Trường ca du ký
Đỗ Quyên
Chương 3
Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam
Bắc thang lên hỏi ông trời[1]
làm sao biên giới truyền đời bình an
làm sao Ải Bắc yên hàn thảo trường ca hỏi ông Bành Tổ ơi…
… Lành thay
Xạ thu
Thiện tai…
3.1
Địa danh đan kết sử vàng thiên thu
Việt Nam ta lịch sử 4000 ngàn năm máu và hoa đâu hổng hết
nội cái Ải Nam Quan cái Ải Bắc Quan[2] dằng dai ẵm nửa hậu kỳ rồi
già 2000 năm tuổi ải
nhà Hán yêng hùng cả cõi trung nguyên nửa thiên địa 2000 năm trước
này là triều hoàng kim thứ hai Bắc phương 5000 năm sử xanh đỏ tím vàng đen
tam hoàng ngũ đế Hạ Thương Chu Hán Đường Minh Thanh Tưởng Mao Tập
này là hoàng triều nhất thống hưng thịnh một phát tới 400 năm lận
này là xây nền đắp tảng chắc nình nịch văn minh văn hóa Trung Hoa
này là sinh ra con trời Đại Hán dân tộc mộng đỉnh nhân quần
(còn vài cái này là nữa tiếc quá chường ca gia kiêm chướng ca gia ta bận chuyện đất Việt trời Nam chúng ta Hình Chữ S trường ca du ký)
ấy vậy trong các này là đó có
phên dậu láng giềng Man Di[3] bé hạt tiêu mỏm góc cực Nam phương
trên trển tưởng bở hắt xì hơi là rơi xuống bể
kể ra cũng chả vừa đâu
thế nào ta phải[4] thì Tàu mới kinh
… Ung Kê Quan
Ung Kê Quan
Ung Kê Quan[5]
tâm nẻo này niệm ải quan
Phật ơi độ nữa tha màn can qua
tam bách niên hậu[6] Phật à
rồi ra tính tiếp
ố là là Nam Quan
cải danh ải trấn tám lần[7]
một lần trúng đận tân thanh[8] Thúy Kiều
bao lần máu đổ thành xiêu
sử vàng đan kết bấy nhiêu biên thùy
Đại Cồ Việt khúc mở màn
hôm nay Ải Bắc vững vàng Việt Nam[9]
*
… Năm 981 Đinh Tiên Hoàng bị hại
sau ngàn năm biên ải tái binh đao
Tống Thái Tông xâm lăng Đại Cồ Việt
cổng Nam Quan máu còn đậm năm nào…
*
… Năm 1077 Tống Thần Tông tấn công Đại Việt
quân đường bộ lần mò dọc Ải Nam Quan tới Ải Chi Lăng…
*
… Năm 1284
rồi 1287
Đại hoàng đế Hốt Tất Liệt nhà Nguyên (đến trẻ lên ba nước ta cũng thuộc trọn tên)
sai Thoát Hoan (sau chui ống đồng chí chết mà làm nên một sử thoại Việt)
xâm lăng Đại Việt bộ binh ngả Lạng Sơn ắt phải qua Đại Nam Quan
(chứ không nhẽ lại bay)…
*
… Năm 1427…
à nghỉ giải lao cái đã
Đại Cáo Bình Ngô đê
(khỏi chú thích kẻ không nhớ ắt là phường quên yêu nước!)
Ngày 18 trận Chi Lăng
Liễu Thăng thất thế
ngày 20 trận Mã Yên
Liễu Thăng cụt đầu
Quả này ngon tất nhiên rồi cửa ải nức danh đâu thể không nhào vào cuộc
Số là
năm đó 1427 Minh Tuyên Tông sai danh tướng cục cưng hai lần chinh phạt Đại Việt nổi hơn cồn từng trải chiến trường dày dặn to gan Chinh Lỗ Phó tướng quân An Viễn hầu Liễu Thăng thống lãnh 10 vạn viện quân cưỡi trên 2 vạn ngựa nghẽo cấp tập giải nguy đồng đội Vương Thông bị nghĩa quân Lê Lợi Lam Sơn vây giáp thành Đông Quan (Quý độc giả nào chưa nhớ địa danh này là đâu mời xem lại vở “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”[10] ngay cho ạ)
ngựa quen đường cũ quân viễn chinh đi chặng Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn qua Trấn Di Quan (bạn đọc chưa kịp nhớ thì tìm coi lại câu thơ “trấn ải tám lần cải danh” ở bên trên nhé) tướng Lam Sơn Trần Lựu giữ cửa Pha Lũy vờ không địch nổi rút lui về Ải Lưu họ Liễu quân địch đánh tiếp họ Lựu quân ta lại ra vẻ giữ không nổi phải lui về Chi Lăng mấy lần đánh đều thắng và cộng thêm việc thủ lĩnh Lê Lợi giả vờ sợ oai phong họ Liễu bằng cách viết thư xin hoãn binh để Trần Cảo được lập làm vua khiến họ Liễu sinh tự đắc nên ngày 18 tháng 9 âm lịch họ Liễu mót thắng trận quá rồi bèn đánh ải Chi Lăng họ Lựu nhà ta ra nghênh chiến rồi lại giả đò thua bỏ chạy để dẫn họ Liễu nhà địch vào trận địa mai phục của nghĩa quân Lê Sát nhà ta ha ha họ Liễu nhà địch ỷ tài khinh địch đuổi theo đến trước đèo Đảo Mã chỉ cùng hơn 100 kỵ binh phi trước qua cầu thì cầu sập cái rầm đội quân sau bị ngăn không tiến được mà chỗ họ Liễu nhà địch đi toàn là đất bùn lầy tức thì nghĩa quân ta phục binh nổi lên bốn phía Liễu Thăng bị trúng tên chết ngắc củ tỏi rồi lại bị chém đầu mà chết chắc lần hai sự này xảy ra nhằm ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi tức ngày 10 tháng 10 năm 1427[11] ha ha ha đáng đời cái đồ xâm lược…
Kết cục có hậu vô cùng (Tổ quốc ta ơi[12])
Liễu Thăng bại tướng thăng thiên
binh tình đảo lật nghiêng về phe ta
viện binh Minh rã tan bị diệt
quân Lam Sơn làm chủ đất nhà
Vương Thông buộc phải chui ra
mười năm Lê Lợi hội thề Đông Quan!
[Nhưng than ôi
có nhiều chiều thu lá thu rơi[13]
kết của kết hu hu thậm tệ
không hậu đâu tiền lệ hậu này
(kể cả cái hậu thường ngày
gọi tên khoa học biết ngay hậu nào)
độc giả tất hiểu vì sao
tức hận quá chán chường ca hạ rèm
tạm xài chú thích sử đen
kẻ xâm lăng bỗng hóa… vàng Liễu Thăng!][14]
*
… Năm 1539
sứ thần nhà Mạc Nguyễn Văn
Thái đến trấn ải xin hàng nhà Minh…
*
… Năm 1788
nại cớ phù Lê cứu gian quân Chiêu Thống Duy Kỳ Duy Khiêm năn nỉ Thái hậu lận đận qua tận Mãn Thanh cầu viện bla bla bla
hoàng đế Càn Long đặc phái Tôn Sĩ Nghị thống lãnh viễn chinh
ba ngả quân tràn sang dẹp loạn tan hoang Đại Việt
Tôn tướng quân giờ ngọ ngày 15 tháng 11 dương lịch
khinh khỉnh ngoái nhìn cổng Nam Quan
như gió vào nhà trống thẳng tiến chỉ sau ba nốt nhạc
ẵm gọn Thăng Long thành ngày 16 tháng 12 cùng năm
(trước Noel Chúa ạ lẹ hơn cả B52 Mẽo 1972)
ba nốt nhạc kế tấu lên Ngọc Hồi Đống Đa hùng trận
mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789 lịch dương 30 tháng 1
đại binh hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ
chứ còn ai phá nổi quân Thanh dưới gầm trời này nữa (hỡi Chúa hở Trời)
hung bạo thiện chiến 29 vạn binh ít đâu
ừ thì đám dân phu phục dịch trên 6 vạn lính triều
dưới tay nhà Tây Sơn 10 vạn quân chính quy uýnh cho tan tành xác pháo
thần tốc 5 ngày
(giờ lao động chuẩn công đoàn quốc tế quy định 8 tiếng vàng ngọc nghỉ weekend[15] đủ đầy)
thu Thăng Long dẹp Bắc Hà về một cõi
(từ nồi lẩu thập cẩm vương triều vua chúa Lê Trịnh Nguyễn Đàng Ngoài Đàng Trong Bắc Trung Nam búa xua)
đại bại Tôn quân tháo chạy một lèo cố quốc
tùy tùng sống sót đâu như nhõn 50 mạng còi tim đập chân run
hảo lớ[16] vẫn còn hên đó các trự không chuồn theo nẻo cũ Trấn Nam Quan
nam quốc sơn hà nam đế cư[17] hảo lớ…
*
… Năm 1885
trận chiến Trấn Nam Quan – Lạng Sơn bùng phát
(con đẻ chính tông từ lò tranh giành Thanh – Pháp[18])
Phú Lang Sa và Mãn Thanh nhè đỉnh đầu Đại Nam làm nơi thử sức
(tiện thể thử súng đạn luôn thế mới báo hại các cụ nhà ta
cùng mấy ông Tàu Quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc nổi như cồn mươi năm đận đó)
trận đồ Ải Bắc quả này nom thế mà oách phết
chấm dứt chiến trận lại còn được quốc mẫu ban danh “Sự kiện Bắc kỳ”
bê bối chánh trị Đại Pháp bị đổ thêm dầu vô lửa
riêng chướng ca gia dòm thấy
có cơ sự này vừa tức vừa cười
2 giờ 30 chiều ngày 24 tháng 2
một ngày sau khi xảy ra trận chiến
hốt nhiên tướng Pháp de Négrier cho phá sập Ải Nam Quan
tức là tức cái sự ấy
còn cười là cười cái sự vầy
ngài tướng Tây quý tộc liền cho dựng lên gần đấy
tấm biển ghi bằng chữ Hán
(he he thế mới ra mặt dạy chủ nhà bài học pháp lý luân thường)
“Không phải vách đá bảo vệ được biên giới
mà là sự tôn trọng các hiệp định”
riêng quả này Tây ngố Tây lông phát ngôn chuẩn không thể nào chỉnh
một đóa hồng nhà trồng được tặng trễ (2026 – 1885 =) 141 năm
PS: Tức phát nữa
phát tức này tức cho tiếng Quốc ngữ ta thời đó[19]
chứ không thì giữa biên cương phiên dậu với láng giềng khủng
Quốc ngữ ta cũng bảnh chọe ngự trên biển nọ song hành cùng cường quốc ngữ như ai
mà cổ súy kim chỉ nam Bình đẳng – Công bằng – Bác ái
cho mỗi biên giới biên thùy nơi nơi…
*
… Năm 1887
ngày 26 tháng 6 công ước hoạch định biên giới Việt Nam – Trung Quốc ký giữa Pháp ngày 21 tháng 4 năm 1891 tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới cận Ải Nam Quan
Hòa ước Pháp quốc với nhà Thanh
dân Việt ngơ ngẩn mách trời xanh
thực thi cắm mốc gần biên giới
cửa ải Nam Quan cuộc bất bình
Định phân địa giới của nước mình
bởi tay người Pháp – Mãn Châu nhân
Việt Nam nhược tiểu nhiều cam chịu
thịnh suy vận nước đã bao lần
Đụng độ triền miên suốt bao triều
thời gian mòn mỏi biết bao nhiêu
giang sơn đâu dễ giằng co mãi
một tấc đường đi vẫn cứ nhiều
danh phận quốc gia thành máu đổ
ngàn đời thù hận hóa liêu xiêu[20]
*
… Năm 1979
ngày 17 tháng 2
Ải
Đồn
Cổng
Trấn
Cửa
Quan[21]
8-Tên-Gọi[22] cùng đội chung tang tày
2000 năm tuổi về đây
tày trời máu tày trời xương tày đời
2000 năm tuổi về ngay
13-Tên-Gọi[23] tang tày đại tang
Ải Đồn Cổng Trấn Cửa Quan
Bắc Nam Quan
Nam Bắc Quan
gọi hồn
Nam Bắc Quan
Bắc Nam Quan
4000 năm khóc quan san đất dày
… Ngày 17 tháng 2 năm 1979
là ngày thứ Bảy
lịch âm 21 tháng Giêng 1979
ngày Ất Mão tháng Bính Dần năm Kỷ Mùi
đây là ngày không đẹp theo quẻ tử
quan ải địa đầu phương hướng Bắc
máu đào lại nổi sóng lửa binh
200 năm có lẻ trầm mình
ôi giữa thiên thu một lần
2000 năm
4000 năm
thê thảm nhất
Vầng trán trời Nam
dập nát!
…. từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 trong Chiến tranh biên giới Việt Trung 1979 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tung trên 660.000 quân tấn công Việt Nam trên khắp tuyến biên giới giữa 2 nước ở 6 tỉnh Lai Châu Lào Cai Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh và đã chiếm được các thị xã Lào Cai Cao Bằng Lạng Sơn bộ binh Trung Quốc vào thị xã Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng vào thị xã Cao Bằng theo thung lũng sông Bằng và vào thị xã Lạng Sơn theo thung lũng sông Kỳ Cùng qua Ải Nam Quan
Ải Nam Quan
Ải Bắc Quan
Ải Bắc Quan
Ải Nam Quan
Ba đấng tối cao
biểu tượng linh thiêng cốt lõi
Hai đấng Sáng tạo vũ trụ sắp đặt luật lệ
con người tuân theo
Một bậc Giác ngộ khỏi sinh tử
chúng sinh tự tu thoát khổ đau
Thua!
Cuộc chiến tranh đó cả hai bên tham trận cùng thắng
Chúa Phật Trời
cả tam đấng linh thiêng
cùng thua
Ba đấng tối cao đồng thanh hỏi
thế cái Chiến tranh biên giới Trung-Việt năm 1979 đó nó xảy ra ở Hữu Nghị Quan – Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị ra nàm thao[24]?
Đệ tử AI miễn phí khá là yêu nước mau mắn đáp ngay và luôn
chiến tranh biên giới Việt-Trung (17/2 – 16/3/1979) là cuộc xung đột ngắn ngày nhưng đẫm máu do Trung Quốc phát động dọc toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam sự kiện khủng này đã mở đầu cho một thập kỷ xung đột căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia dạ vâng dám thưa Ba đấng tối cao ạ nó đã diễn ra vô cùng khốc liệt tại khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị (Nam Quan)
hu hu dạ thưa dưới đây là các thông tin cô đọng về sự kiện thậm tệ này hu hu
tâm điểm giao tranh: Cửa khẩu Hữu Nghị là một trong những hướng tấn công chính của quân đội Trung Quốc khi tràn sang Việt Nam vào rạng sáng ngày 17/2/1979 nhằm tiến về thị xã Lạng Sơn.
diễn tiến
trong thời gian của cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam bảo vệ biên giới phía Bắc khu vực cửa khẩu và các điểm cao xung quanh bị pháo kích dữ dội và trở thành chiến trường chính hu hu
dấu tích
nhiều tài liệu và hình ảnh tư liệu cho thấy các công trình gần cửa khẩu, bao gồm cả các trạm kiểm soát cũ, đã bị hư hại nặng do mảnh đạn pháo trong cuộc chiến
bối cảnh
đây là tuyến đường huyết mạch cửa ngõ quan trọng nối liền biên giới phía Bắc Việt Nam vì vậy là nơi diễn ra các cuộc đụng độ dữ dội nhất giữa hai bên ạ sau khi quân Trung Quốc rút quân vào tháng 3 cùng năm các xung đột nhỏ lẻ vẫn tiếp tục kéo dài ở vùng biên giới này trong nhiều năm sau nhất là trong khoảng 1984-1985 và tít mãi đến tận năm 1991 hu hu quan hệ hai nước mới bắt đầu bình thường hóa ạ bingo[25] bọn trẻ gien Z bi giờ kêu vậy (bingo cái mả má quân bay bao nhiêu máu chảy đầu tan có ngày hôm nay giỡn à)
*
… Năm 1999
ngày 30 tháng 12
tại Hà Nội
đấy thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(oách)
nhị vị ngoại trưởng
Nguyễn Mạnh Cầm của Việt Nam (không nhẽ của An Nam he he)
Đường Gia Triền của TQ (viết tắt chọc chơi tí hi hi vui thôi mà[26])
chánh thức và long trọng
ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Trung-Việt Việt-Trung
oách nhất rằng thì mà là phân định
lãnh thổ
chủ quyền
quyền chủ quyền
tại khu vực xung quanh Ải Nam Quan
(trong trỏng có Ải Bắc Quan nữa chứ bộ)
cứ thế mà theo
có nhân tất quả
ải quan máu đổ
đô thành hoa nở[27]
bởi thế gần như ngay và luôn
hiệp ước được quốc hội Trung Quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2000
quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9 tháng 6 cùng năm gần như luôn và ngay
việc cắm mốc biên giới khởi công năm 2001 đến cuối năm 2008
là xong
hảo lớ[28]
well done[29]
Nam Bắc Quan lại đề huề từ nay
Xạ thu
thiện tai
lành thay
Bắc Nam Quan từ nay lại đề huề[30]
3.2
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Văn chương thơ chữ bề bề
lọt bao nhiêu xuể cung mê ải này
bi hùng đâu oan khuất đây
dân tộc mảnh quan hà dày máu xương
*
Gái dòng giống Triệu-Trưng Ngân Giang
thi hoàng Đường ngôn lộng trời Nam
tài hoa nhạy cảm chí trai mạnh
nhất thi phẩm thiên thu lay động
… Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi[31]…
* Hoàng Cầm
(Một đêm trăng mờ hoang lạnh; có tiếng tiêu từ ngàn xa văng vẳng trong sương; ven khu rừng gần Ải Nam Quan, rậm rì cây cối. Có một bóng đen, nhanh mạnh vạch cây rẽ lá tìm đường… Đã nửa đêm tịch mịch; tiếng tiêu vẫn réo rắt, não nùng, xen vào là tiếng mõ cầm canh gần xa bất định. Gần đó, Phi Khanh bị giam trong cái cũi lớn, tỉnh dậy và cất giọng…)
– Đây biên thùy hai nước thù đẫm máu
Mục Nam Quan con mắt khép tình thâm
lối qua lại của một loài cuồng khấu
là trấn quan chua xót bóng ngàn năm
đây Nam Quan những u hồn thấp thoáng
đứng đầu non trông dõi bóng gia hương
Nam Quan đây anh hùng xưa lảng vảng
trỏ sang Tàu vạch máu thẳng đường gươm
đây Nam Quan đại tướng quân triều Lý
đuổi quân thù cứu mạng vạn dân sinh
lại phóng xá cho giống người tiểu kỷ
hồi binh mà múa tít lưỡi gươm linh
Nam Quan đây Nguyên Mông trôi biển máu
thoát rừng xương tơi tả lấn nhau về
say chiến công danh tướng Trần hào sảng
nắng chiều hôm rung động ánh gươm thề
mà bây giờ Thăng Long nằm đợi chết
biết khi nào lau sạch máu trên đầu
mấy cha con ta sao thần vụt tắt
nẻo xa xăm lệ huyết chảy về đâu
(Nguyễn Trãi đi đến, nép vào bụi cây, lắng nghe, đoạn lên tiếng)
– Vâng chính thế thưa cha già bất khuất
hận long thành nghi ngút chuyện thương đau
phụ thân ôi chiến bào đầy lệ ướt
biết bao giờ lau sạch máu trên đầu
– Con đấy sao về đi người trai hỡi
về ngay mà đúc thép chống giang san
cha tin chắc đường gươm nơi đất tổ
sẽ có ngày sáng chói những vinh quang
– Cha nói đến tương lai tràn ánh sáng
khiến lòng con bừng tỉnh một cơn mê
cúi lạy chào cha lên đường ảm đạm
rời Nam Quan theo gió đẩy con về
– Ôi sung sướng trời cao chưa nỡ tắt
về ngay đi ghi nhớ hận Nam Quan
bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
cha nguyện cầu con lấy lại giang san
– Hận Nam Quan biết bao giờ phai nhạt
biết bao giờ cạn lệ khóc cha già
phút vĩnh biệt trăm vạn ngàn chua xót
– Kìa con trông nắng hé chân trời xa
– Chân trời xa chân trời xa chân trời xa
– Về ngay đi về ngay đi Nguyễn Trãi
nâng gươm thề đem quốc sử mà soi
– Đã đến phút con lìa xa quan ải
kể từ đây Nam Bắc tách đôi nơi
– Khuya sắp cạn quay lưng ngay con Trãi
nhớ Nam Quan là vết máu trên đầu
– Đêm quan ải treo một dao hai lưỡi
tách lòng con dọc hết vết thương sâu
trông lên Bắc thậm xót đau trào máu
ngó về Nam tan tác gia hương đâu
càng thảm khốc càng kiên tâm lâm trận
bụi hồng bay quay tít một đường gươm
hỡi quân Minh quên ngoái nhìn sử sách
mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương
hãy chờ đấy trông sao thần sáng chói
một ngày mai con cất cánh tung hoành
cha phù hộ cho con tròn sứ mệnh
y lệnh Hoàng Thiên dẫu bại hay thành
một ngày mai khi Trãi này khởi nghĩa
kéo cờ lên phấp phới linh hồn cha
gạt nước mắt con nguyện cùng thiên địa
một ngày mai phải khôi phục sơn hà
– Máu anh hùng trôi đi mà rửa nhục
kìa con trông nắng nhuộm đỏ chân trời
– Con xin về mài gươm chờ báo phục
– Nhắm mắt đất Trung Hoa cha đặng cả cười
– Thượng sơn nắng phơi nền hy vọng
cha đã chỉ cho con bóng dáng ngàn xưa
con hiểu rồi linh hồn cha cao rộng
sẽ bay về theo lớp gió mây đưa
(Trãi lùi dần vào các khóm cây khuất đỉnh núi)
– Kính chúc cha lên đường qua cõi chết
vui từ nay cho đến lúc ly trần…
(Tiếng tiêu vẫn mơ màng, gió sớm nổi lên; Phi Khanh quắc mắt nhìn theo con, hai tay đan siết…)[32]
* Tố Hữu
Ai lên Ải Bắc ngày xưa ấy
khóc tiễn cha đau mấy đoạn trường
hôm nay biên giới mùa xuân dậy
núi trắng hoa mơ hữu nghị hương[33]
* Nguyễn Du
Việc Lý Trần xa xưa khó xét
ba trăm năm trước đến ngày nay
ngăn chia hai nước thành còn đó
