Nguyễn Thanh Tùng
Trước số 12 phố Ngô Quyền có một hàng rào sắt.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, người Hà Nội trèo qua nó để vào chiếm tòa nhà bên trong.
Mười sáu tháng sau, bốn mươi lăm người chết sau chính cái hàng rào ấy để giữ nó lại.
Vết đạn trên hàng rào đến giờ vẫn còn. Người đi qua đấy mỗi ngày, và gần như không ai dừng lại nhìn.
Tòa nhà đó xây năm 1918, làm Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Tức là chỗ ở và làm việc của viên quan Pháp cai quản toàn bộ miền Bắc. Cả khuôn viên rộng hơn mười một nghìn mét vuông.
Hôm qua tôi có nhắc đến ngày 9 tháng 3 năm 1945, cái đêm Nhật hất Pháp ra khỏi Đông Dương. Sau đêm đó, tòa nhà này đổi chủ và đổi tên. Nó thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ của chính quyền thân Nhật.
Và người ngồi ở đó là ông Phan Kế Toại.
Ông sinh ngày 3 tháng 2 năm 1892, quê làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, Sơn Tây. Được học bổng của chính quyền thuộc địa sang học Trường Hành chính thuộc địa ở Paris, về nước cuối năm 1914. Rồi làm quan cho Pháp, đi qua tuần phủ, tổng đốc của mười hai tỉnh. Tháng 3 năm 1945, chính phủ thân Nhật bổ nhiệm ông làm Khâm sai Bắc Bộ.
Nghĩa là trên giấy tờ, ông đứng ở phía bên kia.
Các tiểu sử về ông đều kể rằng ông nhìn ra khá sớm chuyện người Nhật chỉ đang dùng người Việt. Ông ngầm để cho con trai mình hoạt động cho Việt Minh. Giữa tháng 8 năm 1945 ông cho người bí mật tìm gặp Việt Minh, và mời Việt Minh tham chính.
Đơn từ chức thì ông đã gửi từ tháng 7. Đến ngày 17 tháng 8 năm 1945, ông mới chính thức rời phủ.
Tôi thấy chi tiết đó đáng kể hơn cả chuyện từ chức. Nghĩa là ông đã tính đường lui từ trước đó cả tháng, lúc chưa ai biết chuyện gì sắp xảy ra.
Trước khi rời phủ, ông dặn lại viên Chính quản chỉ huy đội bảo an binh đang canh gác ở đó một câu. Nguyên văn:
Tuyệt đối không được nổ súng và phải mở cửa ngay khi quân cách mạng tiến công.
Hai ngày sau, ngày 19 tháng 8, sau cuộc mít tinh ở quảng trường Nhà hát Lớn – con số thường được nhắc là gần hai mươi vạn người – đoàn người kéo tới trước Phủ Khâm sai.
Họ vượt qua hàng rào sắt.
Không có tiếng súng nào.
Hôm sau, cũng chính tại sân đó, quần chúng dự lễ ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời.
Còn ông Phan Kế Toại thì sau này làm quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ tháng 11 năm 1947, rồi Phó Thủ tướng từ tháng 9 năm 1955, giữ chức cho đến khi mất, tháng 6 năm 1973.
Một người được Nhật bổ nhiệm làm Khâm sai, hai mươi tám năm sau mất khi đang là Phó Thủ tướng của cái nhà nước đã lật đổ chính cái ghế ông từng ngồi.
Bây giờ đến phần thứ hai, và nó nặng hơn nhiều.
Tối qua tôi kết bài bằng cái tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, đứng trong khuôn viên đền Bà Kiệu, và sắp phải dời đi trước ngày 30 tháng 9. Tượng đài ấy tưởng niệm sáu mươi ngày đêm bảo vệ thủ đô.
Đây là một trong những chỗ của sáu mươi ngày đêm đó, cách cái tượng mấy trăm mét.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Toàn quốc kháng chiến. Tòa nhà lúc này đã mang tên Bắc Bộ phủ.
Giữ nó là Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 101, một đại đội Vệ quốc đoàn đóng trực tiếp trong khuôn viên. Chỉ huy là đại đội trưởng Mộng Hùng và chính trị viên Lê Gia Đỉnh.
Tài liệu phía ta ghi phía Pháp dồn tới khoảng ba trăm lính Lê dương, tám xe tăng, mười xe thiết giáp và hai khẩu pháo 75 ly. Một bản khác ghi gộp lại là mười tám xe tăng, xe thiết giáp và xe vận tải – cộng vào thì khớp nhau về tổng số xe.
Ba trăm lính Lê dương với xe tăng, đánh vào một tòa nhà văn phòng có hàng rào sắt.
Họ tấn công liên tục. Bên trong đánh lui sáu đợt.
Kết quả trận đó, theo các tài liệu phía ta: diệt 122 lính Lê dương, phá 4 xe tăng và xe thiết giáp, 3 xe vận tải.
