khoản vay có thể bao gồm toàn bộ học phí phải đóng sau khi trừ các hỗ trợ khác, cùng tối đa 5 triệu đồng mỗi tháng cho sinh hoạt và những chi phí học tập khác, với lãi suất 4,8% một năm. Ngày 29.6.2026, Bộ Tài chính công bố dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên để lấy ý kiến. Trong thời gian góp ý, một số ý kiến đề nghị nâng mức vay tối đa lên 10 triệu đồng mỗi tháng cho mỗi học sinh, sinh viên, đồng thời linh hoạt hơn trong việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn về tài chính. Những ý kiến này cho rằng mức vay thấp khó đáp ứng chi phí học tập và sinh hoạt thực tế của người học. Những thay đổi ấy cho thấy vấn đề đã được nhận biết và chính sách vẫn đang được điều chỉnh. Câu hỏi đặt ra ở đây nằm ở mức độ bao phủ, triển vọng tiếp cận và sức nâng đỡ thực tế của các chương trình ấy đối với toàn bộ những người trẻ có năng lực nhưng thiếu điều kiện kinh tế.
Một chính sách giáo dục tốt cần được đánh giá từ phía người cần sử dụng nó. Một sinh viên nghèo cần bao nhiêu tiền để sống và học trong bốn năm ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay một đô thị đại học khác? Ngoài học phí còn có tiền trọ, ăn uống, sách vở, máy tính, internet, giao thông, ngoại ngữ, thực tập và rất nhiều khoản nhỏ cộng lại thành một gánh nặng lớn đối với gia đình có thu nhập thấp. Ai đủ điều kiện vay? Việc chứng minh hoàn cảnh khó khăn có dễ thực hiện đối với những gia đình làm nghề tự do, thu nhập thất thường hoặc vừa trải qua một biến cố hay chưa? Sinh viên được vay trong bao lâu và bắt đầu trả vào thời điểm nào? Một người tốt nghiệp ngành có mức lương khởi điểm thấp sẽ chịu áp lực trả nợ ra sao? Một chương trình ưu đãi cho nhóm ngành được nhà nước ưu tiên có thể phục vụ mục tiêu phát triển nhân lực, nhưng một sinh viên nghèo học văn chương, luật, xã hội học, kinh tế hay một ngành khác vẫn phải đối diện với cùng một câu hỏi đau đầu là tiền đâu để học cho đến ngày tốt nghiệp. Thiết kế chính sách phải đi vào những câu hỏi như thế. Sự tồn tại của một chương trình hỗ trợ mới là bước đầu. Hiệu quả của chương trình phụ thuộc vào việc người cần nó có thực sự tiếp cận được, và khoản hỗ trợ ấy có đủ sức giúp họ hoàn tất việc học hay không.
Cũng cần phải thay đổi cách xã hội nghĩ về sự trợ giúp dành cho sinh viên nghèo. Rất nhiều câu chuyện trên báo chí kết thúc đẹp nhờ một doanh nghiệp trao học bổng, một nhà hảo tâm gửi tiền hoặc một trường đại học quyết định miễn học phí riêng cho nhân vật vừa được báo chí nhắc đến. Những nghĩa cử ấy có giá trị rõ ràng, và đôi khi đã thay đổi cả cuộc đời một người trẻ. Nhưng lòng tốt của cộng đồng luôn phụ thuộc vào việc trường hợp ấy có được biết tới hay không. Một sinh viên nghèo chưa từng xuất hiện trên báo vẫn có nhu cầu giống như người vừa được cả xã hội chú ý. Công bằng giáo dục đòi hỏi một cơ chế ổn định để quyền tiếp tục học ít phụ thuộc hơn vào may mắn được một tờ báo phát hiện, một mạnh thường quân biết đến hay một câu chuyện đủ cảm động để gây chú ý. Khi chính sách làm tốt phần việc của mình, học bổng tư nhân và lòng hảo tâm dù vẫn rất cần thiết, nhưng chúng trở thành phần bổ sung giúp người học tiến xa hơn thay vì chiếc phao quyết định một sinh viên có phải bỏ trường lớp giữa chừng hay không.
Cách tiếp cận ấy cũng buộc chúng ta nghĩ lại về ý nghĩa của công bằng trong giáo dục. Hai học sinh cùng làm một đề thi và được chấm theo một thang điểm giống nhau không có nghĩa là họ đã đi đến phòng thi bằng những điều kiện giống nhau. Một em có phòng riêng, máy tính tốt, học thêm khi cần và có cha mẹ chu cấp hoàn toàn. Em kia có thể học trên chiếc điện thoại cũ, buổi tối đi làm, sống trong căn nhà đông người và luôn phải tính xem tháng tới gia đình còn đủ tiền cho mình tiếp tục học hay không. Điểm thi cần giữ tính khách quan, nhưng chính sách xã hội phải nhìn được sự chênh lệch về điều kiện đã tồn tại trước ngày thi và sẽ còn tiếp tục sau ngày nhập học. Công bằng cơ hội không đòi hỏi mọi người có cùng cuộc đời. Nó đòi hỏi hoàn cảnh kinh tế của gia đình không được trở thành yếu tố quá nặng nề để quyết định một người trẻ có thể phát triển năng lực đến đâu. Trong một đất nước muốn nâng chất lượng nguồn nhân lực, việc một người có khả năng học tập phải rời giảng đường vì thiếu vài triệu đồng mỗi tháng chính là một sự mất mát đối với xã hội.
OK, những câu chuyện vượt khó trong mùa tuyển sinh nên được kể tiếp cho xã hội nghe, nhưng cần được kể cho đầy đủ. Hãy kể về nghị lực của các em, về người mẹ làm thuê nuôi con, người cha bệnh tật vẫn dành dụm tiền học, về những đêm vừa làm vừa học và niềm vui lúc nhận giấy báo trúng tuyển. Rồi hãy hỏi tiếp sau ngày nhập học, các em sẽ sống bằng gì trong bốn năm sắp tới, cơ chế nào bảo đảm việc học không bị đứt đoạn và bao nhiêu người cùng hoàn cảnh đang đứng ngoài những câu chuyện báo chí ấy. Một xã hội tử tế cần biết trân trọng người trẻ đã tự mình vượt qua gian khó. Một nền giáo dục có trách nhiệm còn phải cố gắng để thế hệ sau bớt phải tiêu hao tuổi trẻ cho cuộc chiến sinh tồn trước khi có thể dùng tài năng của mình cho việc học.
Điều đáng mong đợi nhất trong tương lai có lẽ không phải là chúng ta sẽ đọc được thêm bao nhiêu câu chuyện hay ho về những học sinh nghèo phi thường mà là ngày càng ít người trẻ phải nỗ lực trở thành anh hùng chỉ để giành lấy một cơ hội được ngồi trong một giảng đường đại học.