hùng tráng muôn non cửa vẫn đây
đất xa hay nghe đồn chuyện nhảm
trời gần mới biết đội ơn dầy
trông về cửa khuyết ngoài mây biếc
văng vẳng quân thiều tiếng nhạc bay[34]
* Á Nam Trần Tuấn Khải
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn con là Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
bốn bề hổ thét chim kêu
đoái nom phong cảnh như khêu bất bình
coi lịch sử gươm kia còn tỏ
mở dư đồ đất nọ chưa tan
giang san này vẫn giang san
mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai
cha nay đã muôn nghìn bi thảm
nói bao nhiêu tâm khảm càng đau
chân mây mặt cỏ rầu rầu
càng trông cố quốc mạch sầu càng thương
lời cha dặn khắc xương để dạ
mấy gian lao con chớ sai nguyền
tuốt gươm thề với vương thiên
phải đem tâm huyết mà đền cao sâu
nữa mai mốt giết xong thù nghịch
mũi long tuyền lau sạch màu tanh
làm cho đất rộng trời kinh
bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày
nghĩa vụ đó con hay chăng tá
tính toán sao vẹn cả đôi đường
cha dù đất lạ gởi xương
trông về cố quốc khỏi thương hồn già
Con ơi
Hai chữ nước nhà![35]
*
Nguyễn Thị Mắt Nâu
Chập chùng qua Ải Nam Quan
mênh mông gió núi mây ngàn vi vu vượt bao nhiêu chặng mịt mù
sắc hoa rực rỡ lu bu xây thành
núi non hiểm trở bao quanh
chiếu vua ban xuống quyết hành cho xong
ơn vương vang khúc quân hành
qua sông bắc đến kinh thành đế đô Ải Nam Quan gió xây thành[36]
*
Trường ca gia trường ca gia
cúi nâng chữ mọn gọi là phù theo
… Vầng trán trời Nam Ải Bắc Quan
Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam
Trời Nam vầng trán Ải Bắc Quan
Ải Bắc Quan trời Nam vầng trán…
Trường ca gia trường ca gia
chữ mọn nâng cúi phù theo gọi là
Vầng trán trời Nam Bắc Quan Ải
Bắc Quan Ải vầng trán trời Nam
Trời Nam vầng trán Bắc Quan Ải
Bắc Quan Ải trời Nam vầng trán
Vầng trán trời Nam Ải Bắc Quan…
3.3
Lời nợ tay chân
Cánh tủ lạnh cạnh bàn văn dính tờ ghi
“Những gì trường ca gia trong ta
bằng con chuột[37] không chinh phục hết đất nước Hình Chữ S
đôi chân hành hương của ta sẽ tiếp tục…”
tay trường ca gia và chân ta
lao động như một lữ hành nhân[38]
Ải Bắc Quan
nơi tay và chân kẻ hèn chưa thể hiệp đồng
cúi đầu
nhận lời nợ vầng trán nước nhà lồng lộng…
… Nam Vô[39] Nam Quan
Nam Quan Nam Vô…
Chương 4
Cà Mau mũi đất Việt “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”
4.1
Việt Nam ngũ địa linh hiện sinh
… Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam
Hà Nội thủ đô trái tim Tổ quốc
Huế cố đô rốn ruột quê hương
Đà Nẵng cửa mình đất nước
Cà Mau địa đầu Nam giang san Việt
Đấy
Việt Nam quốc gia ngũ địa linh[40]
Năm đặc tả
Hình Chữ S
cư mang dáng người mẹ Việt
căng trên địa cầu
Thái Bình Dương châu Á Đông Nam
Một Việt Nam ngũ địa linh hiện sinh…
… Những khi tràng hạt vồng lên
mỗi niệm châu
động chạm
tam địa dư nhạy cảm
ngực Hà Nội thủ đô
rốn Huế kinh thành
cửa mình Đà Nẵng biển Đông cảng…
… Tân cổ đại sự sơn hà Việt Nam
thấu suốt
từ vầng trán Ải Bắc Quan
đến “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” Cà Mau mũi đất[41]…
4.2
Đất mũi thơ ngắn thơ dài
4.2.1
Đất biết nở
rừng biết đi
biển cả sinh sôi[42]
Nam Mô A Di Đà
Phật trăm tay ngàn mắt tại đây đà mấy ngàn năm rồi ạ
bạch Quý ni cô sư thầy đạo hữu
Chữ biết nở
thơ biết đi
trường ca sinh sôi
văn thơ ngàn ý trăm lời tại đây vừa mấy trăm năm rồi nhỉ[43]
thưa Quý vị cùng bạn bè văn thi hữu
… Trường Ca Tràng Hạt
Tốt lắm[44]
Tràng Hạt Trường Ca
Xạ thu
Tràng Ca Trường Hạt
Thiện tai
Trường Hạt Tràng Ca
Lành thay
Trường Ca Du Ký
Tốt lắm
Du Ký Trường Ca
Xạ thu
Trường Ca Trường Chinh
Thiện tai
Trường Chinh Trường Ca
Lành thay…
4.2.2
Lý do du ngoạn Cà Mau thật dễ
đâu cần mê du hành hay rất yêu nước mần chi
nhưng cú hích
giọt nước tràn ly
mỗi người mỗi kiểu…
… Nhiều Gien Z dạo chợ Phây thổ lộ
ngó nghiêng biển quảng cáo ngã tư đèn đỏ
lướt mạng tư vấn du lịch trong khi chờ tè hóng ị xém nổ tung toilet
đụng bốn câu thơ đinh đỉnh thế vầy
xoẹt zalo chuyển khoản luôn và ngay
lúc vừa may đụng đèn đỏ tiếp hay
bấm máy liền tay sau khi giật nước:
nghe nói Cà Mau xa lắm
ở cuối cùng bản đồ Việt Nam
ngại chi đường xa không tới
về để nói với nhau mấy lời…
… Lại có anh giai nọ U50 trễ vợ
yêu đơn phương một và chỉ một Phi Nhung[45]
hễ mà nghe danh ca nhả điệu câu vầy
mai mốt Cà Mau em lớn
tuy út mà sửa soạn đẹp hơn
em đứng mình ên một hướng
duyên dáng mời khách lạ ngàn phương
Cà Mau mặc thêm áo mới
về Cà Mau là thấy thương em rồi[46]
thì thế nào U50 cũng lại
ri rỉ mít ướt khiến vợ sắp cưới bao phen dọa tự vẫn
chuyện tình đơn phương í nay đã hết
sau đám tang nữ danh ca thật thê lương bởi con mẻ Cô Vít
và chấm dứt hẳn mít ướt
sau chuyến vòng vòng dọc ngang Ông Đốc U Minh Cái Nước Đầm Dơi Năm Căn khách VIP Hội chợ Đêm trắng Cà Mau đón bình minh Hòn Đá Bạc trao nụ hôn đầu tiên của U50 cùng cô dâu tương lai may chưa kịp tự vẫn nay đương kim CEO Tổng công ty cổ phần thương mại và du lịch Cửu Long Giang oách…
… Năm 2009 có bầu đoàn thầy trò bậc khảo cổ gia thượng thặng của đất nước kiêm giáo sư địa lý học thượng thừa của quốc gia chọn check-in điểm đến này mừng thọ cửu thập một đời trai dòng hoàng tộc xứ Huế mũi Cà Mau cách thành phố Cà Mau hơn 100 cây số nay 2026 đi một vèo đến tận mũi đất chạm biển còn thời đó 2009 phải leo lên xoàng thì xe khách sang thì xe riêng hay taxi phóng chừng 50 cây nữa đường bộ gập gà gập ghềnh rồi lại leo xuống ca nô chạy hơn 50 cây nữa vậy mà 90 tuổi cứ trèo lên trèo xuống ca nô có khi phải bò cúi trườn xoải trông thật cơ khổ dưng mà vui đáo để ca nô chạy tốc độ cao như ngựa cái lỏng cương xé nước trắng xoá hai bên sông Gành Hào nhà cửa thưa thớt ôi thấy thương mấy nếp nhà tranh nghèo choài ra mặt sông welcome khách hai trò cưng ngồi sát sạt hai bên trò nữ 60 tuổi bên tả trò nam 70 tuổi bên hữu chốc chốc tả hữu thay phiên nhau liếc chừng thầy còn vị giáo sư cứ vô tư tươi tắn như trẻ 8 tuổi thơ hổng tỏ chút gì mệt mỏi “nơi tận cùng đất nước là đây” lão giáo sư thốt lên sau bao nhiêu phút trầm tư rồi cùng hai trò cưng nữ tả nam hữu kế kề sát sạt mà vẫn đủ khoảng cách tự do leo lên tượng đài hình con thuyền cánh buồm trắng nổi bật hàng chữ đỏ màu máu hòa nước mắt cùng mồ hôi bao đời dân Việt
MŨI CÀ MAU 800.37’.28’’. VĨ ĐỘ BẮC 1040.43’’. KINH ĐỘ ĐÔNG
“đứng đây mới đúng cảm giác đang cưỡi con tàu Tổ Quốc ta mũi thuyền ta đó tiến thẳng ra biển như thơ chàng Xuân[47] dạo nào nhỉ” thầy nói với trời với nước và một trò cưng thưa “vâng thầy xa xa mơ mờ phía kia chính là mũi Cà Mau ngón chân cái của Đất Nước như văn chàng Nguyễn[48] đấy ạ” trong ánh nắng vàng chói thiên dương mà dịu dàng trần thế nửa như mật ong nửa như gấm lụa gương mặt thầy cùng hai trò tả hữu nữ nam cùng sáng bừng từ tốn vị giáo sư già rảo bước đến sát mép nước trò tả giương mắt chụp vào tâm can hình ảnh thầy mình đứng lặng như tượng đồng phơi giữa trời mắt hướng phía mũi Cà Mau trầm ngâm rượi buồn tê tái trong khi trò hữu chợt thấy vẳng lên câu nói của thầy mình hôm ba thầy trò cùng cả đám trò tụ tập tính chuyện du hành cho người thầy “cả đời tìm lùng đo đạc khắp giang sơn Hình Chữ S để dành mãi mũi đất chót út này cho năm nay sợ không còn dịp nào nữa” mô Phật lạy Chúa amen Thánh Allah ba hôm sau báo chí nhà nước tư nhân mạng xã hội văn nghệ khoa học trong ngoài Hình Chữ S tất nhiên đã nhất tề cáo phó chia buồn tưởng niệm hu hu xin ngưng không kể đoạn trữ tình ngoại đề e trường ca (hát) hóa thành trường khóc (lóc) RIP…[49]
4.2.3
Đêm qua chân trời gởi tin zalo mời
vâng sớm muộn gì đất nước cũng sẽ tới nơi
nhặt nhạnh trọn đoản khúc lý Cà Mau mùi mẫn
trong trỏng giấu minh triết thâm sâu
nữ nhân ca rằng biết đâu ngó lén đủ lâu
một người ngủ thiếp thì sẽ thấu
tâm họ suốt chiêm bao
còn mình mình bớt thênh thang hết đêm thâu[50]