Bốn mươi lăm chiến sĩ ta hy sinh.
Nói cho rõ ngay ở đây: đây là con số ghi trong tài liệu của một bên. Tôi chưa đối chiếu được với hồ sơ phía Pháp. Và với một trận mà bên tấn công mất tới hơn một phần ba quân số, thì đó đúng là chỗ đáng phải đối chiếu.
Trong số bốn mươi lăm người có chính trị viên Lê Gia Đỉnh. Ông ở lại một mình chờ địch vào, rồi đập kíp một quả bom lớn. Quả bom ấy diệt một chiếc xe tăng và hàng chục lính Pháp.
Ông được truy tặng danh hiệu Người quyết tử quân số 1 của Liên khu.
Nói đến chuyện đánh xe tăng thì phải nói cái này, vì nó là thứ tôi nghĩ mãi.
Người chiến sĩ đứng giữa cái tượng đài tối qua đang ôm một quả bom ba càng. Đó là vũ khí do xưởng quân giới của mình tự làm năm 1946: một cái phễu miệng rộng hai mươi hai phân, nhồi bảy đến mười ký thuốc nổ, có vành gang gắn ba cái càng sắt, lắp vào một cái cán.
Cái cán ấy dài một mét hai.
Cách đánh là lao thẳng vào xe tăng. Đến cách mục tiêu chừng hai đến ba mét thì hạ bom xuống ngang tầm vai, hai tay lao tới, sao cho ba cái càng chạm cùng lúc lên mặt thép thì bom mới nổ.
Hai đến ba mét là chỗ bắt đầu lao. Còn lúc ba cái càng chạm vào thép, khoảng cách giữa người và chỗ thuốc nổ chỉ còn đúng chiều dài cái cán.
Một mét hai. Với ít nhất bảy ký thuốc nổ ở đầu kia.
Trong sáu mươi ngày đêm ấy, Hà Nội lập mười đội cảm tử, khoảng một trăm người.
Tôi không tìm được tài liệu nào nói ông Lê Gia Đỉnh dùng đúng loại bom đó, nên tôi không viết là ông dùng. Tôi chỉ kể ra đây để bạn biết cái vật mà người trên tượng đài đang ôm là vật gì, và nó dài bao nhiêu.
Tòa nhà bây giờ là Nhà khách Chính phủ, do Bộ Ngoại giao quản lý từ năm 1981. Được xếp hạng di tích năm 1985, gắn biển đồng năm 2005.
Còn cái hàng rào thì vẫn ở đấy.
Nó là hàng rào của khu nhà mà người Pháp dựng năm 1918, để ngăn người Việt vào.
Năm 1945 nó bị trèo qua, và không ai bắn. Trước đó hai ngày, ông quan ngồi trong tòa nhà đã dặn lính đúng một câu trước khi rời đi. Tôi không dám nói câu dặn ấy là lý do duy nhất. Tôi chỉ biết là câu ấy được nói ra, và hôm ấy không có tiếng súng nào.
Năm 1946 nó được giữ lại bằng bốn mươi lăm mạng người.
Và vết đạn còn trên hàng rào bây giờ là vết đạn của tháng 12 năm 1946, không phải của tháng Tám. Tháng Tám thì không ai bắn cả.
Cùng một hàng rào, cách nhau mười sáu tháng. Lần thứ hai thì nó đã đứng ở phía bên kia.
Nói cho công bằng thì tôi phải nói rõ hai chỗ.
Chỗ thứ nhất, về ông Phan Kế Toại, vì chuyện của ông hay bị kể gọn quá.
Người ta hay kể ông là quan triều đình đi theo cách mạng, nghe như một người vốn đã ở phe này từ đầu. Không phải thế. Ông là quan của Pháp trước, rồi làm Khâm sai cho chính quyền do Nhật dựng lên. Ông ngồi ở đúng cái ghế mà cuộc khởi nghĩa nhắm vào.
Cái ông làm không phải là một lý lịch. Là một quyết định, ở đúng một thời điểm: khi biết mình sắp mất chỗ, ông dặn lính đừng bắn.
Tôi nghĩ như thế còn đáng kể hơn.
Chỗ thứ hai, về những con số trong trận đánh. Toàn bộ số liệu tôi dẫn ở trên – ba trăm lính, mười tám xe, 122 bị diệt, bốn mươi lăm hy sinh, sáu đợt tấn công – đều lấy từ tài liệu phía Việt Nam. Chúng khớp nhau giữa mấy nguồn tôi đọc được, nhưng khớp nhau chưa chắc đã là độc lập, vì rất có thể chúng cùng truy về một bản gốc. Tôi chưa đọc được hồ sơ phía Pháp về trận này. Ai có thì chỉ giúp tôi, tôi sẽ đối chiếu và nói lại.
Bạn đi qua số 12 Ngô Quyền bao nhiêu lần rồi mà chưa biết cái hàng rào đó có vết đạn?