4.2.4
Mép biển tận cùng
sau một nụ cười
rặng đước tận cùng
sau một nụ cười
chúng sinh vạn vật kết thúc Hình Chữ S
sau một nụ cười
Để Tổ quốc hòa hai ta
hân hưởng
sát na
biển trời
giữ hờ mép áo dài bay
lần tràng hạt
kìa
mấy ngón tay
Nam Mô Phật A Di Đà
sơn cùng thủy tận la đà nhân duyên
Phật A Di Đà Nam Mô
sông ngưng bãi cạn hẹn hò thiên dương
4.2.5
[Từ bàn viết xe đò đất mũi Cà Mau…]
… Vào năm 1700 Mạc Cửu người dày công lao đặt nền đắp móng khai phá dẫn đầu biết bao nhiêu đoàn di dân Minh Hương trốn bỏ triều Bắc phương mở các vùng đất mạn tây Cửu Long Giang lập ra bảy thôn xã đầu tiên chiêu mộ dân tứ phương tạo chủ quyền cho xứ cùng trời đầu biển gọi là Hà Tiên kéo dọc từ Phú Quốc qua Rạch Giá đến Cà Mau dần dà quy tụ dân Việt Hoa Chăm Khmer cùng nhau khai hoang mở mang bờ cõi tạo quê hương mới… Từ năm 1777 đất mũi Cà Mau cũng là bến dừng đoàn binh Nguyễn Ánh tháo chạy lưu vong tránh quân Tây Sơn truy sát thảm khốc…[51]
… Có nữ nhi nọ không rõ danh tính xuất xứ thân hình dáng vóc đẹp cong như các nàng tiên thường hiện lên khi bình minh lúc hoàng hôn ven sông biển Hà Tiên
nàng thủ đắc võ quyền vô song khắp xứ trừ phi kẻ đối diện là Mạc minh chủ
nàng sở trường tay cầm giọng ca tuyệt đỉnh với khúc hoài hương vọng lên mỗi đêm thanh chìm trong sóng vỗ táp bờ
kỳ nữ Hoài Hương như là minh chủ vô hình của Hà Tiên xứ mũi
đoản khúc Tình hoài hương như là xứ ca của vùng đất mới thập cảnh vạn nhân…
[… đến bàn viết tệ xá duyên hải Hongcouver[52]]
Người nữ này (không thuộc về Ba Người Nữ mươi mùa thu trước[53])
nữ nhân thường niên của bốn mùa xuân hạ thu đông
của một vóc dáng mảnh cong (không Hình Chữ S)
kéo các xe bao tải túi nilon chất chồng
phế liệu tái sinh
từ bốn-năm chuỗi chung cư chính phủ bảo trợ
những người nữ những người nam những người thuộc về giới tính còn lại của tạo hóa
chờ ăn xong thuốc xong nghỉ xong tập xong thì nằm ngáp
hóng cái ngày giờ nói phũ là chết
(nhưng của đáng tội Ca Nà Điên thì điên khá oách
trong vụ này và kha khá nhiều vụ khác
không hề phũ phàng mà tử tế đàng hoàng với luật lệ xin chết[54] hẳn hoi)
từ hàng chục ngôi nhà xoay quanh hai-ba ngã bốn
(tệ xá chường ca gia ngự bàn viết cũng là một góc not too bad[55])
rất có thể còn từ bốn-năm chủng loại nhà riêng khác…
Dù lu bù lu bu tít mù khét
(trước ngày giờ hành hương Tổ quốc Hình Chữ S)
chường ca gia ta vẫn quyết tâm cao khẩn trương bự kịp thời
góp cho nữ nhân
ba bịch vỏ lon bia (ừa khoản này từ nguồn cảm hứng chường ca đó nha) ngót hai tá vỏ chai rượu cả tá chủng loại sau đêm tiệc khủng rể cưng được vọt tăng chức (dưng mà nghe nói bị sếp lớn đì nói phũ là sói tóc liếc từ dưới lên biết liền tức khắc à là bởi chàng rể cao hơn ông nhạc cả một cái thước)
hoàn thành nghĩa vụ láng giềng tốt[56]
tức là sẩm tối thứ năm hàng tuần siêng để lại vỏ chai rượu lon bia càng nhiều càng tốt kế bên thùng rác
(bình minh sớm thứ sáu công ty vệ sinh thành phố thực thi tiếp)
Bốn-năm tháng qua
bao trận mưa dầm bao cơn bão tuyết
(thế nên nói bảnh hồi hương thực ra cáo lão ta trốn rét)
người ấy vẫn còn kia không đổi lịch trình vững dáng trụ xe
các bịch bao to cao hơn
hay người đang nhỏ đi trong rét buốt
Bốn-năm tháng qua
xòe ngón tay bấm đốt
ối chao đã bao nhiêu tuần ta trốn khất
nợ nghĩa vụ làm một hàng xóm tốt
Kìa
đất nước Trung Hoa đang vĩ đại trở lại MCGA[57]
ở ngoài đại lục bao la
ấy điều cư dân Hongcouver đều biết[58]
Vỹ thanh:
Nếu đây là tiểu thuyết
sẽ có chương kết
kiểu như
… kiểu như
chiều hoàng hôn nọ bí từ tịt tứ
chạy bộ thi sĩ tìm tứ từ (tiện thể trị chứng xương xẩu lâu lâu lỏng lẻo)
chợt dừng gấp
(xém té cái đùng may không sai khớp như bao lần trước)
chính xác như hai cộng hai là tứ
tức là năm trừ một
kìa đằng ấy chính là
nữ nhân
sở hữu cái vóc vững dáng trụ xe
trong bộ võ phục lụa tim tím hoa cà (tất nhiên đâu thể nhìn xuyên thấu)
sân trước
đi các đường quyền Minh Hương[59]
(y chang phim bộ Tàu thi sĩ ngó vô tình mấy trang mạng khi mò tìm từ tứ)
sau khu vườn lấp ló
tòa nhà nhìn ngoài vài năm trước cả vợ chồng con cái nhà chường ca gia
đã chao đảo
trong khi lần mò chương trình địa ốc mua trả góp…
… và kiểu như
tối muộn dù xương xẩu ổn cố vẫn cần dạo vòng vòng tìm thêm từ và chắp tứ
(nhìu từ chắc gì chắp nên tứ hở giời
hỡi thơ rõ khổ một nỗi văn tâm[60])
tiến về nơi đó cách phòng văn nhà ta đường chim bay vài trăm mét
vọng ra ca khúc mà trường ca gia tưởng tượng là bài Tình hoài hương
cho dễ làm trường ca hoặc
sớm thành tiểu thuyết
tùy duyên…
(Khốn khổ khốn nạn cái duyên con chữ cái nghĩa
trường thiên trường kỳ trường đày ải lai rai
mà thây kệ họ Trịnh
lại chịu trách nhiệm
miễn sao
Cực Nam Cà Mau Đất Mũi còn
Trời Nam Đất Việt còn
còn Tổ Quốc Hình Chữ S[61])
[1] Ca dao Việt.
[2] Xt: Ải Bắc Quan và Ải Nam Quan:
* Có 2 thực thể riêng biệt là Ải Bắc Quan và Ải Nam Quan: Cơ sự này dẫn đến 1 hệ quả nhầm lẫn rất khủng về phía dân chúng Việt; không bởi “cậu đánh máy” tầm thường mà do “ông bà” lịch sử và văn chương! Nó xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, chí ít 2-3 thế kỷ qua cùng nan đề Việt-Trung ngàn đời nay. Nói gọn: Ải Bắc Quan là của Việt Nam; Ải Nam Quan là của Trung Quốc! Thế thôi! Chính quyền song phương và các sử gia chính thống đều thấu rõ như một vấn đề đương nhiên. Song le – thậm tiếc! – cho đến tận các năm tháng này, sự nhập nhằng giữa cặp đôi Ải Bắc quan & Ải Nam quan vẫn dằng dai, nhất trong dư luận và hiểu biết của không ít người Việt, dẫn đến hậu quả còn khủng hơn trong công luận, có tính “danh chính ngôn thuận” khi định danh vị trí địa lý liên quan lịch sử quan hệ VN-TQ. (Theo một bản thảo của Người viết).
* Ải Nam Quan/ Trấn Nam Quan/ Mục Nam Quan hoặc Chiêu Đức Đài: Về phía TQ, đó vài trong gần chục tên cổ/cũ/chính thức của tên hành chính hiện nay là Hữu Nghị Quan/友誼關. Nhưng, về phía VN: Do một số thơ ca trong vài trăm năm tới nay cùng các tài liệu chính thống và phi chính thống VN hiện hành vẫn thường viết rằng “lãnh thổ VN trải dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau (sic!)”, dẫn tới hiểu lầm trong đa số người dân Việt là Ải-Nam-Quan-thuộc-lãnh-thổ-VN. Trên thực tế, ải này từng do TQ xây dựng, luôn thuộc về phần lãnh thổ TQ. Theo Công ước Pháp-Thanh 1887, Ải Nam Quan được công nhận là hoàn toàn nằm trong địa phận chủ quyền TQ; đường biên giới VN-TQ tại khu vực này nằm về phía nam Ải Nam Quan chừng mấy trăm mét (300 m?), chứ không phải chạy cắt ngang qua Ải Nam Quan như ở tiềm thức của người VN vẫn bé cái nhầm. Năm 2015, khi thể hiện đường biên giới chủ trương ở đó, VN đã vẽ đường biên giới không qua Ải Nam Quan mà vẽ về phía nam Ải Nam Quan. Còn đường biên giới chủ trương của TQ thì được vẽ lệch về phía nam, đi qua cột Km số 0 trên tuyến đường bộ nối liền hai nước. Với 2 đường biên giới chủ trương khác nhau đó, hai bên tạo thành một khu vực khá rộng, trải dài tây sang đông tuyến đường bộ. Trong khi đàm phán hoạch định đường biên này, hai bên đều không đủ căn cứ pháp lý. Vì vậy đã thống nhất chọn được 1 đường biên giới hoạch định cuối cùng theo nguyên tắc cơ bản 2 bên thỏa thuận, đảm bảo công bằng, thỏa đáng cho cả 2 bên. (À như vậy hổng có chuyện như từng rộ lên một dạo “VN đã nhường Ải Nam Quan cho TQ” (sic!) trong vụ này nha!) Hữu Nghị Quan là cửa khẩu quốc tế lừng danh nằm trên biên giới TQ-VN. Nơi đây thuộc Bằng Tường (Quảng Tây, TQ), tiếp giáp với thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn, VN), có tầm quan trọng rất đặc biệt trong lịch sử giao thương, quân sự và quan hệ Trung-Việt. Cửa ải này cách Bằng Tường (TQ) 15 Km về phía tây và cách Đồng Đăng (VN) 5 Km về phía bắc. [vi.wikipedia.org; “Ải Nam Quan và thác Bản Giốc được phân chia thế nào”, Trần Công Trục, vnexpress.net 31/1/2015)].
* Ải Bắc Quan (cũ)/ Cửa khẩu Hữu Nghị (hiện nay) của VN:
Ải Bắc Quan (Cửa Bắc Quan/Cổng Bắc Quan/Trấn Bắc Quan; hoặc Đài Ngưỡng Đức): Có ít nhất 2 thông tin cổ và tin cậy về 2 thực thể Ải Bắc Quan và Ải Nam Quan: 1) Trên bản đồ Hồng Đức (năm 1490) có vẽ hình một cái đồn để tượng trưng cho Ải Nam Quan với ghi chú là “Ải Nam Quan” nằm ở huyện Văn Uyên trấn Lạng Sơn (VN), tương ứng với “Trấn Nam Quan” của TQ); và tại đấy có 2 đài, đài Chiêu Đức (thuộc về Trấn Nam Quan, TQ) và đài Ngưỡng Đức (thuộc về Ải Nam Quan, VN). Mãi đến năm 1774, Đốc trấn Lạng Sơn đã cho tu sửa, xây lại đài Ngưỡng Đức bằng gạch. Đài Ngưỡng Đức không biết dựng từ năm nào; dường như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh, ngang với đời vua Lê Trang Tông VN. Đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ; các lần trước chỉ sửa chữa qua loa như cũ. 2) Đại Nam Nhất Thống Chí (1882) viết: “Ải Nam Quan là chỗ người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh. Phía bắc cửa có “Chiêu đức đài” của nước Thanh; phía nam có “Ngưỡng đức đài” của nước ta, bên tả bên hữu có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ.”
Vài hình ảnh hy hữu cho thấy, khoảng cuối thế kỷ 19, cổng Ải Bắc Quan là một căn nhà nhỏ một tầng mái, tường xây như trạm kiểm soát, có cửa hình cổng vòm. Ải Bắc Quan nhìn về phía bắc ngay sát phía trước Ải Nam Quan. Về kích thước chỉ bằng 1/10 Trấn Bắc Quan bên TQ xây (kiên cố to lớn, cổng cao hơn nhiều, hai tầng lầu mái). Chú ý thú vị: trong 4 tên gọi cổ/cũ/không chính thức như trên của cửa ải phía VN không hề có “Mục Bắc Quan” tương xứng với tên gọi Mục Nam Quan (Nhìn về phương Nam) của TQ; hẳn là cha ông ta chứng tỏ không (dám) tham vọng “nhòm ngó” phương Bắc! Và, còn một chú ý quan trọng về trang trí dường như chưa thấy lời giải mã: Sau khi bị quân lính Pháp phá sập (năm 1885 trong trận chiến Đồng Đăng với nhà Thanh (TQ), Ải Nam Quan (2 bên bắc-nam, tức là cả Ải Bắc Quan) được nhà Thanh xây dựng lại với tầm vóc to lớn hơn, thẩm mỹ hơn. Ở tường của cổng Ải Bắc Quan trên sát cổng vòm và ngay dưới mái được trang trí bằng một phù điêu nổi tiếng hình hổ (thường gọi là mãnh hổ/hổ phù) với đầu to, hai mắt mở lớn, miệng há nhe manh, quỳ hai chân trước, được nhìn thấy trên cao của mặt ải hướng về phía nam (tức là về phía VN!). Đến khi mang tên Hữu Nghị Quan (1954/1965), kiến trúc mới không còn bao gồm phù điêu này! Như vậy, hình ảnh phù điêu hổ (mãnh hổ) từng xuất hiện ở phần ải là thuộc về phía VN của Ải Nam Quan trước khi bị phá hủy hoàn toàn vào đầu hoặc giữa TK 20.
Cửa khẩu Hữu Nghị (VN): Tương ứng tạo cặp Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị (VN) – Hữu Nghị Quan (TQ). Đó vị trí hiểm yếu bậc nhất, yết hầu của quốc gia, nơi phên giậu bảo vệ bờ cõi VN. Thời phong kiến 2 bên TQ và VN gọi chung bằng các tên chính thức như Ung Kê Quan, Lăng Quan, Đại Nam Quan, Giới Thủ Quan, Trấn Di Quan, Trấn Nam Quan; năm 1953 được đổi tên là Mục Nam Quan; đến năm 1965 phía VN đổi thành Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị như hiện nay. Tại cửa khẩu Hữu Nghị, VN đã cắm cột mốc 1116 cỡ lớn có gắn quốc huy 2 nước. Cửa khẩu Hữu Nghị thuộc xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn (cách trung tâm TP Lạng Sơn 17km về hướng bắc và cách Hà Nội 170km) được nối liền với cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Bằng Tường, TQ). Thời gian mở cửa: 7h00 – 20h00 hàng ngày. Điểm tham quan: Cột mốc 1116: Cột mốc biên giới thiêng liêng nối liền 2 nước Việt-Trung; Lầu Hữu Nghị Quan…
[Ải Bắc Quan và Ải Nam Quan, hinhanhlichsu.org 1/2008; “Ảnh hiếm về Ải Nam Quan xưa: Nơi bang giao giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc”, Nguyễn Duy Chiến, tienphong.vn 9/12/2023; “(1896) Ải Nam Quan của Trung Hoa được xây to, rộng và có tầng lầu phía trên.”, Tiệm ảnh Thanh Hà FB 30/11/2024); vi.wikipedia.org/wiki/Cửa_khẩu_Hữu_Nghị, “Toàn bộ kinh nghiệm đi cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị Lạng Sơn”, luhanhvietnam.com.vn 05/07/2021].
[3] Xt: Nam Man/Man Di: Về mặt lịch sử, nhận thức của các triều đại phong kiến TQ xưa, vùng đất miền Bắc VN ngày nay từng bị coi là thuộc nhóm “Nam Man“ (người mọi rợ phương Nam) trong khái niệm “Tứ Di” (Đông Di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch) quanh vùng trung tâm Hoa Hạ. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp cần nhìn nhận rõ qua các khía cạnh sau: 1). Góc nhìn của TQ cổ đại “Dĩ Hoa vi trung” (lấy văn hóa Hoa làm trung tâm), thường gọi các tộc người không phải người Hán, chưa được “khai hóa” theo chuẩn mực văn hóa của họ là Man Di. Về địa lý, cư dân Việt cổ (một phần Bách Việt) sinh sống ở phía Nam sông Trường Giang (gồm miền Nam TQ ngày nay) và miền Bắc VN thường bị coi là “Nam Man”. Cụ thể, Trấn Di Quan (mang nghĩa “cửa quan nhằm trấn áp bọn người man di”)) là tên gọi chính thức của nhà Minh TQ (cùng thờ nhà Hồ VN) cho Ải Nam Quan; 2). Thực tế lịch sử – dân tộc: Các nghiên cứu di truyền và lịch sử khẳng định tổ tiên người VN hiện nay không xuất phát từ TQ, mà là người bản địa. Về việc bị đồng hóa và chống đồng hóa: Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, TQ đã cố gắng áp đặt văn hóa, luật lệ để biến vùng đất VN này thành một phần của họ. Tuy nhiên, người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng, liên tục nổi dậy giành độc lập; 3). Mối quan hệ thăng trầm: Mặc dù bị gọi là Nam Man, văn minh Việt cổ (như văn minh Lạc Việt) thực chất là 1 trong những nền văn minh lâu đời. Quan hệ Việt-Trung trong lịch sử là sự đan xen giữa xung đột (chống xâm lược) và giao thoa văn hóa (chịu ảnh hưởng của Nho giáo, chữ Hán). Tóm lại: VN ngày nay từng bị coi là thuộc nhóm “Nam Man” trong quan điểm của phong kiến TQ xưa, nhưng đó là nhận định miệt thị và chính trị hóa nhằm hợp thức sự thống trị, mà không nói đúng thực chất nguồn gốc, sự phát triển văn hóa của người Việt. [Google AI].
[4] Xt: “Mình phải như thế nào thì người ta mới thế chứ“/”Mình phải có thế nào người ta mới thế chứ” – câu nói nổi tiếng, triết lý của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhấn mạnh nguyên-quả, trách nhiệm bản thân trước khi đòi hỏi/đánh giá người khác.” (AI Overview); “Câu nói thể hiện ông rất quan tâm cách quốc tế nhìn nhận như thế nào về VN, về ĐCS và về bản thân ông với tư cách TBT. (“Vị thế của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với Mỹ”, BBT Việt BBC, bbc.com/vietnamese 20/7/2024).
[5] Ung Kê Quan: Tên gọi đầu tiên của Ải Nam Quan (do Trung Quốc xây cất từ triều Hán – chậm nhất là trong các năm 25-220 CN).
[6] Xt: “Tam bách niên hậu” – 300 năm sau. [Xt: Cụm từ Hán Việt thường được dùng với câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Du trong bài “Độc Tiểu Thanh ký”: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, thể hiện tri âm tri kỷ, trăn trở về tài phận của chính mình cùng những kiếp người tài hoa bạc mệnh khác].
[7] Xt: Tám tên chính thức cho “Ải Nam Quan” và triều/niên đại Trung Quốc xây dựng: Ung Kê Quan/ 雍雞關 (triều Hán); Đại Nam Quan/ 大南關; Giới Thủ Quan/ 界首關; Kê Lăng Quan/ 雞陵關 (triều Minh 1368); Trấn Di Quan/ 鎮夷關 (triều Minh 5/7/1407); Trấn Nam Quan/ 鎮南關 (triều Minh khoảng từ năm Tuyên Đức thứ 3/ Tây lịch 1428) đến năm Gia Tĩnh 18/ TL 1539); Mục Nam Quan/ 睦南關 (Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 10/1954: và Hữu Nghị Quan/ 友誼關 (CHND Trung Hoa 1/1965). Không thấy tài liệu nào nói việc các triều vua VN tiếp nhận những tên đó ra sao, kể cả với “Trấn Di Quan” là cách gọi kỳ thị, như Ct; nhưng khi gọi địa danh có vị trí hiểm yếu này người Việt hiếm khi dùng chữ trấn, mà là ải/cửa/cổng/quan/mục/… Chữ “Nam” mà người Việt dùng trong “Ải Nam Quan” có thể hiểu là nước Nam (nước phía Nam của Trung Hoa), như chữ “Nam” trong Đại Nam/Việt Nam. Đó là cách gọi khiêm nhường mà không khuất phục. (Hữu Nghị Quan – đã Ct; “Tên gọi Ải Nam Quan nghĩa là gì và từ đâu có tên gọi ấy?”, Như Thương, t-van.net 9/12/ 2019).
Bonus thú vị: Ấy thế mà tên “Ải Nam Quan”/ 隘 南關 không hề có trong 8 tên chính thức nêu trên của TQ đâu, Quý độc giả ơi!
[8] Theo “Đoạn Trường Tân Thanh” – tên gốc của Truyện Kiều của Nguyễn Du (Đoạn trường: Đứt ruột, đau xé lòng; Tân: Mới; Thanh: Tiếng kêu, âm thanh). Tên gọi Trấn Nam Quan nằm trong khoảng thời kỳ bối cảnh của tác phẩm.
[9] Phần lớn tư liệu trong Chương hồi 3.1 theo “Các sự kiện lịch sử gắn với Ải Nam Quan” – đã Ct.
[10] Xt: “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” – kịch của Nguyễn Đình Thi tái hiện giai đoạn lịch sử khi Nguyễn Trãi bị quân Minh giam lỏng (tại Đông Quan/ Hà Nội) để tìm cách chiêu dụ nhưng ông không khuất phục. Vở kịch khắc họa xung đột tư tưởng giữa ôm giữ chữ “trung” cũ kỹ và tư tưởng dùng trí “mưu phạt tâm công”/đánh vào lòng người của Nguyễn Trãi tìm hướng đi cứu nguy cho dân tộc.
[11] Xt: “Liễu Thăng”, vi.wikipedia.org.
[12] Theo thơ Tố Hữu: “Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!” (Bài “Ta đi tới”, thivien.net).
[13] Theo ca từ bài “Làng tôi” của Chung Quân, lyric.tkaraoke.com.
[14] Xt: “Người vàng Liễu Thăng”: Thuật ngữ trong sử sách/dân gian theo thuyết “đền mạng” tướng giặc bị giết. Đó là hình nhân/tượng bằng vàng bạc được triều đình nhà Lê sơ, nhằm giữ hòa hiếu tránh họa xâm lăng, đã chế tạo theo yêu sách của nhà Minh để cống nạp hàng năm, nhằm đền mạng danh tướng Liễu Thăng bị nghĩa quân Lam Sơn chém chết tại Ải Chi Lăng. Lệ cống nạp như “nỗi nhục quốc thể” kéo dài 300 năm, tượng trưng cho món nợ dai dẳng, tiếp tục qua thời Lê-Trịnh và chỉ được bãi bỏ vào năm 1718. “Nợ Liễu Thăng” đã trở thành thành ngữ dân gian Việt. Trên thực tế, việc cống “người vàng thế thân” trong quan hệ Trung-Việt vốn có từ các thời nhà Nguyên khi yêu sách với các triều Trần (TK 13), Hồ và Hậu Trần, để thay thế cho bản thân Quốc vương nước ta. Việc cống người vàng là do các triều đại TQ đòi hỏi trong các thời điểm đặc biệt (thường là buổi đầu tạo dựng 1 triều đại mới ở VN). Ngoài ra, việc nhà Lê sơ cống người vàng cho nhà Minh từng được chuẩn bị trước cả khi Liễu Thăng bị giết (mà chính họ Liễu đã nhận bức thư Lê Lợi gửi khi sắp dẫn quân sang Đại Việt cứu viện. (“Liễu Thăng” – đã Ct; “Cống người vàng thế thân: Từ sử liệu chính thống đến truyền thuyết dân gian”, Nguyễn Thanh Tùng, nghiencuulichsu.com 12/6/2015).
[15] Weekend: Cuối tuần.
[16] Xt: “Hảo lớ”/hảo lơ (tiếng Trung): Phiên âm bồi của từ 好了/hǎo le), là “được rồi”/”xong rồi”/”ổn rồi” dùng để báo sự hoàn tất hành động, kết thúc đề tài, thể hiện sự chấp thuận. (Hảo/ 好: Tốt, đẹp, xong; Lớ/了: Trợ từ biểu thị sự thay đổi, hoàn thành hành động). Thường được người Việt dùng khi giao tiếp với người Hoa, buôn bán (đặc biệt là dân đánh hàng Quảng Châu), hoặc đôi khi nói đùa trên “chợ Phây 4.0”.
[17] Xt: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”/Sông núi nước Nam, vua Nam ở: Câu mở đầu của bài thơ “Nam quốc sơn hà”/Sông núi nước Nam, được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của VN; khẳng định chủ quyền vững chắc, sự tự chủ của nước VN do vua VN cai trị. Thi phẩm bất tử này được cho là của Lý Thường Kiệt hoặc một bài thơ thần.
[18] Xt: Chiến tranh Pháp-Thanh (9/1884 – 6/1885): Cuộc chiến giữa Đệ tam Cộng hòa Pháp và Đế quốc Đại Thanh nổ ra vì Pháp muốn kiểm soát vùng đồng bằng Bắc Bộ VN và con đường nối từ Hà Nội đến Vân Nam (Trung Quốc). Nhà Thanh, ngược lại, muốn ngăn cản sự hiện diện quân sự của Pháp ở Bắc Kỳ (VN), vì điều này sẽ trực tiếp uy hiếp vùng biên giới phía nam của mình. Sâu xa hơn nữa, nhà Thanh muốn nhân cơ hội này để chiếm đoạt hoặc duy trì ảnh hưởng của mình đối với Đại Nam/ VN). Cuộc chiến tranh xảy ra ở Đông Nam TQ, Đài Loan, và miền Bắc VN (Hòn Gai, Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thuận An).
[19] Xt: Chữ Quốc ngữ, đến năm 1885 chưa thông dụng trên toàn quốc. Tình trạng sử dụng phân hóa rõ theo từng miền. Tại Nam Kỳ: Chữ Quốc ngữ bắt đầu được chính quyền thực dân Pháp chính thức ép buộc dùng từ 1/1/1882, và đã được phổ biến trên báo chí (như Gia Định báo) cùng một số sách truyện. Thế nhưng, trong tầng lớp sĩ phu và nhân dân, chữ Nôm và chữ Hán vẫn được dùng chính khi giao tiếp. Thậm chí năm 1885, giới thân hào nhân sĩ Nam Kỳ còn dâng thỉnh nguyện thư lên chính quyền Pháp đòi bãi bỏ chữ Quốc ngữ vì sự “bất tiện” của nó lúc đó! Tại Bắc Kỳ – Trung Kỳ: Năm 1885 có các sự kiện Kinh thành Huế thất thủ và phong trào Cần Vương, Hiệp ước Patenôtre; xã hội còn nhiều vấn đề cần giải quyết sớm; chữ Quốc ngữ hoàn toàn chưa được phổ biến; chữ Hán và chữ Nôm vẫn còn là hệ thống văn tự độc tôn trong giáo dục, thi cử và hành chính của triều đình phong kiến. Tóm lại, năm 1885 chỉ là giai đoạn bắt đầu quá trình cưỡng bách và chuyển giao. Mãi đến đầu TK 20, chữ Quốc ngữ mới thực sự trở nên phổ biến và dần thay thế chữ Hán-Nôm trên toàn cõi VN.
[20] Theo thơ Nguyễn Thị Mắt Nâu (Ải Nam Quan – đã Ct).
[21] Xt: “Quan”/ 關 Hán Việt) trong “Ải Nam Quan” và các từ tương đương ở đây; nghĩa đen: cửa ải, cửa ngõ biên giới, then cài cửa; nghĩa bóng chỉ một địa điểm phòng thủ quan trọng, cửa ngõ giao thông trọng yếu giữa 2 quốc gia (cụ thể Trung Quốc và VN; Nam Quan/ 南關): Cửa ải phía Nam/ cửa ải nằm ở phía nam TQ hướng về phương Nam). Trong bối cảnh lịch sử, “quan” biểu thị ranh giới, chốt chặn quân sự, thương mại quan trọng, tương tự như các cửa quan khác.
[22] Tám tên gọi chính thức của phía Trung Quốc với Ải Nam Quan – đã Ct.
[23] Tổng số các tên chính thức và không chính thức của 2 nước Việt-Trung gọi cặp đôi Ải Nam Quan & Ải Bắc Quan. Ngoài 8 tên chính thức về phía TQ (đã Ct.), theo như Người viết “đếm” chưa đầy đủ thì còn có ít nhất 5 tên/cách gọi khác của bên VN ta như Ải Bắc Quan/Cửa Bắc Quan/Cổng Bắc Quan/Trấn Bắc Quan, Đài Ngưỡng Đức, Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị…
[24] Xt: “Nàm thao” – cách nói đớt, nói lái điệu đà, cố tình viết chệch của “Làm sao”/”Làm thế nào” – tiếng lóng mà giới trẻ VN, nhất là ngoài Bắc, dùng trên “chợ Phây”. Thường mang vẻ nũng nịu, nhí nhảnh, đùa giỡn, mỉa mai nhẹ nhàng, đáng yêu khi trò chuyện bạn bè trang lứa.
[25] “Bingo!” – Trong tiếng lóng, khi ai đó kêu/hô “Bingo!”có nghĩa là họ vừa tìm ra đáp án chính xác, đoán trúng phóc vấn đề, hoặc nhận ra điều gì đó hoàn toàn đúng. Giống như câ “Đúng rồi!”/”Trúng tim đen rồi!” trong tiếng Việt. (Xt: Từ này bắt nguồn từ trò chơi lô tô (Bingo); khi người chơi trên tay có các con số khớp với người điều khiển hô lên, họ sẽ hô “Bingo!” để tuyên bố mình là người thắng cuộc).
[26] “Vui thôi mà”: Câu cửa miệng nổi tiếng, gói gọn triết lý sống ngẫu hứng, tự tại, tinh nghịch của Bùi Giáng. (Xt: Đây là cách Trung niên thi sĩ nhẹ nhõm mỉm cười, bỏ ngoài tai mọi truy vấn, phân tích phức tạp của đời người. Sự tự tại: Trước mọi lời khen chê, lăn tăn của người đời, ông thường chỉ cười, đốt điếu thuốc, nhấp ly rượu mà đáp gọn lỏn: “Vui thôi mà”. Góc nhìn thi ca: Thi ca Bùi tiên sinh từ cánh tay áo rộng bay ra, chứa chất trí tuệ lộng trời động đất và sự bỡn cợt nhẹ nhàng với nhân gian, coi cõi đời như cuộc chơi lớn. Vẻ đẹp giai nhân: Ba chữ này cũng gắn liền với sự si tình mê muội nhưng rất đỗi trong trẻo của chàng dành cho các em tiên nữ trong mộng, nổi bật là kỳ nữ Kim Cương một thuở).
[27] Theo thơ Xuân Sách: “Máu ở chiến trường, hoa ở đây” (Tập “Chân dung nhà văn”, trannhuong.net).
[28] Đã Ct.
[29] Đã Ct.
[30] Những chi tiết, sự việc trong chương hồi này theo “Các sự kiện lịch sử gắn với Ải Nam Quan” (Đã Ct).
[31] Thơ Ngân Giang (“Về bài thơ “Trưng Nữ Vương” của nữ sĩ Ngân Giang”, Nguyên Linh, vhds.baothanhhoa.vn 14/1/2023). Xt: “Kiếp trước tôi là võ tướng, vì giết nhầm một văn nhân nên kiếp này phải làm thi sĩ để trả nghiệp.” – Ngân Giang từng bộc bạch về nghiệp viết của mình.
[32] Toàn bộ trường đoạn trên là phóng tác, rút gọn từ thơ Hoàng Cầm (trong kịch thơ “Hận Nam Quan – Cảnh I”, thivien.net) mô tả trang sử Việt bi hùng khi danh thần Nguyễn Trãi phải uất hận tiễn đưa cha là Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Trung Hoa. Cảnh tượng chia biệt bất tử giữa hai cha con – hai nhân vật lịch sử VN tại Ải Nam Quan đã lấy đi nước mắt, đã làm nóng máu đào bao thế hệ người Việt mà kịch phẩm Hận Nam Quan đã dự phần đáng kể vào thời kháng Nhật và Pháp 1940-1948.
[33] Theo thơ Tố Hữu (Bài “Mục Nam Quan”, thivien.net).
[34] Trường đoạn trên là nguyên văn toàn bộ bài thơ “Trấn Nam Quan”/Qua Trấn Nam Quan của Nguyễn Du; bản dịch của Nguyễn Thạch Giang, thivien.net.
[35] Trường đoạn trên là trích lược nguyên văn thơ Á Nam Trần Tuấn Khải (Bài “Hai chữ nước nhà”, thivien.net)
[36] Đã Ct: “Ải Nam Quan”, chimviet3free.fr.
[37] Chuột máy tính – đã Ct.
[38] Theo thơ Hà Thiên Sơn: “Trên bàn viết Honoré de Balzac có tấm bảng ghi:/ “Những gì Napoléon không chinh phục thế giới bằng/ lưỡi gươm, ta sẽ chinh phục bằng cây viết của mình”/ Balzac lao động như một người khổ sai” (Bài “Miếng da lừa”, vanchuongviet.org 7/5/2026).
[39] Đã Ct.
[40] Xt: Địa linh (từ Hán Việt) – vùng đất thiêng liêng, cảnh quan giang san hùng vĩ, hội tụ tinh hoa khí trời đất; mang đậm màu sắc phong thủy Á Đông, gắn liền lịch sử, tâm linh, thịnh vượng. Địa linh tức là mảnh đất lành, phong thủy tốt, đọng hồn thiêng sông núi; nơi sơn thủy hữu tình/tụ sơn tụ thủy, lưu giữ giá trị văn hóa. Đó không chỉ là khái niệm địa lý, còn là niềm tin gắn kết cảnh quan thiên nhiên và sự phát triển tài trí con người cùng ý nghĩa đặc biệt tại vùng đất đó.
[41] Xt: Mũi Cà Mau – cực Nam trên đất liền VN nằm ở mũi Cà Mau, thuộc xóm Mũi, xã Đất Mũi, tỉnh Cà Mau, với cột mốc toạ độ GPS0001 (cây số 0) mang hình con tàu no gió, vươn mình ra biển. Đó không phải là điểm cố định, vẫn tiếp tục mở rộng do phù sa lấn ra biển hằng năm chừng 70 m. Tên gọi “Cà Mau” bắt nguồn từ tiếng Khmer cổ “Tưk Kha-mau”/ nước đen; mô tả đặc trưng nguồn nước sẫm màu do lá tràm rụng mục tự nhiên xuống sông ngòi. Mũi Cà Mau cũng là nơi duy nhất trên đất liền VN có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ biển Đông vào buổi sáng và lặn xuống mặt biển phía Tây vào buổi chiều. Trong thời kỳ chiến tranh VN, quân đội Hoa Kỳ đã ném lượng lớn bom đạn và rải chất độc hóa học xuống rất nhiều cánh rừng đất mũi Cà Mau. Vào các năm 1990-1998, những khu rừng đất mũi bị khai thác quá mức có diện tích lên tới 5.661 ha; các người phá rừng được ghi nhận là dân tứ xứ kéo về, phần lớn là thương binh, cán bộ hưu trí, bộ đội phục viên, sĩ quan về hưu… [vi.wikipedia.org; Trích bài ký của Nguyễn Tuân (“Ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”, Lê Quang Trạng, tuoitre.vn 28/11/2021); Một số thông tin, cảm hứng về Cà Mau (và Miền Tây Nam Bộ ở chương sau) có được từ tập lịch trình “Tour Cà Mau” (Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ du lịch Vietnam Tourist – Chi nhánh Cần Thơ) cùng trải nghiệm của Người viết vào tháng 2/2026].
[42] Xt: “Đất biết nở, rừng biết đi và biển sinh sôi” – câu ví von đặc trưng về Mũi Cà Mau, nơi dải đất phù sa liên tục lấn biển, rừng đước di cư theo đất, biển cả mang lại nguồn lợi thủy sản phong phú; địa danh tận cùng phía Nam VN nổi tiếng với hệ sinh thái ngập mặn độc đáo.
[43] Xt: Vùng đất mũi Cà Mau chính thức sáp nhập vào lãnh thổ chủ quyền của chúa Nguyễn vào năm 1708 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; khi Mạc Cửu dâng toàn bộ xứ Hà Tiên (gồm cả Cà Mau ngày nay) cho triều đình Đàng Trong, để bảo vệ vùng đất mới khai phá trước sự dòm ngó của quân Xiêm và Chân Lạp.
[44] “Tốt lắm”/”Хорошо!” (tiếng Nga): Trường ca của Vladimir Mayakovsky/ Maia.
[45] Xt: Phi Nhung – giọng ca xuất sắc hàng đầu dòng nhạc dân ca, quê hương, trữ tình (trong đó có bài “Áo mới Cà Mau“), đồng thời được mến mộ bởi tấm lòng nhân hậu khi nhận nuôi 23 trẻ mồ côi ở VN. Thành công từ khi ra hải ngoại, ca sĩ được mệnh danh Nữ hoàng băng đĩa thập niên 1990. Trong nạn dịch Covid-19, cô tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện hỗ trợ y tế tuyến đầu và người dân Sài Gòn. Không may dính bệnh, Phi Nhung qua đời cuối tháng 9/2021 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, để lại nhiều tiếc thương nơi lòng người hâm mộ.
[46] Xt: 2 trích đoạn trên là ca từ bài “Áo mới Cà Mau” của Thanh Sơn (“Lời bài hát “Áo mới Cà Mau” cho những ai chưa hiểu hết tiếng Nam Bộ”, vietnamnet.vn 8/3/2017).
[47] Xt: “Xuân” (và “Huy”) – cách gọi nhau thân mật giữa cặp đôi Xuân Diệu & Huy Cận, được chính 2 thi sĩ dùng trong đời thường cũng như ở vài vần thơ tri kỷ nổi tiếng, như: “Xuân này, Xuân lại có Huy…”
[48] Xt: Chàng Nguyễn – biệt danh, cũng là cách xưng hô trân trọng mà giới văn nhân đương thời dành cho Nguyễn Tuân.
[49] Trường đoạn trên được phóng tác từ “100 năm sinh Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (1926-2026): Mấy mẩu ký ức về giáo sư Nguyễn Tài Cẩn” (Hoàng Dũng, Dũng Hoàng’s Post FB 22/5/2026 & boxitvn.blogspot.com 25/5/2026).
[50] Phóng tác từ tản văn Nguyễn Ngọc Tư (“Kén sương mù”, nguoidothi.net.vn 29/3/2026).
[51] Phóng tác từ “Những người mở đất: Mạc Cửu – Người dâng đất Hà Tiên” (Lê Văn Lan, nld.com.vn 4/12/2022).
[52] Xt: Hongcouver – Từ lóng ghép giữa “Hong Kong” (Hồng Kông) và “Vancouver” (thành phố cảng lớn ở Canada ven biển Thái Bình Dương); thuật ngữ để chỉ ảnh hưởng văn hóa, làn sóng nhập cư mạnh từ Hồng Kông đến Vancouver. Trong các năm 1980s-1990s, nhất là với sự kiện Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc năm 1997, lượng lớn người Hồng Kông đã di cư đến Vancouver. Sự hiện diện của họ đã làm thay đổi đáng kể nhân khẩu học, cảnh quan đô thị, văn hóa của thành phố này, khiến nhiều khu vực mang đậm dấu ấn Á Đông, tạo ra xã hội giao thoa văn hóa Á-Âu độc đáo qua sự phát triển mạnh của các khu vực tập trung người Hoa sinh sống và kinh doanh (như Richmond). Ngày nay, thuật ngữ này đôi khi vẫn được dùng khi giao tiếp hàng ngày, dù sự đa dạng văn hóa Vancouver đã mở rộng ra nhiều cộng đồng nhập cư khác.
[53] Theo thơ/tên trường ca “Ba người nữ một mùa thu” của cùng người viết.
[54] Xt: An tử (Euthanasia)- ở Canada Chương trình Hỗ trợ Y tế trong Cái chết (MAiD) được hợp pháp hóa lần đầu năm 2016, cho phép bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo (nan y/tổn thương không thể hồi phục) yêu cầu bác sĩ hỗ trợ kết thúc sự sống để giải thoát đau đớn, khổ sở tột cùng về thể xác và tinh thần.
[55] Not too bad: Không quá tệ/ Cũng tàm tạm.
[56] Xt: Tổng bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hay sử dụng câu nói “Hàng xóm tốt nên qua lại nhiều”, hoặc “Là bạn bè và hàng xóm, chúng ta nên đi lại nhiều, chăm liên lạc” biểu thị chính sách ngoại giao láng giềng. Ông thường áp dụng châm ngôn này vào các dịp ngoại giao như với VN, Nam Hàn…
[57] MCGA: Nhại theo MAGA khi thay China cho America. MAGA là viết tắt khẩu hiệu chính trị nổi tiếng “Make America Great Again” của Tổng thống Hoa Kỳ D. Trump. [Xt: Hỏi AI 25/5/2026, chỉ có kết quả: MCGA là viết tắt của các lĩnh vực linh tinh như tài chính (Make Crypto Great Again), điện toán (Multi-Color Graphics Array), văn chương (Magnus Chase and the Gods of Asgard), hành chính (Maritime and Coastguard Agency/ Cục Hàng hải và Bờ biển Vương quốc Anh)].
[58] Cảm hứng thời sự của trường đoạn trên từ “Chuyện về hai chuyến thăm: Mối quan hệ đầy tương phản của Tập với Trump và Putin” (A. Arranz, A. Aluckal, H. Huang và V. Kawoosa; Dương Lệ Chi biên dịch, baotiengdan.com 22/5/2026).
[59] Xt: Về võ thuật và quyền pháp của người Minh Hương – Người Minh Hương vốn là người Hoa nhập cư và con cháu của họ sinh sống tại VN; mang theo nhiều nét văn hóa đặc sắc, trong đó có võ thuật, quyền pháp. Các môn phái võ quyền cổ truyền của người Hoa (như Vịnh Xuân Quyền, Thiếu Lâm, Hồng Gia Quyền, Bạch Mi Phái) có rất nhiều bài quyền. Tại khu Chợ Lớn – Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, các đường quyền này đã hòa quyện với võ cổ truyền Việt, trở thành phần di sản văn hóa võ thuật độc đáo của cộng đồng Việt-Hoa.
[60] Xt: Văn Tâm – tùy vào ngữ cảnh, thường được hiểu theo 2 nghĩa phổ biến nhất: 1. Trong văn học cổ Trung Hoa: Là thuật ngữ bắt nguồn từ tác phẩm kinh điển Văn Tâm Điêu Long của Lưu Hiệp. Theo đó thì “văn tâm” (chữ tâm trong văn chương) là sự dụng tâm trí, tâm hồn, tư tưởng của người cầm bút khi sáng tác. 2. Trong giới nghiên cứu VN: Văn Tâm (1928-2005) là bút danh của một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học và phê bình văn học nổi tiếng. Ông là một trong những người tiên phong đánh giá và nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả hiện thực như Vũ Trọng Phụng”. [Google AI] Ngoại đề trữ tình: Còn cái này AI chửa biết đâu: Người viết, vốn may mắn được là học trò mang tên Thủy kha khá cưng của thầy Tâm dạy Văn hồi lớp 10. Thầy tôi đang từ trợ giáo trẻ tài cao mộng nhớn của Đại học Sư phạm oách nhất miền Bắc thời đó bị chuyển xuống trường phổ thông Nguyễn Trãi, Hà Nội, gõ đầu trẻ ranh. Đó chính là đoạn trường văn nghiệp Nhân văn – Giai phẩm của người (sau Đổi mới thầy thăng hoa khắp văn đàn), còn với đám trò chúng tôi lại là cơ may lớn… Trở lại chữ “Văn Tâm”, Người viết cũng từng có dịp góp bài tham luận một hội thảo oách “Văn học hải ngoại: thành tựu và tiềm năng” – California, 27/1/2007, trong đó có đoạn tưởng nhớ Thầy qua chữ “Tâm Văn”. Là trữ tình ngoại đề, không dẫn cụ tỷ tên bài, địa chỉ trang mạng rườm rà. (Quý bạn đọc nào thấy thích, cứ hỏi bạn AI biết liền. Cảm tạ ạ)].
[61] Xt:
* “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”. Đó là phát ngôn nổi tiếng của nhà văn hóa Phạm Quỳnh về Truyện Kiều, khẳng định sức sống mãnh liệt ở kiệt tác này gắn liền với vận mệnh ngôn ngữ và dân tộc VN. Câu nói được Phạm tiên sinh trình bày trong diễn thuyết bằng quốc văn tại lễ kỷ niệm giỗ đại thi hào Nguyễn Du tại Hà Nội 8/12/1924.
* Về các công trình mới (đường giao thông, bảo vệ biển đảo) ở đất Mũi Cà Mau:
Nổi bật nhất về cơ sở hạ tầng là dự án giao thông (cầu vượt biển) ra đảo Hòn Khoai và cảng tổng hợp lưỡng dụng được khởi công 19/8/2025, dự tính hoàn thành cuối 2028, với tổng vốn đầu tư 25.700 tỷ đồng (982 triệu USD): Tuyến đường vượt biển ra đảo Hòn Khoai (Cầu và đường vượt biển dài 18km kết nối đất liền Đất Mũi ra cụm đảo này do Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng thi công, ứng dụng kỹ thuật chịu lực cao trước môi trường nước mặn; Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai (Xây dựng đồng bộ cùng tuyến đường ra đảo để phát triển kinh tế biển kết hợp an ninh quốc phòng); Cao tốc Cà Mau – Đất Mũi (Thực hiện đồng bộ trong loạt dự án kết nối giao thông huyết mạch xuống cực Nam Tổ quốc). Việc bảo vệ biển đảo, an ninh quốc phòng với cụm đảo tiền tiêu Hòn Khoai nằm trong sự hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân, gắn kết Hòn Khoai với Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc. Với giải pháp kỹ thuật chống sạt lở, các công trình áp dụng vật liệu bê tông đặc biệt, nền móng vững chắc bảo vệ hạ tầng trước tác động khắc nghiệt của sóng gió biển Tây Nam. Cụm đảo tiền tiêu nằm ở phía Đông Nam mũi Cà Mau, thuộc xã Đất Mũi, gồm 5 đảo (đảo Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Go, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ) với đảo Hòn Khoai là lớn nhất, có điểm cao nhất 318m so với mực nước biển, địa hình núi đá hiểm trở, có nguồn nước ngọt quanh đảo, hệ sinh thái đa dạng.
Phát triển lục địa cực Nam trong kỷ nguyên mới: Ngày 19/11/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn công tác TW đến thăm, làm việc với các đơn vị quân đội và Đảng bộ, chính quyền tỉnh Cà Mau tại đảo Hòn Khoai. Cùng đi có UVBCT, BTTWĐ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Tổ chức TW; Bùi Thị Minh Hoài, Chủ tịch UBTW Mặt trận Tổ quốc VN; các UVBCT: Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Hòa Bình, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Thành ủy Hà Nội; cùng các UVBCT, UVTWĐ, lãnh đạo các ban, bộ, ngành TW, lãnh đạo 2 tỉnh Cà Mau, An Giang và Quân chủng Hải quân, Cảnh sát biển VN, Biên phòng VN, Quân khu 9… Ông TBT nhấn mạnh, chỉ rõ, lưu ý rằng xây dựng Đường giao thông ra đảo Hòn Khoai và Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai sẽ: 1- Góp phần hình thành hệ sinh thái hạ tầng hoàn chỉnh, hiện thực hóa khát vọng vươn ra biển lớn của Cà Mau – vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, mở ra tầm nhìn mới cho phát triển “lục địa cực Nam”. Về mặt kinh tế, Hòn Khoai sẽ là điểm nối quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, giảm chi phí vận chuyển, logistics, giảm tải cho hệ thống cảng TP.HCM và khu vực Đông Nam Bộ, đưa nông-thủy sản xuất khẩu ra thẳng tuyến hàng hải quốc tế, mở ra không gian phát triển mới cho Cà Mau, khai thác tối đa tiềm năng biển, khả năng phát triển kinh tế địa phương, tiếp tục thúc đẩy công nghiệp chế biến và dịch vụ logistics chất lượng cao, hình thành cửa ngõ giao thương quốc tế mới của VN; 2- Tăng ý nghĩa chiến lược của cụm đảo này trong việc bảo vệ chủ quyền vùng biển đảo Tây Nam và hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn; 3- Tạo nên công trình tiền đồn chiến lược mới, có ý nghĩa đặc biệt cả về phát triển kinh tế-xã hội-quốc phòng-an ninh, do đó cần tập trung cao nhất nguồn lực, bảo đảm công trình thi công đúng tiến độ, chất lượng cao.
Riêng với công trình đảo Hòn Khoai, Tổng Bí thư đề nghị toàn lực lượng trên công trường làm việc theo tinh thần “Hòn Khoai là trọng điểm chiến lược quốc gia”; cảng biển và cầu vượt biển không chỉ phục vụ dân sinh, kinh tế, mà còn là tuyến trụ quốc phòng-an ninh cực Nam Tổ quốc. Vì vậy, tiến độ nơi đây không chỉ là tiến độ của dự án, mà là tiến độ của niềm tin nhân dân, uy tín Nhà nước và trách nhiệm với tương lai đất nước; không chậm 1 giờ, không lùi 1 bước, không để bất kỳ mắt xích nào làm trì trệ tiến độ chung. Tổng Bí thư nhấn mạnh, Hòn Khoai không chỉ 1 công trình – đó là lời thề của cả quốc gia, là bước tiến của một Việt Nam khát vọng và tự cường. Nhiệm vụ lớn, thời gian gấp, điều kiện khắc nghiệt nhưng tinh thần VN chưa bao giờ khuất phục: khó khăn chỉ là phép thử, sóng gió chỉ là cửa ải, ý chí mới là sức mạnh quyết định. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, công nhân trên đảo hãy khắc sâu điều này: mỗi nhịp cầu, mỗi cọc biển – mỗi dấu son của Tổ quốc! Gian khó không được chùn chân. Biển sâu, sóng cao không cản được ý chí. Bởi chúng ta đang dựng nên không chỉ cảng biển, mà là thế đứng của đất nước trên biển lớn; không chỉ mở đường ra đảo mà đang mở đường cho tương lai VN. TBT lưu ý, tuyệt đối không lơ là nhiệm vụ phòng thủ. Cùng với xây dựng hạ tầng, mọi lực lượng phải duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, bảo đảm an ninh công trường, an toàn lực lượng và chủ động kiểm soát mọi tình huống trên biển. Hòn Khoai là điểm trụ chiến lược; chỉ cần 1 phút sơ suất có thể đánh đổi bằng nhiều năm nỗ lực. Tổng Bí thư yêu cầu lãnh đạo tỉnh phải thường xuyên có mặt tại hiện trường, phân công lãnh đạo kịp thời động viên tinh thần, bảo đảm điều kiện vật chất cho cán bộ, chiến sĩ, kỹ sư, công nhân. Tinh thần và vật chất phải đi cùng nhau; chăm lo tốt cho lực lượng trên đảo chính là chăm lo cho tiến độ, cho chất lượng công trình, cho an ninh nơi tuyến đầu Tổ quốc. Tổng Bí thư Tô Lâm mong muốn quyết hoàn thành tiến độ; nhấn mạnh hãy xây dựng cảng nhanh hơn sóng, bắc cầu vững hơn đá, mở lối ra khơi bằng ý chí thép của người Việt Nam. Để mai này, khi Tổ quốc nhìn về cực Nam, khi lịch sử gọi tên Hòn Khoai, sẽ nghe thấy: Một Hòn Khoai vươn mình – Một Việt Nam vươn tầm Hình Chữ S.
[Google AI; “Giữ vững tiến độ thi công cầu vượt biển ra đảo Hòn Khoai”, baocamau.vn 17/6/2026; “Tổng Bí thư: Phát triển cụm đảo Hòn Khoai – bước tiến của một Việt Nam khát vọng và tự cường”, vietnamnet.vn 19/11/2025).